Đọc thơ Xuân

26 Tháng Giêng 201911:27 CH(Xem: 430)

Đọc thơ Xuân

Trần Doãn Nho/Người Việt

blank
Sắc mai vàng đón Tết. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Trong ngôn ngữ, có lẽ không có chữ nào gợi nên những điều tốt đẹp bằng chữ “xuân”: nắng xuân, mưa xuân, chiều xuân, đêm xuân, ngày xuân, hoa xuân, vườn xuân, sắc xuân, thanh xuân, tuổi xuân, hồi xuân, nghênh xuân, du xuân, tình xuân, đón xuân rồi những là bến xuân, phiên gác đêm xuân, nhớ một chiều xuân…

Xuân nào cũng gắn liền với hy vọng, với sự sáng sủa, với sự tươi vui, nồng ấm và sức sống.

Tự điển Hán-Việt Thiều Chửu diễn tả chữ “xuân” như sau: “Xuân là đầu bốn mùa, muôn vật đều có cái cảnh tượng hớn hở tốt tươi, cho nên người ta mới ví người tuổi trẻ như mùa Xuân mà gọi thì tuổi trẻ là thanh xuân 青春 xuân xanh, ý thú hoạt bát gọi là xuân khí 春氣, thầy thuốc chữa khỏi bệnh gọi là diệu thủ hồi xuân 妙手回春.” Xuân còn có nghĩa là rượu, cốc rượu đầu Xuân; thời nhà Chu bên Tàu, cứ đến tháng trọng Xuân 仲春 (Tháng Hai) thì cho cưới xin, vì thế mới gọi các con gái muốn lấy chồng là hoài xuân 懷春.”

Chả thế mà nói đến “thơ Xuân” hay “nhạc Xuân,” dù chưa đọc, chưa nghe qua cũng đã cảm thấy vui vẻ, rộn ràng. Xuân, do đó, bao giờ cũng hàm nghĩa tích cực và lạc quan. Hãy nghe Nguyễn Du phác họa mấy nét mùa Xuân:

“Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.”

Én bay, nắng rực rỡ, cỏ non xanh, cành hoa trắng, hình ảnh nào cũng tươi, đẹp, sáng sủa.

Với Hồ Xuân Hương, xuân gắn liền với xanh, xuân là xanh: xuân xanh. Và cũng gắn liền với cái trong trắng, trinh nguyên của người thiếu nữ mới lớn: tờ giấy trắng. Chả thế mà thời gian còn son trẻ của các cô gái được gọi là “xuân thì,” “đương xuân.”

“Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình
Chị cũng xinh mà em cũng xinh
Đôi lứa như in tờ giấy trắng
Ngàn năm còn mãi cái xuân xanh.”

Nguyễn Bính về sau này cũng cho là “xuân” thì đi với “xanh”:

“Mùa xuân là cả một mùa xanh
Giời ở trên cao, lá ở cành”

Với Đoàn Văn Cừ, đó là cảnh làm thơ và viết câu đối ngày Tết:

“Một thầy khóa gò lưng trên cánh phản
Tay mài nghiên hý hoáy viết thơ xuân
Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm
Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ”

Còn Anh Thơ, xuân là cảnh sống động ngoài đường làng:

“Ngoài đường ngõ bùn lầy theo nước chảy
Thằng cu con quần đỏ cưỡi lưng bà
Các cô gái đội vàng hương ôm váy
Miệng tươi cười mừng tuổi những người qua”
(Ngày Tết)

Hàn Mặc Tử ví von thời điểm đẹp nhất của mùa Xuân với trái cây chín tới qua cái tựa đề: “Mùa Xuân Chín.” “Chín” ở đây là viên mãn, tròn đầy:

“Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang”

Chín ngoài trời mà cũng là chín ở trong lòng những cô thiếu nữ:

“Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi;
-Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…”

Nguyên Sa lại thu gọn mùa Xuân vào một chỗ, đó là hình ảnh của “em,” người yêu.

“Mùa xuân em mặc áo vàng,
Ở trong thơ cổ chim hoàng hạc bay.
Em vừa xoay nhẹ vai gầy,
Nhìn coi vũ điệu vào đầy giấc mơ.
Nhìn coi chỗ cuối bài thơ,
Nụ hôn màu đỏ trời cho rượu đào.
Anh nhìn em mới bước vào,
Nhìn xuân, xuân cát tiếng chào đầu năm.”
(Thơ Xuân Áo Vàng/Nguyên Sa)

Xuân là “em.” “Em” là xuân. Nói cách khác, chính tình yêu là mùa Xuân.

