Những tính nết Tốt và Xấu của người Việt

29 Tháng Bảy 20212:00 CH(Xem: 6516)

nguoi_viet_namTôi vừa đọc bài " Những đức tính Tốt và Xấu của người Việt " trên trang mạng tiengnoigiaodan.net của Ông Đào Văn Bình.
Tôi rất vui và đắc ý vì ông Bình đã có cái nhìn " quy tư " về con Người chính mình và đồng bào mình.

Cái nhìn khó nhất trên đời là con Người chính mình và con Người của đồng bào mình.

Nói về chuyện người thì ai cũng hám nghe, nhưng khi nói về mình về đồng bào mình, nhất là chuyện xấu thì thật là khó nghe, người nghe có cảm tưởng người viết có ý lên mặt dạy đời, nhưng khổ thay với bệnh tình đất nước hiện nay, có chẩn đúng bệnh và có "thuốc đắng có mới dã được tật ".

Ta biết ngày nay, con người Việt ta đã quá phân hóa, xã hội đã quá rối ren, vì mọi chuyện xấu trong xã hội đều do con Người không tốt làm ra.

Người ta đã chẳng nói: " thế giới được dẫn đạo bởi những tư tưởng " , mà tư tưởng sai đưa đến hành động sai. Lại nữa khi những hành động sai đã quen nếp thì thất khó mà sửa đổi. Khi mà đầu óc đã vấy bẩn, đôi tay đã dính bùn, thì phỏng có làm được điều gì tốt đẹp nên thân, cứ xem những người CSVN cứ chạy quanh những hiện tượng sa đọa hôm nay thì ta thấy rõ, cái sa đoạ lớn nhất là vong nô bán nước.
Vấn đề của đất nước ta bắt nguồn tận mãi tâm khảm mỗi người, có tính cách nội khởi trong mỗi người, mọi người, không thể cứ " xoa dầu cù là " ngoài hiện tượng rối ren để mà chữa các thói xấu của mình và tệ nạn xã hội được!

Vấn đề khó nhất và nguy hiểm nhất của con người là chính mình, vì mình bị chính cái không gian của mình che khuất và thời gian quá khứ và tương lai ám ảnh, nên không bao gìờ mình có cái nhìn chính xác con Người mình Nơi đây ( không gian đang sống ) và Bây giờ (từng giây phút hiện tại ). Do đó mà không thấy vấn đề gây ra nan đề, thì làm sao mà tìm ra đáp đề.

Vì " Việc người thì sáng, việc mình thì quáng " nên người ta thường hay xét nét về người khác, còn đối với mình thì lại rất đại lượng, do đó mà luôn luôn con Người" đã cũ vẫn như cũ " hay ngày càng tệ hơn!

Ông Bình có nêu lên 10 điều tốt và 10 điều xấu của người Việt ta, trong đó cách này hay cách khác đều có phần của mỗi chúng ta.
Trong 10 điều tốt như: Tư chất thông minh; Cần mẫn, nhẫn nại; chịu đựng khó khăn;tinh thần đùm bọc của gia đình;quý trọng việc học và người có học; yêu nước nồng nàn; biết giữ gìn bản sắc dân tộc. . ., thì theo tôi những đức tính có tư chất thông minh, tinh thần đùm bọc gia đình, qưý trọng việc học,. . . là những mẩu tinh hoa còn sót lại từ nền văn hoá xưa rất xưa, mà ta bỏ quên và khinh suất, nó khởi tận từ nền văn hoá hoà bình, cũng như từ nước Văn Lang cũa Tổ tiên xưa, đây là một vấn đề dài hơi, không thể nêu ra trong khuôn khổ bài này.

Còn đức tính cần mẫn; nhẫn nại; chịu đứng khó khăn, một phần là do hoàn cảnh bị nô lệ lâu dài buộc phải thích ứng với hoàn cảnh khó khăn để sinh tồn.
Còn 10 điều xấu như: không tôn trọng giờ giấc, vô kỷ luật, không tôn trọng của công, vô trách nhiêm, hay nói dối, nói quanh, không làm ăn chung hùn hạp được với người khác ( cái tiểu tâm, tiểu trí, tiểu danh, tiểu lợi do hoàn cảnh bị nghèo đói sinh đạo tặc mà nhiễm vào ), thì theo thiển ý những tính xấu này đều được tiêm nhiễm vào do bị áp bức bóc lột trong những đêm trường nô lệ, cái tệ hại nhất là đến khi được độc lập cứ ù lì như trước , không có những cuộc vận động chung để tẩy xoá cái xấu và phát triển cái tốt, mà ai nấy cứ theo đường cũ mà sống với nhau, nên tiếp tục gây ra những thảm hoạ như ngày nay.
Cố triết gia Kim Định đã có những nhận định dẫn chứng như sau:

Tính hay nết xấu của người Việt
( Vấn đề Quốc học: 5.- Nết xấu của. . . : Kim Định )

I .- Nết xấu của dân tộc

1.- DO Bị BÓC LộT ÁP BứC MÀ NHIễM VÀO

" Hỏi rằng có nét xấu nào gọi được là dân tộc tính chăng? Nên phân biệt, nếu là xét về Thể thì không có vì nhờ nền văn hoá đạt Cơ ( trong phạm trù Ý, Từ , Dụng, Cơ ) , thì tất cả những nhu yếu nền tảng đều đã có chỗ ứng đáp. Nhưng nếu xét về Dụng tức là do hoàn cảnh ngoại lai thì mấy nét xấu sau đây có thể gọi được là gắn liền với dân tộc, một là gian vặt hai là cẩu thả và ba là thiếu lòng chung.
Cả ba gây nên do tình trạng của nước bé nhỏ sống bên cạnh một nước quá lớn, hay bị xâm chiếm đô hộ thì tất nhiên phải chịu nhiều bất công nên nhu yếu sinh tồn bắt phải tìm những lề lồi ngang ngửa quặt quẹo để sống.
Trong các lối đó phải kể trước hết là:

