Một Niệm Buông Xuống, Vạn Việc Tự Tại

26 Tháng Bảy 201711:39 CH(Xem: 1470)

Một niệm buông xuống, vạn việc tự tại

 

Đức Phật từng thuyết: “Nhất niệm phóng hạ, vạn bàn tự tại”, nghĩa là: Chỉ cần buông bỏ một niệm trong tâm, mọi việc sẽ được giải thoát và con người sẽ sống được tự tại thoải mái.

Từ nhỏ đến lớn, chúng ta đều được giáo dục phải cố gắng, phấn đấu, kiên trì như thế nào, vĩnh viễn không được buông lơi ra sao… Kỳ thực, có rất nhiều thời điểm trong cuộc đời thì điều mà chúng ta cần học nhất lại chính là “buông bỏ”.
nts-tusi

Dòng suối nhỏ rời xa mặt đất bằng phẳng là bởi vì muốn quay về biển rộng. Lá vàng lìa xa cành cây là để đợi chờ mùa xuân xanh tươi đến. Ngọn nến sẵn sàng tan chảy nên mới có một cuộc đời quang minh, ngời sáng. Tâm tình bởi vì buông tha thế tục ồn ã mới có được một khoảng bình yên.

‘Nhất niệm phóng hạ, vạn bàn tự tại’ – Lá vàng lìa xa cành cây là để đợi chờ mùa xuân xanh tươi đến.

Người xưa thường so sánh hai thái độ sống điển hình của hai nhân vật này: Một là Khuất Nguyên kiên trì giữ tín niệm, thà chịu chết chứ không khuất phục; Hai là cách sống tiêu diêu tự tại siêu thường, toàn thân vô hại của lão ngư, người gặp gỡ Khuất Nguyên bên bến sông. Hiển nhiên nếu để sống được vui vẻ, thoải mái, người ta ai ai cũng mong muốn có thể tiêu diêu, tự tại như lão ngư kia.

Trên mỗi bước đường đời, con người không thể tự do vui vẻ là bởi tự mình chuốc lấy phiền não. Đối với bất kể việc gì cũng nên có tầm nhìn thoáng đãng hơn một chút. Mở rộng tầm mắt một chút mới có thể giữ tâm tình không bị hỗn loạn. “Một niệm buông xuống, vạn việc tự tại“.

Chỉ vì mỗi người chúng ta chấp nhất quá mức vào những sự việc xung quanh mà làm bản thân lao tâm khổ tứ, mất đi sự bình an trong tâm hồn. Khi chấp nhất quá cứng nhắc với mọi chuyện chính là tự làm cho bản thân rơi vào vòng luẩn quẩn, tự làm khổ mình. Tâm thái này sẽ làm bản thân họ không nhìn thấy đường ra.

‘Nhẫn một chút sóng yên gió lặng, Lùi một bước biển rộng trời cao’, đảm bảo bạn sẽ nhìn thấy một cảnh giới hoàn toàn khác. Trong cuộc sống hằng ngày, đến lúc cần phải buông bỏ thì bạn hãy nên buông bỏ, hãy học cách buông bỏ. Nguyên nhân là bởi buông bỏ không có nghĩa là mất đi, buông bỏ mới có thể nắm lấy được chắc chắn hơn. Chỉ có thật sự buông bỏ con người ta mới được vui vẻ và được thoải mái tự tại.

Chỉ có buông bỏ mới có thể thoải mái và tự tại. Ảnh theo pinterest.com

“Buông” chính là một nghệ thuật lựa chọn, là môn học bắt buộc của đời người. Nếu không buông bỏ quyết đoán sẽ rất khó có được sự lựa chọn huy hoàng, xán lạn. Đau khổ giãy giụa, liều mạng ôm giữ không bằng dũng cảm buông bỏ. Chỉ có học được cách buông bỏ, người ta mới có thể khoan dung hơn, nhìn được xa hơn và trông được rộng hơn.

“Buông bỏ” không nhất định là không quả quyết, càng không phải là lẳng lặng chấp nhận mà uất hận trong lòng. “Buông bỏ” là một loại cảnh giới tinh thần thản đãng, thong dong và tự tại.
nts-treem

Hãy học cách buông bỏ như bài thơ dưới đây để cuộc sống luôn được vui vẻ tự tại:

Buông xuống cho lòng vơi trĩu nặng

Thả ra cho hồn bớt nhỏ nhen

Mở rộng cho tâm thôi trống vắng

Vị tha không dính mắc sang hèn

Vượt hết gian nan rồi trắc trở

Cõi lòng soi tỏ chút bụi vương

 