Thanh Tâm Tuyền có một cách hình dung khác. Xuân là Tháng Giêng. Mà Tháng Giêng thì cây cỏ “hiện thành người,” là “cỏ non dại dột,” “cây leo yếu đuối.” Mùa Xuân gắn liền với cái non, tơ, yếu, mới chớm:

“Người ta bảo đêm tháng giêng cỏ cây hiện thành người
Anh bảo em chúng ta hãy là
Những cây leo yếu đuối
Những cỏ non dại dột
Mùa xuân đòi em trong quấn quít chờ đợi”

(Đêm/Thanh Tâm Tuyền)

Mùa Xuân cũng là con thỏ hồn nhiên chạy trên cỏ sắc. Xuân biến tóc thành miệng: chuỗi cười, biến  đôi môi thành lá và biến nụ hôn thành thành sao: chòm hôn.

“Những bước chân thỏ rừng
Chạy trên cỏ sắc
Sợi tóc đen như một chuỗi cười
Trên chúm môi lá biếc
Những chòm hôn vội vàng
Làm những vì sao đổi ngôi
Anh muốn làm mới tình yêu”
(Bài Thơ Của Tháng Giêng)

blank
Mang Xuân đến mọi nhà. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Trong lúc đó, từ căn nhà rất đẹp của mình ở Bellevue, tiểu bang Washington, Trần Mộng Tú phác họa đôi nét chấm phá rất riêng về Xuân:

“Khi em nói cho anh nghe về con dốc cạnh nhà
con dốc nhìn xuống hồ Sammamish với dòng nước trong veo
những chiếc thuyền nhỏ đang căng lên những chiếc buồm
vải trắng
giải núi xanh như một nét mày thiếu nữ
vẽ một đường dài đến tận chân mây
làm cho trái tim em đập sai một nhịp
(…)
Em biết là mùa xuân đã dọn vào
ở hẳn với em”
(Mùa Xuân và Thơ Thanh Tâm Tuyền)

“Mùa xuân đã dọn vào ở hẳn với em,” nghe nhẹ nhàng nhưng đầy quyến rũ!

***

Nhưng đừng tưởng mùa Xuân bao giờ cũng vui, cũng tươi sáng, cũng đầy hy vọng. Trong nhiều trường hợp, Xuân chẳng phải là Xuân: Xuân sầu.

Chế Lan Viên, khi vẫn còn là nhà thơ tự do thời tiền chiến, đã từng nhìn mùa Xuân bằng một cái nhìn vô cùng tiêu cực:

“Tôi có chờ đâu có đợi đâu
Đem chi xuân lại gợi thêm sầu
Với tôi tất cả đều vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau…”

Buồn, bi quan, tuyệt vọng! Cả hơi thơ lẫn ý thơ như một phủ nhận, đúng hơn, một nghịch lý toàn diện với hai chữ “mùa Xuân!” Vì sao? Nghèo. “Có một người nghèo không biết tết/ Mang lì chiếc áo độ thu tàn!” Nó khiến ta nhớ đến những bài thơ Tết độc đáo của Trần Tú Xương:

“Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo
Tiền bạc trong kho chửa lĩnh tiêu
Rượu cúc nhắn đem, hàng biếng quẩy
Trà sen mượn hỏi giá còn kiêu”

Một cách trào lộng chua chát về cái nghèo và mùa Xuân!

Nếu cái nghèo đã đập nát đi hình ảnh mùa Xuân thì chiến tranh lại càng biến mùa Xuân thành bi kịch.  Trịnh Công Sơn mô tả một buổi sáng mùa Xuân thời còn chiến tranh:

“Một buổi sáng mùa xuân
Một đứa bé ra đồng
Đạp trái mìn nổ chậm
Xác không còn đôi chân
Một buổi sáng mùa xuân
Ngực đứa bé tan tành
Ngàn hoa đồng cỏ nội
Cúi xuống nhìn con tim.”

Thật thảm thiết! Nhưng thảm thiết hơn nữa là cảnh xuân Mậu Thân ở Huế khi bộ đội Cộng Sản tiến vào đánh phá. Xuân Mậu Thân trở thành một mùa Xuân chết, qua lời ca cũng của Trịnh Công Sơn:

“Xác người nằm trôi sông
Phơi trên ruộng đồng
Trên nóc nhà thành phố
Trên những đường quanh co”

Chiến tranh chấm dứt, trong lúc những kẻ chiến thắng ồn ào ca ngợi mùa Xuân “đại thắng” thì hàng triệu người lại khăn gói vào tù. Xuân bây giờ là Xuân tù. Xin đọc vài đoạn trong bài thơ “Tháng Chạp Buồn,” một bài thơ tù của Tô Thùy Yên, được tác giả tìm thấy thời gian gần đây và đưa vào tuyển tập thơ mới vừa xuất bản của ông:

“Tết này con vẫn chưa về được
Chân mỏi còn lê nặng kiếp tù
Con nghĩ mà đau muôn nỗi nhớ
Chín năm lòng bạc những thiên thu
(…)
Trong ấy mùa xuân có đến không?
Mùa xuân hoa nở má em hồng
Mùa xuân áo mới như hy vọng
Nắng mật ngời lên ánh mắt trong

Ở đây có lẽ xuân không đến
Rừng núi chưa tan giấc não nề
Thương nhớ tràn như con lũ máu
Lòng anh đã vỡ những con đê.
(…)
Ôi cánh diều băng mùa hạ cũ
Xương tàn còn đọng ngọn tre cao
Đến nay trời nổi bao lần gió
Con tưởng oan hồn vật vã đau

Tết này cha vẫn chưa về được
Đành hẹn cùng con tết khác thôi
Con nhớ để dành cây pháo cũ
Để dành một chút tuổi thơ vui.”

Thật thấm thía cảnh mùa Xuân ở trong tù!

***

Xin kết thúc bài viết bằng một thứ xuân khác, quen mà khá lạ, không vui cũng chẳng buồn của nhà thơ tình yêu Trần Mộng Tú.

“Đã lâu quá anh không về gõ cửa
lồng ngực em. Trái đỏ vẫn còn nguyên
(…)
Em mở áo cho xuân coi lồng ngực
trái tim em mảnh vườn cũ quê nhà
cành mai chiết tay ai còn in dấu
thiều quang ơi! Hoa nhớ đến xót xa

Em mở áo cho xuân coi lồng ngực
trái tim em như một ngọn hải đăng
lửa sinh diệt thắp hoài không dám tắt
bờ bến nào mà cá vẫn bặt tăm

Đã lâu quá anh không về gõ cửa
lồng ngực em. Trái đỏ vẫn còn nguyên”
blank

Trong thơ ca xưa nay, ít khi ta thấy có nhà thơ nào trải lòng mình với “xuân” đến như thế.

Bâng khuâng và đầy quyến rũ! 