a.-Sự gian lận
Thí dụ lúc người Pháp còn cai trị lập ra sở Đoan, muốn để giữ độc quyền mua bán muối. Mua vào 6 xu bán ra 9 cắc (hay là 90 xu tức 15 lần đắt hơn. Đây là thí dụ có thực ở Bắc Việt). Với giá mua rẻ mạt như vậy tất nhiên dân làm muối quá khổ, cần phải gian lận, giấu giếm một ít để bán lậu. Thế là có cả một hệ thống buôn muối lậu mà ai cũng cho là phải lẽ. Nói là gian lận thì không đúng, vì đó là của mồ hôi nước mắt mình, nay bị ngoại bang tham tàn đến cướp miếng cơm thì mình có quyền phản kháng nhưng vì quá yếu phản kháng vô ích chỉ còn cách làm lén một việc không hề phạm tới quyền lợi của ai, vì thế được mọi người chấp nhận. Nhưng chính sự chấp nhận đó lâu ngày gây nên tật xấu là gian dối. Tôi có đọc trong một quyển sử Pháp nào đó lời phàn nàn rằng sau bốn năm quân Đức chiếm đóng, người Pháp phải nói dối để tự vệ, để giúp du kích quân.... thế là khi lấy lại được độc lập thì nhiều người Pháp đã mắc tật nói dối, gian lận...
Mới có 4 năm Đức chiếm đóng mà tật gian dối đã xâm nhập một số người Pháp, huống chi từng ngàn năm Bắc thuộc, rồi 80 năm Pháp thuộc thì người Việt Nam thoát sao khỏi cảnh bị tẩm nhuận trong việc ăn gian nói dối. Khi nó lan vào giới công chức nhất là những đợt cao cấp thì sẽ làm tê liệt mãi mãi quê hương ta. Không một việc lớn nào có thể hiện thực khi chính quyền gồm phần lớn những đầu óc tham nhũng.

b.- Cầu thả
Tật xấu thứ hai cũng do cảnh tiểu nhược quốc bên cạnh nước khổng lồ, không bao giờ được hưởng thái bình lâu dài nên cứ phải làm lại cuộc đời luôn luôn. Sự kiện đó gây nên tâm trạng " ăn xổi ở thì " lâu ngày đâm ra quen không thích những lối làm việc dài hơi. Thế là lâu ngày đoạ ra cầu thả.
Đấy là một nết xấu rất tai hại. Con đường người Việt tráng nhựa thì hầu như phải làm lại một năm. Dây điện cao độ do người Việt mắc chưa xong mà các cây sắt đã quằn hoặc trệ xuống. Quyển Kinh Thư do trung tâm học liệu xuất bản mà không có đến cả một mục lục. Quyển Xuân Thu thì phải kể là thùng rác... Hầu hết cách chua xuất xứ trong các sách khảo cứu của ta còn xa lắm mới đạt sự cẩn thận của khoa học gia... Đây là một tật xấu rất tai hại, có sửa đổi được thì nước mới trông tiến bộ. Sau trận thế chiến thứ hai thì Nhật và Đức là hai nước đã phục hưng một cách mau lẹ hiện nay Nhật đứng thứ ba Đức thứ bốn sau Mỹ, Nga. Cái gì đã giúp hai nước này tiến được như thế? Có nhiều lý do nhưng các nhà quan sát đều nhận thấy ở cả hai nước một yếu tố chung thuộc tinh thần đó là sự ham mê việc làm, nhờ vậy việc nào làm cũng tới nơi tới chốn.
Có thể nói đức tính này đứng đầu trong các nhân tố đẩy đà tiến mạnh của hai nước Đức Nhật. Đấy là tấm gương trong mà người nước ta cần phải soi đêm soi ngày cho tới lúc bất cứ việc gì to nhỏ không làm thì thôi, đã làm là làm tới chốn. Chỉ có thế nước nhà mới trông theo kịp thế giới.

c.- Thiếu lòng chung
Nét xấu thứ ba là thiếu lòng chung không chú ý đến lợi ích công cộng. Điều này xem ra trái ngược với tinh thần công thể mà chúng tôi đã gọi là một dân tộc tính. Quả thiệt nó là một dân tộc tính phát xuất từ tình huynh đệ phổ biến, nên đã được thi hành ở nhiều đợt: gia đình, làng xã, quốc gia. Tuy nhiên xuyên qua các đời tinh thần công thể đã không gặp bầu khí thuận lợi cho sự nẩy nở do tình trạng luôn luôn bị đô hộ.
Một khi chủ quyền đã vào tay ngoại bang thì khó có thể còn lòng chung, và lúc ấy lòng chung chỉ còn được biểu lộ qua những vận động đánh đuổi xâm lăng.
Sự đánh đuổi này có nhiều độ: có khi là phá cầu cống đê điều có khi là tẩy chay hay làm việc công cho qua lần... Thế là ít lâu công dân cũng như công chức mất tinh thần lo cho công ích để chỉ còn biết lo cho gia đình.
Vì thế hiện nay ta thấy các nhà tư gia của các ông bự thì rất đẹp, đang khi các cơ sở chung thì rất tồi tệ. Ngược hẳn với bên Đài Loan nhà của các ông lớn xuýt xoát như nhà dân có hơn cũng không nhiều, đang khi đó các công sở đều đẹp đẽ tráng lệ, nước nhà lại trong tình trạng chậm tiến. Và cũng là những bóng đen che khuất lấp mất những đức tính cố hữu của dân tộc.

