Nguồn Gốc Món Phở

09 Tháng Chín 20191:33 SA(Xem: 831)

Nguồn gốc món Phở


* Trong Tự điển tiếng Việt - Bồ đào Nha - La tinh của Alexandre de Rhodes xuất bản năm 1651 không có từ "Phở". trong Tự điển Huỳnh Tịnh Của (biên soạn năm 1895) và Tự điển Genibrel (biên soạn 1898) cũng không có từ Phở . Danh từ Phở được chính thức ấn hành lần đầu trong cuốn Việt Nam tự điển (1930) do Hội Khai Trí Tiến Đức khởi thảo và giảng nghĩa: "Món ăn nấu bằng bánh bột gạo thái nhỏ với nước dùng bằng thịt bò hầm".

* Nhà Văn Nguyễn Công Hoan từng viết : “ Năm 1913… tôi trọ số 8 Hàng Hài…thỉnh thoảng, được ăn phở (hàng Phở gánh rong). Mỗi bát 2 xu (có bát 3xu, 5 xu)”. Phở rong bắt đầu thịnh hành nên bị chính quyền đánh thuế: “…họ phải mua hai hào tem thuế mỗi ngày. như vậy có thể xem Phở xuất hiên khoảng giữa những năm 1900 đến 1913

* . Người Việt ngày xưa 99% là nông dân, họ coi Bò là loài gia súc thân thương và hữu ích (Sức Kéo) nên không ăn thit Bò! vì thế nói quê hương Phở bò ở Nam định miền Bắc là không hợp lý
ganh pho
Chuyện là :
Năm 1910, nhiều thanh niên Vietnam cả miền Bắc lẫn miền Nam đi lính cho Pháp. Họ phải sang mẫu quốc để phục vụ một thời gian, trong số đó có một người từng làm phụ bếp cho Toàn quyền Saigon tên Huỳnh. Đơn vị Ông Huỳnh đóng quân ở Marseille và Ông được giữ chức Bếp trưởng của binh đoàn toàn lính người An Nam.

Sáng nào Ông Huỳnh cũng ra lệnh đốt bếp lò thật sớm bằng cách hô to: " Feu! Feu ! "có nghĩa là nổi lửa lên! để nấu súp thịt bò cho binh sĩ ăn điểm tâm với bánh mì khô. Thấy binh sĩ người Việt bỏ ăn sáng hơi nhiều Ông Huỳnh bèn nghĩ ra một món mới, hy vọng anh em binh sĩ An Nam sẽ cảm thấy dễ nuốt hơn, Sau khi được các "Xếp Tây" cho phép, Ông bèn lấy nước Súp bò của Tây... cho hầm chung với quế, hồi, gừng,. Riêng" bánh tài phảnh" mua của người Tàu bán ở Khu Chinois rồi Ông Huỳnh nêm thêm nước mắm vào Soupe cùng với hành... ngò rí ... hành tây ... cho hợp khẩu vị Việtnam.

Tuyệt vời thay, Ở xứ lạ quê người, buổi sáng trời lạnh như cắt da, mà lại được ăn một bát súp "hù tíu bò" nóng hổi ngào ngạt đậm mùi quê hương thay vì ăn bánh mì Tây quá ư nhạt nhẽo! binh sĩ An Nam ủng hộ Chef Huỳnh hết mình ... Nấu bao nhiêu cũng hết! Các Sĩ quan Pháp thấy vậy đòi ăn thử, ai cũng tấm tắc khen ngon rồi thắc mắc "Tên món này là món gì mà sáng nào Monsieur Huỳnh cũng ra lệnh Feu Feu vậy?" Không chần chừ Ông Huỳnh trả lời : Thưa Xếp tên nó là Phở (Feu) đấy!


".. . PHỞ ra đời năm ấy - năm 1910 ... được Tây lẫn Ta yêu thích và chết tên "Feu" từ đó... Khi muốn ăn , Sĩ quan Tây chỉ cần nói "Feu Feu" là có tô phở bò hầm kiểu An Nam nóng hổi khói bốc nghi ngút.. . theo gió thơm lừng cả doanh trại
Nhiều binh lính An Nam nhà ở Hanoi sau khi giải ngũ về đã lấy Phở gánh với tiếng rao: Feu ... ớ ... làm kế sinh nhai, thực khách là lính Tây và kiều dân Pháp. Dân Hanoi cũng ăn thử và "mê tít" món Feu từ đó!

- Ở Dalat năm 1930 có phở Gare xe lửa là tiêm Phở Bò đầu tiên của Dalat do con Ông Huỳnh (Chef) làm chủ chữ Tô Xe lửa (Tô lớn) từ đây mà ra. Phở Gare Dalat sau 1960 dời vế Phú Nhuận Saigon lấy tên là Phở Bắc Huỳnh

- Ở Saigon trước năm 1940 có tiệm Phở Turc là tiêm Phở đầu tiên Chủ tiệm cũng là dân đi lính Tây giải ngũ về, Ông này nói tiếng Pháp giỏi nên có nhiều khách Tây đến ăn ...
Viết theo lời kể của Ông Võ Văn Côn Nguyên là Chef Bếp Việt của Vua Bảo Đại


Chú thích :
Kể từ đầu thế kỷ 20 đến nay đã có nhiều tranh cãi về nguồn gốc ra đời của Phở. Tuy vẫn còn bất đồng về nơi xuất xứ thực sự hay thời điểm ra đời nhưng hầu hết cùng chung quan điểm là Phở được khai sinh trong thời Pháp thuộc, ở giai đoạn người Pháp bắt đầu đẩy mạnh khai thác thuộc địa ở Việt Nam. Có thể xem Phở là một trong những ví dụ đặc trưng cho khái niệm Bricolage (lai ghép) mà các nhà nghiên cứu văn hóa ẩm thực dùng để chỉ món ăn thiên hướng lai ghép (kết hợp, biến tấu từ nhiều nguồn thức ăn ngoại lai) hơn là tự thân sáng tạo .