Kiên Định biên dịch



Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Mỗi lần về thăm quê cũ, tôi thường gặp lại những người quen với nhiều kỷ niệm xa xưa trong ký ức, trong quá khứ. Năm nay, trong chuyến về quê thêm một lần nữa, tôi chợt thấy xao động trong lòng khi gặp lại một người bạn thân quen từ hồi còn nhỏ xíu, nhưng cái kỷ niệm khó quên thuở ngày xưa vẫn nằm im trong tiềm thức tôi từ ngày ấy.
Nếu bạn là người Bắc hay Nam chưa từng ở Huế, bạn sẽ không hiểu được ba chữ “đi kéo ghế” là nghĩa như thế nào hay sẽ tự hỏi thầm: “Cái dzì dzậy cà?” hay “Cái gì thế nhỉ?”Cho dù bạn là người Huế 100% nhưng ở vào khoảng tuổi 40 trở lại, e rằng bạn cũng sẽ phân vân. “Đi kéo ghế là đi mô rứa hè?”
Đức thánh thứ nhất là tu sĩ Đỗ Bá Lung từ Ngọc Đông, Hưng Yên đã chết ở Cổng Trời còn đức thánh thứ hai này thì bị bức hại tàn ác dã man ở trại Phong Quang, Lao Kay. Ngài tên là Lâm Đình Túy người Nam Hà...
Khu O và khu H, tôi không biết nó thế nào. Chịu. Không hình dung ra nổi, vì tôi không nhìn thấy ai ở đấy và không hề gặp ai ở trong đó ra kể chuyện lại để biết. Chỉ nhìn thấy Cha Vinh, Cha Quế vào đó và không thấy hai cha đó ra về nữa mà thôi.
Người tôi quen thân nhất là Nguyễn Ngọc Lương vì Lương cùng làm đài phát thanh Saigon với tôi nhiều năm, lại cùng quê Nam Định. Lương ở Hải Hậu, tôi ở ngay tỉnh lỵ. Vì tình đồng hương, chúng tôi dễ thân nhau. Hồi mới gặp Lương, tôi không ngờ ông lại là một cán bộ...
“Người ta” muốn chúng tôi “nhận tội” và muốn biết ai đã truyền chức cho chúng tôi. Không thể nhận tội vì lãnh sứ vụ Linh Mục không phải là tội, mà chẳng có khoản nào trong bộ luật nào của đất nước này lại kết luận lãnh sứ vụ Linh Mục là tội. Về danh tánh của vị Giám Mục, tôi trả lời lương tâm không cho phép nói, người ta đã đập bàn lớn tiếng với tôi: “Vào đây mà còn nói lương tâm à ?” – Tôi cất lời nhẹ nhàng hỏi lại họ: “Vậy ở đây không có chỗ cho lương tâm sao ?”
"Nheo mắt nhìn thế giới" - NXB Văn học 2008, là một tập thơ có tiếng vang và hay nhất của Bằng Việt. Trong lời giới thiệu tập thơ, Ông đã viết: - Thơ đối với tôi (tức tác giả) không chỉ là thơ mà còn là một thái độ sống. Đã là một thái độ sống, thì bút pháp thể hiện cốt sao nói được hết điều mình cần nói, cần tỏ thái độ...
Ngày ấy đã lâu lắm rồi, dưới mái trường Hồng Lĩnh thân yêu, tôi đã được diễm phúc ngày ngày mặc chiếc áo dài trắng tinh cắp sách đến trường, tôi nói diễm phúc, vì thời ấy chinh chiến còn điêu linh trên khắp nẻo đường quê hương, biết bao cô gái còn tuổi học trò như tôi chẳng được diễm phúc đó...
Âm nhạc Việt Nam có hai truyền thống, truyền thống dân gian và truyền thống bác học. Truyền thống dân gian dính liền với đời sống trong xã hội và đi dài theo suốt cuộc đời của người Việt Nam từ lúc sơ sanh cho đến khi trở về với cát bụi. Bắt đầu là tiếng hát ru khi còn nằm nôi, vừa lớn lên có đồng dao dành cho các trò chơi, đến tuổi lao động thì có câu hò trong khi làm việc,
Có một chuyện cung đình thời nhà Nguyễn do nhà thơ Tản Đà kể lại, xưa nay người viết bài này chưa từng đọc thấy ở đâu, cho mãi tới tháng này, nhân ngày giỗ thứ 73 của thi sĩ (7 tháng 6, 1939 -7 tháng 6, 2012). Lạ là ở chỗ Tản Đà được biết đến như một thi sĩ bình dân, xuôi Nam ngược Bắc vì nghề báo...
Bảo Trợ