Vì thế muốn nhìn ra cần phải vượt nhiều đợt trật đường do ngoại bang, thí dụ "bình sản" là một nét dân tộc nhưng vì bị ảnh hưởng của Tàu (tự đời Tần, Hán... xem Cửa Khổng) nên bình sản co lại như miếng da lừa: Ngoài Bắc còn có 20 phần trăm, Trung còn có 26 phần trăm, đến Nam vì chịu thêm một ách đô hộ mới của Pháp nữa nên chi còn được có hơn hai phần trăm. Vậy nếu căn cứ trên số lượng công điền hiện có thì làm sao nói được "bình sản" là một nét của dân tộc. Muốn thấy câu trên đúng thì phải vượt qua nhiều đợt trở ngại chắn khuất. Chính vì sự vượt qua này khó khăn không phải ai cũng có mắt tinh tường để minh biện, nên khi nói đến dân tộc tính ít có sự đồng ý là vì vậy. Bởi vì trong mọi địa hạt đều có sự lấn át tương tự như trong vụ bình sản nhưng không hiện lên trong hình tích đếm đo được. Tuy nhiên vẫn có đó trong tình trạng hôn mê và ta có thể dùng những tỷ lệ ruộng công trên (20, 26, 25 phần trăm) làm như tiêu biểu của sự sa sút của đức tính dân tộc gây nên do những căn do bên ngoài.
Còn cái tật xấu nguy hại nhất là chia rẽ, đây không phải là dân tộc tính, vì nó trái hẳn với triết lý bọc Âu Cơ. Vậy đó chỉ là ác quả của cuộc ngoại nhân đô hộ. Thực dân Tàu hay Pháp đều dùng lối chia để trị, lâu ngày sự chia rẽ thấu vào xương tủy dân bị trị, nên nay sự chia rẽ đã trở nên quốc nạn. Nhiều người Việt tỵ nạn không ngần ngại tuyên bố là sợ người Việt. Người Việt mà còn sợ người Việt, thì mong gì được ngoại bang kính yêu. Xem trong sử tự đầu bao cuộc khôi phục độc lập đã thất bại cũng vì chia rẽ. Hiện nay trong nước ta trở nên nô lệ cho Nga Sô và nhất là cho Tàu do bọn Việt Cộng.

Vậy muốn phục quốc mà không trừ nổi nạn chia rẽ thì phục quốc chỉ là chuyện diệu vợi.
Còn vụ cẩu thả và gian lận cũng do nền thống trị ngoại nhân. Với óc quật cường của dân ta không đánh đuổi được chúng thì phá hoại. Làm cho qua lần là môt hình thức phá hoại. Gian lận cũng thế, tài sản của mình bị thực dân cướp đoạt làm sao không dành lại. Nhưng sức yếu thì phải dùng lối gian lận, lâu ngày trở thành thói quen .
Đó là tật xấu cần phải tẩy rửa . Tẩy rửa để xây dựng lại con người Nhân chủ để cho nó mạnh hơn không chỉ hành động như môt con người yếu đuối chỉ biết làm những điều tiêu cực " .
( Hết trích )

2 .- DO Bị VÂY KHổN TRONG THÔN TRANG

Để cho dễ hiểu, ta nên nhận biết dân tộc ta có hai thành phần, một thành phần làm nghề nông , gồm Sĩ Nông, sống quay quần trong các làng xóm sau những luỹ tre xanh. Còn thành phần khác ở thành thị chuyên về Công Thương, đa số là gốc từ Tàu, qua các cuộc xâm lăng. Nhờ công thương phát triển hơn mà người Tàu phát triển được nhiểu lãnh vực như kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá. . . Nhìn khắp Đông Nam Á ta đều có thể nhận diện ra điều này.
Ngoài các tật xấu như đã nêu trên, đa số nhân dân ta còn có cái thất lợi lớn hơn nữa là chỉ sống trong môi trường khó khăn ở nông thôn.
Số là khi bị người Tàu cai trị cũng như khi đã độc lập, người Việt vẫn lấy thôn làng làm cứ điểm để bảo vệ cái gốc Sĩ, Nông của mình hầu tránh nạn đồng hoá. Còn Công Thương thì người Hoa ở trong nước ta nắm phần lớn. Họ nắm phần lớn huyết mạch kinh tế của mình, nhiều khi họ đầu cơ tích trử làm cho dân Sĩ Nông điêu đứng ! .

Lại nữa làm nghề nông thì khi nào cũng khổ, được mùa thì lúa gạo rẻ không có tiền tiêu, khi mất mùa thì thiếu cả tiêu và cả ăn, như thế thì làm sao mà phát triển mọi thứ được. Cha ông chúng ta đã bảo : " Cái khó bó cái khôn " là thế !
Khi nền kinh tế không phát triển thỉ mọi ngành khác đều bị đình trệ, nhất là văn hoá, vì khi sống trong vòng túng quẩn người ta khó có đủ điều kiện sống theo Lễ Nghĩa ( phú qúy sinh lễ nghĩa ) được. " Bần cùng sinh đạo tặc" là thế !

Cứ nhìn vào hiện tình trong nước ngày nay thì rõ. Cái khó luôn bó cái khôn, cứ bị bó mãi trong nghèo đói và ngu dốt nhiều đời tất con Người sẽ trở lại lốt ngợm!!
Người Tàu đã giam hãm dân tộc chúng ta trong nghèo đói và ngu dốt triền miên, rồi bảo dân tộc ta là man di mọi rợ!( Nam man ). Ngày nay Bắc Kinh đang xiết gọng kìm lên cộng nô để đẩy mạnh công việc đồng hoá mà họ đã mưu toan qua nhiều ngàn năm nay!
Do cái tư tưởng " vi nhân bất phú, vi phú bất nhân " cũng như cái lối học chuộng từ chương khoa cử của Hán Nho, nên cha ông chúng ta không đi vào công thương, và nghiên cứu khoa học kỹ thuật để giúp phát triển kinh tế, như vậy làm sao nâng cao dân sinh và dân trí được, đó cũng là một lý do kìm hãm xã hội ta trong cảnh khốn cùng lạc hậu .

3 .- VÀI HIÊN TƯƠNG SA ĐOẠ GÂN ĐÂY

Gẫm lại, nếu mọi người con dân đất Việt thâm tín rằng mình thuộc giống nòi cao quý , con Rồng cháu Tiên, người Phật giáo tin rằng mình là Phật sẽ thành, người Công giáo tin trong mình có đền Chúa ngự, người Nho giáo tin là " Thiên lý tại nhân tâm " tức là Thượng Đế ở ngay trong lòng mình , các tín đồ các tôn giáo khác cũng có niềm tin cao quý như vậy, thì đâu con dân đất Việt lại ăn ở bất xứng tàn tệ với nhau như thế, để lâm vào cảnh bị phân hoá trầm trọng không lối thoát như ngày nay !