Hiện nay Phở đã theo chân cộng đồng người Việt có mặt ở nhiều nước trên thế giới.


DÂN VIỆT HẦU NHƯ AI CŨNG GHIỀN PHỞ: NGUỒN GỐC CHỮ PHỞ!
NTS st
(Đây là 1 trong những "câu chuyện truyền khẩu" về nguồn gốc món PHỞ của Việt Nam!)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Tôi đã từng nghe, đọc được câu trên từ khá nhiều người bạn của tôi. Họ buông ra lời chán nản và sau đó bỏ cuộc. Tôi rất đồng cảm với họ bởi tôi đã chứng kiến, đồng hành với họ trong khá nhiều việc và tôi biết họ đã vất vả, cố gắng đến thế nào mà kết quả nhận lại bằng không, đôi khi còn bị sỉ nhục rất ê chề. Họ, những người bạn đấu tranh, hoạt động xã hội dân sự của tôi, rơi rụng dần.
20-5-2012- Đề cập đến văn chương , chúng ta không thể nào bỏ qua nền thi ca bình dân mà ca dao là một trong những thể loại quen thuộc nầy . Từ lâu , ca dao đã đi vào lòng dân tộc và lạc vào rừng ca dao của kho tàng văn học , ta sẽ bắt gặp hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam qua những đức tính cao quý của họ
18-5-2012-Tháng Năm, nóng toé khói. Ai đã từng đi xa quê hương đều ước mong có dịp trở về, hoài niệm làm người ta xao xuyến đến cháy lòng. Tìm về từ vật chất đến tinh thần để thấy những cái tưởng mất đi vĩnh viễn, gặp lại cái xưa tầm thường nay trở nên quí giá.
Nếu phải định nghĩa tình yêu trước khi mở đầu bài phiếm luận thì chắc sẽ mất nhiều thì giờ. Cho nên xin nói lướt qua mục đích của bài viết. Những mẩu chuyện nho nhỏ được nêu ra trong bài rút từ kinh nghiệm cá nhân cũng như những nghe thấy từ bạn bè và những người đã từng quen biết qua khoảng đời đã qua mà nếu quí vị nào thấy sao giống chuyện của mình thì cũng đừng quá ngạc nhiên. Và như đã nói, đây chỉ là phiếm luận, nên nghe rồi xin bỏ qua và chớ có tìm hiểu sâu hơn về cội nguồn thì e sẽ bị thất vọng.
Có những phận người như thế, lặng lẽ sống, lặng lẽ giấu kín lòng mình, chỉ giao tiếp với xã hội một cách lạnh lùng thông qua công việc hàng ngày. Họ luôn là những ẩn đố cho người xung quanh. Phải chăng họ đã hoàn toàn mất niềm tin nơi cuộc sống, mất niềm tin vào con người, nên đã tự đóng băng mình? Hay đơn giản là họ chọn cho mình một cách sống thờ ơ với tất cả mọi điều. Nhân vật chính là bà cụ chủ quán dường như đã để cho niềm lạc quan đi khỏi tâm hồn bà từ một thời điểm nào đó đã rất lâu, rất xa rồi trong quá khứ.
Những năm gần đây, tôi ít thấy thơ lục bát xuất hiện trên báo chí hoặc các trang mạng văn chương. Thi thoảng, một hai bài nhen nhúm như ngọn đèn dầu leo lắt nhưng rồi lại tắt ngúm, chìm lịm dưới lượng thơ tự do ào ạt đổ vào thị trường thơ -12-5-2012
Xích lô Sài Gòn - Chợ Lớn, năm 1956. (Hình: Getty Images) “…Nhắc chi ngày xưa đó đến se buồn lòng ta.” (Văn Cao- Thiên Thai) Các triết gia thường nhắc nhở chúng ta, “để có được bình an trong cuộc sống, cần hiểu rõ, đừng nhớ chuyện quá khứ, đừng nghĩ chuyện tương lai, hãy sống vui với hiện tại!”
(Trong đời sống gia đình, có những lúc như đi vào ngõ cụt. Nghèo đói khổ cực làm cho con người phải nghi ngờ Thiên Chúa và đôi khi đánh mất niềm tin. Một chút chia sẻ sau đây như một lời mời gọi, nhắc nhở và xác tín hơn vào tình yêu của Thiên Chúa khi phải đối diện với những khó khăn trong cuộc sống)
Bạn biết không. Mẹ tôi nể phục mấy cô gái Hà Nội xưa lắm. Dưới con mắt của người nhà quê ra Hà Nội làm việc vặt, bà thấy các thiếu nữ nơi đây ứng xử khôn khéo, nói năng lễ độ, và khuôn phép lắm. Đó là chưa kể thêu thùa may vá, nữ công gia chánh… Nói chung là đảm.
Để trả lời những câu hỏi: “Chuyện của thằng cùi mà cứ lặp đi lặp lại hoài”? Những sáng tác của Hàn Mạc Tử (HMT) ra đời từ rất lâu trước khi ông bị bệnh phong cùi (leprosy)? Không có người cùi nào là thi sỹ hữu danh thứ hai sau HMT? Trong các tác phẩm, HMT không bao giờ nói về bệnh tật của mình.
Bảo Trợ