Trần Doãn Nho NV

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Ngụ Ngôn Mẹ - (Irene Temple Bailey) Người mẹ trẻ đặt chân trên con đường đời.“Đường còn xa lắm không?” Bà hỏi. Người dẫn đường trả lời: “Còn xa lắm, và đầy chông gai nữa . Bà sẽ già cỗi trước khi đi đến cuối con đường. Tuy vậy, cái cuối cùng bao giờ cũng tốt đẹp hơn lúc khởi đầu”. Nhưng người mẹ trẻ tỏ ra sung sướng. Bà không tin rằng lại có điều gì tốt đẹp hơn những năm tháng bà được làm người mẹ. Vì vậy, bà thản nhiên vui đùa với các con, bẻ cho chúng những bông hoa tươi thắm bên đường, tắm chúng trong những dòng suối trong mát. Nhìn những tia nắng mặt trời nhẩy múa xung quanh con mình, bà mẹ trẻ cảm thấy cuộc sống thật tuyệt vời, bà kêu lên: “Liệu còn có điều gì đáng yêu hơn cuộc sống này nữa không?”
Tháng Năm, tháng Hoa dâng kính Đức Mẹ lại về, làm tôi nhớ đến Mẹ tôi và liên tưởng đến một kỷ niệm đẹp thời niên thiếu. Hồi đó, mỗi năm đến tháng Hoa, đối với tôi là cả một tháng tìm tòi sáng kiến để trang trí bàn thờ Đức Mẹ. Mẹ tôi giao “công tác” trong tháng Năm cho tôi là trang trí bàn thờ, chưng hoa đèn nến cho bốn lần đọc kinh dâng kính Đức Mẹ tại nhà tôi. (Post 4/5/2013)
Bài viết được đăng lần đầu tiên trên tờ Cosmopolitan vào tháng 8/2004 với tựa đề “Cô ấy có con với kẻ hãm hiếp mình”. Câu chuyện kể về cuộc đời của Jora Trang – một phụ nữ gốc Việt có thai với kẻ hãm hiếp mình năm 12 tuổi.
Mẹ tôi ra đi vào đầu mùa Xuân 2019, khi vạn vật vừa bừng tỉnh giấc sau những đêm dài ngủ Đông. Ngoài kia trăm hoa khoe sắc đua nở dưới ánh ban mai rực rỡ, mẹ tôi như đang ngủ giữa rừng hoa hương thơm và tươi đẹp đủ sắc màu. Nhưng mẹ ơi! Nơi đây không phải hội hoa đón xuân mà nơi nhà quàn âm u, lạnh lẽo của mấy chục vòng hoa tang tiễn biệt thơm mùi nhang khói, và tiếng than khóc vang lên của 8 người con mất mẹ.
Chúng ta thường được nghe những lời tạ tội muộn màng, những ăn năn, ray rứt không còn cơ hội sửa chữa, những tiếc thương cho dẫu “có xót xa cũng hoài mà thôi.” Vì mẹ đã đi rồi. Đã thiên thu khuất bóng. Đối với mọi đứa con, nên hay hư, khi không còn mẹ nữa mới ngộ ra đại dương bao la rồi cũng cạn, non cao sừng sững giữa đất trời rồi cũng hao mòn.
Lý Quang Sơn - April 22, 2015 - Sắp 30/4, em lại nhớ lại hôm em bị bắt cóc đêm 28/3 và bị giam mấy ngày vừa rồi. Sau khi làm việc với em 2 ngày, nhận lại là sự bất hợp tác và những câu trả lời "không và không" của em. Các cán bộ ANĐT quay sang tâm sự ngoài lề với em, dĩ nhiên là những lời tâm sự này không ghi âm ghi hình hay ghi biên bản gì, và em cũng chẳng ngần ngại khi nói ra quan điểm của mình. :-)
Chuyện trầu cau là một cổ tích thời thượng cổ, rất quen thuộc với người Việt, được kể đi kể lại nhiều lần, có nhiều dị bản khác nhau, nên tốt nhứt là ôn lại chuyện trầu cau qua lời thuật đầu tiên trong sách Lĩnh Nam chích quái xuất hiện vào thế kỷ 15. Lĩnh Nam chích quái là sách góp nhặt những chuyện quái đản ở vùng đất phía nam núi Ngũ Lĩnh, ý chỉ vùng cổ Việt. Sách do một tác giả khuyết danh, hay có thể do Trần Thế Pháp soạn. (Không rõ năm sinh và năm mất của Trần Thế Pháp, chỉ biết ông là một quan chức trong tàng thư các.)
Miền Tây quê tôi đâu đâu cũng có dáng của những cây gòn. Gòn mọc ở hàng rào, gòn hiện diện đâu đó xen lẫn giữa những vườn cây trái. Gòn còn ban tặng cho người dân quê một đặc sản ngọt lành: mủ gòn. Thật là tuyệt vời nếu giữa những ngày hè oi bức mà được thưởng thức một ly mủ gòn ướp đá nhuyễn cho thêm một ít đường cát, ngon "bá chấy bồ chét" luôn.
Từ thời dựng nước dân tộc Việt Nam luôn luôn có truyền thống chiến đấu chống ngoaị xâm dành độc lập bảo vệ quê hương, trong quá trình đó người phụ nữ cũng đã đóng góp rất đáng kể, tiêu biểu là cuộc khởi nghiã của Hai Bà Trưng (40-30 trước CN) và Bà Triệu (năm 248) với những chiến tích oai hùng trong lịch sử Việt Nam. Những thế hệ kế tiếp các bậc nữ lưu cũng giúp việc nước, lo việc nhà và đã đóng góp cho lâu đài văn hóa dân tộc như các các nhà thơ nổi tiếng: Đoàn Thị Điểm dịch giả Chinh Phụ Ngâm khúc của Đặng Trần Côn, Ngọc Hân công chúa với Ai Tư vãn. Lưu thị Hiền (bà Phủ Ba) Ngô Chi Lan Ỷ Lan Phu nhân, Huyện Thanh Quan, Sương Nguyệt Ánh…, trong đó nữ sĩ Hồ Xuân Hương ở thế kỷ thứ 18 nổi tiếng là Bà Chúa Thơ Nôm [1]
Bà tôi mất khi tôi mới lên 10. Ngày ấy trẻ trâu, tôi chẳng hiểu nhiều về sự đời, lại còn sợ khi ở gần người mới qua đời. Bố mẹ bảo trẻ con biết cái gì, ở nhà lo coi nhà, học hành đi. Ngày ấy cũng muốn đến thăm bà lắm. Ngày bà mất, tôi cứ nghĩ đến bà suốt, cả đêm không ngủ được. Chỉ vì muốn đến nhìn bà lần cuối. Vậy mà tôi cứ sợ. Đến sau này, mỗi lần gặp những bà cụ, ông cụ chạc tuổi bà tôi khi trước, mỗi khi thấy bạn bè kể về những người bà, người ông của mình, tôi mới thấy đời mình thiếu cái gì đó. Bà cứ khó khó thế nào ấy, và tôi cảm thấy khó gần bà ghê gớm. Bà hay chép miệng, hay thở dài và đôi khi khó tính.
Bảo Trợ