Sống trong cảnh phân hoá trầm trọng, thay vì tìm cách cứu gỡ, lại ngày càng đối xử cực đoan với nhau mà không sao tiêu diệt được nhau, thì chỉ làm cho cảnh phân hoá càng thêm tồi tệ !
Đây là lúc cần đến sự hướng dẫn tích cực của các nhà lãnh đạo tôn giáo các vị trí thức khoa bảng cho đường lối tích cực, cho phương thức hữu hiệu để tháo gỡ cái mối tơ vò trên.

Cái sảy quên gốc nảy ra cái ung phân hoá của dân Việt là ở chỗ đó.
Thí dụ: Trước đây, tuy người Việt nào cũng bảo mình là con Rồng cháu Tiên, tức là con cháu của Tổ tiên đầy lòng nhân ái và lẽ công bằng, nhưng trong sự đối xử với nhau có đâu được như là đồng bào, nay khi tỵ nạn ra ở nước ngoài, lại lùi thêm một bước nữa là không gọi nhau bằng đồng bào mà là đồng hương, nghĩa là muốn phủ nhận cái gốc Rồng Tiên rồi, để mà ăn thua đủ với nhau !
Đây là cái ngõ bí rất khó tháo gỡ, nếu không trở về gốc Tổ tiên để un đúc Nhân Trí Dũng thì xem ra vô vọng.

Sai một ly lạc đi một dặm là vậy!
Chỉ có đường lối " Chí Nhân và Đại Nghĩa " thì may ra có lối thoát, còn chạy lộn quanh theo lối CS thì ngàn đời như thế, rồi cũng là " vẫn thế "! Cứ để cho anh em đồng bào sống trong cái vòng " Tư tưởng ngõ cụt " thì rất có lợi cho ngoại nhân dễ bề trục lợi, thôn tính và vây hãm.
Không ai đóng cữa Chùa, thì lỗi nói chung là của tất cả các sãi, không nên ngồi bắt lỗi nhau mà cùng rủ nhau ra đóng cữa Chùa đang mở toang !
Lúc trước có nhiều người nghĩ là việc nước có chính quyền lo, nhưng khi nước mất và mọi nhà tan rồi thì tìm ai mà đòi hỏi lại cái nhà của mình, vì dân là cái gốc mà đã tan rồi thì chính quyền dẫu có còn thì cũng chẳng biết để làm gì !

Quên cái gốc nhân ái và công bằng của Mẹ Âu Cơ và Cha Lạc Long một cách vô ý thức hay có ý thức đều nảy ra cái ung phân hoá chia ly, có kêu gào nhau đoàn kết mấy cũng chỉ là những tiếng kêu trong sa mạc !

Đáp đề của nan đề đất nước của chúng ta không ở đâu xa, không phải bên Moscow, bên Bắc Kinh hay Washington, mà chính trong lòng mỗi chúng ta và đồng thời trong tất cả chúng ta .
Việc thứ hai khi qua các nước Tây phương, ta đổi cái tên lộn ngược, tên trước họ sau : Tên trước là (Me first ), mối liên hệ này với tha nhân là " I , that " , tức là " tôi với người đó ( cái đó ) " . Ai cũng you cả, Thượng Đế cũng you, con mèo cũng you nốt .

Do đó mà họ sống theo lối cá nhân chủ nghĩa, coi nhẹ mối liên hệ với những người khác, đầu mối cho sự phân hoá.
Còn người Tây phương chỉ có một luân Chủ Nô mà thôi, nay một số thanh niên nam nữ lơ là hay bỏ tinh thần tôn giáo mà sống theo " kiểu thích và không thích ", ( likes and dislikes ) thì tốc độ sự phân hoá càng nhanh. Không biết chỉ có luật pháp, là hàng rào bên ngoài có tác dụng gìn giữ được đến bao lâu?
Còn Việt Nam ta là đặt Họ ( Family first ) trước Tên sau, nghĩa là dân mình tôn trọng và sống theo tính thần công thể, coi trọng tôn ti trật tự, lấy Luân thường Đạo lý làm trọng: ta có Ngũ Thường để tu thân, có Ngũ Luân để ăn ở với nhau theo lẽ công bằng, đây là lối sống nghĩa nặng tình sâu . Đó là tiêu chuẩn đạo lý chung cho mọi người y cứ.

Nay qua đây sống ở Tây phương, nếu ta coi luân thường đạo lý là cổ hủ, xem gia đình không là nơi ươm tình người nữa, mà sống theo cá nhân chủ nghĩa thì dễ đánh mất Tình Người. Con người mà để đánh mất tình người thì chỉ còn có Lý, mà Lý chay và cực đoan nữa thì dễ sa vào vòng gian ác lưu manh.! Gương Tam vô của CSVN đang sờ sờ ra đó.

Việt Cộng cũng nói là chúng tôi có" Tình Hữu Ái Giai Cấp", nhưng khốn nỗi đây là mối tình băng đảng, nếu có thì cũng để xuí dục nhau dấy động lòng căm thù để tàn hại giai cấp khác, chứ đâu là " tình đồng bào" hay tình " Tứ hải giai huynh đệ ".
Con người quên Gốc và thiếu Tình người tất không phải là con người tốt về đường ăn lối ở, chỉ tổ gây rối cho gia đình và xã hội.
Cái gương không mấy tốt đẹp của môt số thanh niên hư hỏng người Mỹ đối với cha mẹ cũng cho ta thí dụ cụ thể về điều nhức nhối thấu xương trên, ngày nay những cảnh sống thương luân bại lý này cũng không hiếm hoi gì nơi một số gia đình Việt Nam..
Có một điều rõ ràng nhất là những ai còn giữ được nề nếp gia đình thì bất cứ ở đâu và nơi nào cũng thành công tốt đẹp !
Đành rằng khi sống ở nước ngoài ta phải theo tục lệ của nước đó, trong giấy tờ khai sinh hay căn cước ta phải đổi lộn tên ngược như thế, nhưng khi ở chung trong cộng đồng người Việt với nhau, ta phải để ý đền vấn đề này, tức là vấn đề sống theo tinh thần gia tộc, theo tinh thàn công thể, để còn ngó mặt nhau. Ngày nay đã có những người Việt Nam không muốn sống gần, giao thiệp với người Việt Nam nữa, cả hai bên đều mang nhục vong bản chung mà không nhận biết.
Vì vậy mà chúng ta nên luôn nhắc nhở nhau lưu tâm đến vấn đề hệ trọng đó, cũng như giúp cho thế hệ trẻ hiểu rõ được ý nghĩa tốt đẹp của nền văn hoá trọng công thể qua cái tên, cũng như giới thiệu với dân địa phương nét đẹp văn hoá này của ta.

II.- Cái hay còn giữ được

Nguồn gốc và ơn ích của gia đình Việt
( Pho tượng đẹp nhất của Việt tộc: Phần phụ trương I. Lược ý Đề tài thảo luận. Kim Định )
" Trẻ Việt học rất giỏi ai cũng hãnh diện. Người Mỹ rất ngạc nhiên, không hiểu tại đâu. Đã có người đi điều tra tận mãi bên Đông Á, họ không thấy cái gì chứng tỏ là người Á Đông có thiên phú trội hơn người Âu Tây, nên hầu hết đi đến kết luận sau: lý do căn để là bởi gia đình.

1.- GIA ĐÌNH VữNG THÌ CON EM HọC GIỏI
Điều ấy cũng xẩy ra cho các gia đình Mỹ bậc trung lưu trở lên.
Ngoài ra về tiền của, các gia đình trung lưu của người Đông phương cũng tiến mau hơn . . . , ấy cũng nhờ gia đình .
Nội một gia đình lỏng lẻo hay ăn cơm tiệm, con cái sớm ra ở riêng. . . gây tốn phí gấp bao.
Chỉ kể sơ qua hai ơn ích đó đủ chứng tỏ ga đình là một giá trị rất lớn cần phải hét sức duy trì.
Đến khi nghiên cứu về nguồn gốc văn hoá mới thấy giá trị còn cao hơn nhiều lắm. Các nhà xã hội học nhận thấy rằng:

2.- Ở ĐÂU GIA ĐÌNH VữNG THÌ KHÔNG CÓ CHế Độ NÔ Lệ
Cái đó dễ hiểu vì người trong gia đình có ai bị bắt làm nô lệ bao giờ. Vậy mà tinh thần gia tộc của ta đã được duy trì qua bao ngàn năm.
Khởi đầu là Hồng Bàng thị .
Chú ý chữ Thị nói lên tinh thần gia tộc.
Tinh thần đó đã vẫn giữ được từ khi Bộ lạc bước lên đợt Quốc gia, thành ra quốc gia cũng chỉ là bộ tộc mở rộng, cũng như bộ tộc cũng chỉ là mở rộng thị tộc, như thị tộc là nối tiếp gia tộc. Chính vì thế mà người trong nước xưng nhau bằng những danh xưng thuộc gia đình như bà con, cô, bác, chú, thím, cha, ông.
Và bất cứ ai dù không ở trong gia tộc cũng xưng hô là ông, bà, cô, thím, chị, em . . .
Đó là hiện tượng rất lạ.
Tôi còn nhớ cảm tưởng thú vị xưa khi đọc sách Tây họ bỡ ngỡ biết bao vì người ăn mày bên ta cũng được gọi là ông là bà.
Họ ngạc nhiên vì bên Âu Tây ai cũng gọi nhau bằng you, vous, Chúa cũng gọi là you, , mà con mèo cũng gọi là you.
Vi xã hội họ không xây trên mẫu gia đình mà trên mẫu chủ nô.

Ai có của thì là chủ ai không có của thì là nô. Đó là nền móng xã hội La Hy.
Người Tàu cũng chỉ có ngộ với nị, nên xã hội nhiểu nô lệ hơn bên ta, và phá chế độ nô lệ muộn.
Bên La Mã xưa có phép đầu phiếu " bách tiền " gọi là Centuric. Tiếng này gốc từ tiếng La Tinh Centrum là trăm. Hễ ai có được một trăm ngàn thì có quyền bỏ phiếu, nhiều trăm ngàn thì bỏ nhiều phiếu. Không có tiền không được bỏ phiếu. Đó là tại xã hội xây trên tài sản chứ không trên tình gia đình, mà vì quy chế tài sản là tuyệt đối ( quyền tư hữu tuyệt đối ), nên 2, 3 người có, 7, 8 người không, thành ra đến 70 – 80 % người trong xã hội là nô lệ, chỉ chừng 20 % là có tự do. Đời ấy người ta chỉ mới biết có công bằng trừu tượng khái quát mà chưa biết đến công bằng xã hội, tức là người nào trong nước cũng phải được tham dự tài sản trong nước. Công Bằng xã hội mới được nói đến từ thế kỷ 19.

Còn bên ta có ngay từ đầu với phép công điền công thổ, tức là ai ai hễ đến tuổi đều được làng cấp ruộng. Làng tôi mỗi đinh được 5 sào, nhưng có người giữ miếng đất hay vườn quá 5 sào mà không tiện chia cắt thì người đó phải theo " rong canh " những sào dư : mỗi sào 5 thùng thóc. Người đến tuổi đinh được có phần điền mà không có ruộng thì được người khác theo rong canh cho 25 thùng, thành thử không ai trong nước là vô sản hết. Ông Paul Mus có nói người Việt Nam nghèo thiệt, nhưng nghèo cả hàng tổng: lợi tức không có chênh lệch quá lớn về giàu nghèo như các xã hội tư bản. Đó là nhờ phép công điền.
Phép công điền đã được nói bóng trong truyện Mẹ Âu Cơ đẻ cái bọc 100 trứng , bà sợ vất ra ngoài đồng thế mà rồi con nào cũng được phương trưởng cả . Đại ý là con nào cũng được bao bọc như nhau. Vất ra ngoài đồng tức là nền nông nghiệp theo chế độ công điền, nên con nào cũng phương trưởng hết. Không ai phải làm nô lệ vì thiếu phần điền.
Đến sau Việt Nho lược đồ hoá lý tưởng trên bằng phép Tỉnh Điền: nghĩa là chia lô dât ra 9 lô theo hình chữ Tỉnh ( 井 ) cho 8 gia đình 8 lô , còn lô giữ để nộp cho vua , trong đó có đào một cái giếng chung chữ Nho kêu là tỉnh, nên gọi là Tỉnh Điền . Tỉnh điền hay bọc Mẹ Âu Cơ ném ra ngoài đồng đều chỉ phép công điền công thổ mà tôi gọi là Bình Sản : tài sản chia đều cho mỗi người dân .

Phép ấy tiên Tổ ta đã có ngay từ Hồng Bàng thị. Chữ Thị nói lên tinh thần gia tộc, mà về sau các bà còn mang trong tên . Lâu ngày người ta coi thường chữ ấy, nhưng ở thời khai nguyên thì chữ đó cao trọng lắm, nó chỉ tinh thần mậu hệ, đặt vợ trước chồng. Nước được lập ra do 50 con theo Mẹ lên núi, chứ không do 50 con theo Cha xuống biển, nghĩa bóng là văn hoá vẫn giữ được tình người, mà trong triết gọi là giữ được nguyên lý Mẹ. Còn văn hoá Tây Âu thì không, nên mang tiếng đực rựa : duy Dương, duy Lý, mà hình thái cùng cực là Cộng sản duy vật chống lại mọi thứ tình: tình Nhà, tình Nước, tình Trời, gọi là Tam vô: vô Gia đình, vô Tổ quốc, vô Tôn giáo, cho nên thuyết Tam vô Cộng sản cũng nẩy sinh từ Tây Âu là chuyện đương nhiên và những người còn cố bênh vực Karl Marx , Hồ Chí Minh đổ tội cho Lénin, cho Đồng Duẩn là tỏ ra chưa nghiên cứu thấu triệt văn hoá Âu Tây .

Cũng như nói đến Việt Nam có chế độ nô lệ thì chỉ là nói theo " đảng tính " tức là đảng nói vậy chứ có xét đến nguồn gốc thì có trung thực đâu.
Đành rằng trong thực tế không giữ được đầy đủ như trong lý tưởng, nên có những hiện tượng nô lệ. Chú ý hiện tượng chứ không phải chế độ. Nếu chế độ thì là việc luật pháp, người nô lệ có tiền cũng không thoát ra khỏi chế độ nô lệ. Còn hiện tượng không có hàng rào luật lệ nào. Con sen nếu trúng số độc đắc thì lập tức có thể trở nên bà chủ, bà giám đốc, không ai ngăn cản cả . Nếu là chế độ thì có tới 70 – 80% người dân nô lệ . Còn hiện tượng thì chỉ vài phần trăm, và cũng chỉ là con ăn đầy tớ. Đôi khi bị xử tệ như nô lệ thì cũng chỉ là chuyện làm ẩu của chủ nhà chứ không có luật pháp nào cho phép coi đầy tớ như sự vật.
Tuy nhiên vì ảnh hưởng Hán Nho nrên chế độ công điền có suy vi dần nhưng nói chung thì đến đầu thế kỷ 20 quá bán ruộng đất ta vẫn còn là công điền. Đến khi Pháp cai trị miền Nam ( Bạc Liêu, thí dụ ) công điền nhiều nơi trụt xuống chỉ còn vài ba phần trăm, vì có đồn điền của tư nhân chiếm hàng ngàn mẫu. Đó là chế độ Tư bản Tây Âu nương thế bảo hộ xen vào phá vỡ chế độ bình sản của ta, đây là nói kiểu thông thường . . .

Còn nói theo kiểu triết lý chính trị thì đó chính là Dân Chủ .
Nói theo chiều tiêu cực thì dân chủ là thoát nạn chuyên chế, còn tích cực là Ăn Nói .
Được ăn là được tham đự tài sản trong nước gọi là Bình Sản.
Được nói là được tự do phát biểu ý nghĩ của mình .

Như vậy Dân Chủ chân thực phải có Bình Sản, và được tự do suy tư nói nghĩ .
Thiếu hai cái đó thì chỉ là dân chủ giả hiệu. Xã hội Âu Tây có chế độ nô lệ, nên phải dày công mới lập được chế độ dân chủ, lúc ban đầu cũng chỉ có dân chủ trên pháp lý, chưa có bình sản, nên tự do bị gọi là tự do chết đói. Cộng sản đã có ý sửa lại chỗ đó bằng tuyên bố dân là chủ tài sản quốc gia.
Nhưng thực chất vẫn là tư bản, chỉ khác chủ tư bản xưa là cá nhân, nay là chính quyền, dân vẫn là vô sản , đã vậy tự do cũng mát luôn nên khốn khổ hơn vô sản xưa muôn vàn .

Xét theo mấy điều trên ta thấy gia đình là thể chế gây ơn ích hết sức sâu xa. Ơn ích ngay đời ta : con em học hành giỏi, bố mẹ làm ăn chóng nên cơ nghiệp. Còn đời xưa là chế độ dân chủ chân chính có bình sản, có tự do , làm nên một xã hội có Tình, có Nghĩa , một quê hương tổ quốc thâm sâu.
Thật không ngờ nơi ta ra chào đời, sống bên cạnh những người thân yêu trong quảng đời tươi đẹp nhất lại chất chứa nhiều minh triết xuyên qua bao đời cho đến nay ta vẫn còn được hưởng.
Bây giờ xin nhắc đến những điểm làm ta có thể ngửa mặt lên hãnh diện. Đó là mấy đức tính gọi được là dân tộc tính.

3.- TRƯớC HếT LÀ TINH THầN GIA TộC
Điều này phát xuất tự cái Cơ ( theo phạm trù Tứ, Ý, Dụng, Cơ ) nên toàn quốc gọi nhau bằng đồng bào theo huyền sử cùng phát xuất từ bọc mẹ Âu Cơ, tức nước xây trên mẫu mực gia tộc . Người trong nước xưng hô nhau bằng lối xưng hô trong gia tộc : bà con, cô bác . Đó gọi là gia tộc hóa lối xưng hô.
Ngược lại Tây Âu không có tinh thần gia tộc mạnh nên phi ngôi hoá lối xưng hô : ai cũng là you, vous cả . Vậy ta cần duy trì tinh thần gia tộc như nét đặc trưng của ta . đó là điều cho đến nay còn giữ được nhiều, là vì trong thực tế có, lợi bớt tốn : cùng ăn, cùng ở bớt tốn hơn. Nhất là vụ học: con Mỹ thường ở apartment riêng tốn hơn gấp hơn 2, 3 lần ở với bố mẹ

a.- Chăm học
Chăm học cũng là một dân tộc tính phát xuất tự đầu được ghi lại trong tên huyền sử Văn Lang là nước của những người có văn hoá. Muốn có văn hoá thì phải chăm học . Vậy nước ta tự mãi xa xưa đã coi trọng việc học, đặt quan văn trên quan võ. . .
Đây là điểm rất lợi cho dân Việt . Người ta tính ra đến 60% so với Chicano ( Mễ ) chỉ có 30 % . Tuy đó là con số khó thể đoan chắc, nhưng ta có thể nói dân Việt đi học đông vào bậc nhất cũng như giỏi đứng vào hàng đầu.

b.- Cần cù
Cần cù cũng là đức tính dân tộc cần được duy trì. Theo huyền sử Vua Hùng sinh ra bởi tổ chung với người Mường gọi là Lang Đa Cần. Tên này gợi lên ý chuyên cần làm việc.
Hiện nay nhiều hãng ưa thâu dụng nhân công Việt vi tính này. Khi tôi ở Đại học Loyola một giáo sư Mỹ lúc đầu rất tẻ lạnh với tôi, bỗng một hôm ông vồn vã hết sức, thì ra là do mấy người Việt trong hãng bạn của ông làm việc rất chăm chỉ...
Có kiệm ước mới dư giả để thực thi lòng quảng đại. Cần chú ý rằng đức kiệm ước này rất dễ mất trên đất Mỹ , nên cần tập từ những cái nhỏ ( vặn nước, tắt đèn. . . ) để nuôi dưỡng dức đó.

c.- Lễ độ
Còn có thể kể thêm đức lễ độ biểu lộ nhiều nhất do học sinh, sinh viên trong lớp đối với giáo sư.
Đó là dăm ba đức tính dân tộc đã làm cho đoàn người tỵ nạn Việt Nam đáng nể . Rất nhiều nhà quan sát tiên đoán rằng không bao lâu nữa đoàn người Việt sẽ trở nên giàu có và nắm những vai trò quan trọng.

Vậy thì đây là những đức tính cần được nuôi dưỡng môt cách cụ thể và thiết thực.
Cho tới nay nói đến duy trì văn hoá chúng ta mới dậm chân ở đợt Từ ( Ý, Từ, Dụng, Cơ ) như làm văn nghệ , báo chí. . . Cần đi mạnh vào đợt dụng, cần cụ thể hơn tức bàn đến những điểm thiết thực rồi tìm cách sửa đổi, ai nấy cố tự sửa, và sửa cho con cháu.

Thí dụ :
Đức kiệm ước biết tắt cái đèn lúc không cần, vặn nước đánh răng cho nước chả y ồ ồ tốn nước gấp trăm lần. Ăn uống nhai ngồm ngoàn đầy tiếng động . Xé thư người khác. . .
Còn nhiếu chuyện quá nhỏ mọn nhưng dễ làm cho ta phải cúi gầm mặt khi thấy một người Việt Nam làm trước mặt ngoại bang ( như chen nhau khi sắp hàng . . .)
Những điều này nếu không sửa đổi mạnh trong gia dình thì không học đâu được.
Ở trường không ai dạy những cái tế nhị đó.
Bởi vậy tuy tầm thường mà hoá rất khó, nhận thức ra đã khó, mà khi thấy người khác phạm thì mấy ai dám sửa, trừ phi là bạn thân lắm, hoặc cha mẹ với con cái. Đã vậy rất khó sửa , nói 5 lần 7 lượt cũng không xong . . .

Chớ cho rắng đó là những cái quá nhỏ nhặt không đáng lưu tâm. Thưa rằng những cái nhỏ đó mới làm cho đời sống trở nên có văn vẻ ( tức được thấm nhuần văn hoá ) . Chính cái phần bé nhỏ đó là phần tinh tế của công việc hội nhập xã hội văn minh . Chính vì những cái nhỏ nhặt đó làm cho chúng ta đỏ mặt trước ngoại nhân .

Văn hoá của một dân phải nhằm mục tiêu làm cho đời sống của dân ấy có văn vẻ tế nhị hay ít nhất không gây Khó chịu cho tha nhân, không làm cho người cùng hội phải hổ thẹn vì đồng hương mình.

Chúng tôi mong ước, chúng ta sẽ thảo luận kỹ về điểm này và cử ra một uỷ ban, hay ước mong có những người nào đó có cơ duyên viết một quyển tựa như phép lịch sự của Âu Mỹ trong việc ăn uống, nói năng, xử sự, giao tiếp để đồng bào tỵ nạn ý thức mà châm chước giữ gìn.

Xin nhắc lại câu định tính văn hóa Việt là cái khối " xù xì da Cóc trong bọc trứng Tiên ", và ước mong cho việc làm văn hóa mở rộng hơn nhiều: xuống thì tới chỗ Dụng là mài dũa những cái xù xì da cóc, lên thì tới tận Ý tận Cơ, tức gồm thêm triết lý xây trên cơ cấu của Việt tộc, đó là phần " trong bọc trứng Tiên " cần phải chú tâm vun tưới. Vì trứng Tiên mới chính là cái Cơ, cái nõn, cái nền triết Việt.

Một nền văn hóa đẹp đẽ đến đâu mà thiếu Ý thiếu Cơ thì chỉ là một nền văn hóa nông cạn. Văn hóa Tây Âu hơn ta ở Ý tức họ có một nền triết học rất đồ sộ, nhưng họ lại kém ta ở cái Cơ, vì cơ chưa ổn nên triết họ còn cần đổi nền. Ta thì thiếu triết, nhưng hơn họ cái Cơ.

Nhưng là hơn trong tiềm lực, chứ trong thực tế thì kể là không, vì cái Cơ của ta ví như trứng tiên bị bọc trong xù xì da cóc, có còn mấy ai thấy đâu. Vì vậy đã đến lúc làm văn hóa phải vươn xa hơn đợt Từ để đạt đợt Ý và đợt Cơ. Hễ có Cơ thì rồi có Ý. Chính cái Cơ mới là tinh hoa văn hóa của ta.
Chính cái Cơ mới làm cho ta nhìn rõ đâu là tinh hoa, đâu là cặn bã, nếu ta không nghiên cứu và thấm nhuần thì ít thế hệ sắp tới sẽ không thấy Văn hóa Việt đáng duy trì ở chỗ nào, và do đó sẽ trở nên người vong bản, vong quốc. Chính cái Cơ mới bơm sinh lực vào cho Ý, cho Từ, cho Dụng. Hơn thế nữa, chính cái Cơ mới giúp chúng ta khả năng đóng góp vào nền Văn hóa thế giới.

Hiện nay con người đang trải qua cơn khủng hoảng trầm trọng. Các nhà trí thức Âu Mỹ gọi đó là một sự trống rỗng của Tây Âu (nihilisme occidental) nghĩa là mọi giá trị cao cả của Tây Âu đã sụt giá. Họ không còn tin tưởng vào những giá trị cổ truyền nữa, với hậu quả là hiện họ đang trở nên vô hướng vô hồn trong mọi cấp từ " tu thân " qua "tề gia " đến " trị quốc " đều thiếu đạo. Họ có chống cộng là trên bình diện kinh tế tức tư bản chống cộng sản chứ thiếu triết, nên nước có tiếng chống cộng hơn hết là Mỹ mà trong nước tràn ngập người thiện cảm với cộng sản. Chính vì vậy nước Mỹ thiếu lãnh đạo trong chính trị và nhất là trong văn hóa, đành để thế giới Tự Do trở nên con thuyền không lái. Lâu nay trong họ đã nhiều người nhận ra cần thiết lập một nền Văn hóa mới, một nền văn hóa có khả năng tổng hợp được các giá trị đông tây kim cổ.... Thế nhưng cho tới nay chưa ai tìm ra nền. Theo cơ cấu luận thì Âu Tây duy hữu, hữu vi. Còn Ấn Độ thì duy vô: vô vi. Đều không phải là cơ cấu tổng hợp. Chỉ triết lý An Việt mới có cơ cấu tổng hợp: " có mà như không, không mà lại có ". Chỉ có cơ cấu lưỡng hợp đó mới đủ khả năng tổng hợp những giá trị lẻ tẻ (do lương tri) của Âu Ấn để chỉ hướng đi cho con người ngày nay đang đầy xao xuyến khắc khoải.

Thế nhưng có điều bất hạnh là triết lý giàu tính cách tổng hợp kia lại không được mấy ai biết đến. Âu Tây đã đành mà ngay đến những người trong khối Việt Nho cũng không hơn. Đấy là chỗ người Việt tị nạn cần lưu tâm. Đấy là chỗ chúng ta có thể đóng góp cho thế giới. Hiện tình nhân loại chỉ biết sống trên bình diện lợi hành, trên nữa không còn đạo lý nào cả. Vì vậy đầy chia rẽ, rất là nguy hiểm. Ngay khối Cộng sản còn đang trong giai đoạn chinh phục lẽ ra phải đoàn kết lắm để tránh họa vậy mà cũng vẫn chia năm xẻ bảy rồi.

Tóm lại, quay chiều nào cũng đầy chia rẽ tự trong bản chất tức còn thiếu một nền triết lý tâm linh tổng hợp. Vậy mà đấy chính là chỗ chúng ta có thể góp phần. Muốn góp phần thì bứơc đầu tiên phải là nghiên cứu học hỏi tài bồi cho nền triết Việt Nho của chúng ta ngày thêm sáng tỏ và phổ cập tới mọi người.
Tôi ước mong sẽ làm sao cho có sự gia tăng nỗ lực học triết Việt, trước là để nuôi dưỡng những đức tính dân tộc quý báu của ta, sau là để hy vọng đóng góp vào nền văn hóa toàn cầu.
Nghĩa vụ con người Việt ở đó. - Nghĩa vụ gia đình, quốc gia Việt cũng ở đó. Hơn thế nữa, nghĩa vụ quốc tế chúng ta chính là ở đó.
( Hết trích )

Tóm lại

Theo Nho giáo cũng là Việt Nho thì " vạn vật đồng nhất thể " và " vạn vật tương liên ", nghĩa là vạn vật đều có cùng bản chất, đều được cấu tạo bởi vật chất và năng lượng, vật chất và năng lượng đều chuyển động không ngừng theo vô vàn tần số khác nhau, các vật rắn cũng đều chuyển động không ngừng theo tần số thấp nên mắt ta không thấy được, nhờ các tần số mà mọi vật đều có liên hệ mật thiết với nhau.

Vì thế mỗi hành vi cử chỉ, ngay cả mỗi suy tư của mỗi cá nhân chúng ta đều có ảnh hưởng khắp cùng vũ trụ: hoặc có cùng tiết nhịp Hòa hay là gây ra các Nhiễu loạn trong vũ trụ.

Ngay đến những tư tưởng tốt hay xấu của mỗi chúng ta đều được các tần số luân chuyển trong vũ trụ theo từng loại ( cùng tần số: Theo luật loại tụ: đồng thanh tương ứng, đống khí tương cầu ) và cũng gây ảnh hưởng trong vũ trụ như thế.
Trở lại vấn đề tính tốt và tính xấu của dân tộc ta:
Nhất nhất mỗi sinh hoạt của mỗi cá nhân đều có gây ảnh hưởng chung lên hoàn vũ nên có ảnh hưởng đến các người khác.

Vậy những đức tính tốt hay xấu của dân tộc đều có phần chung góp của mỗi chúng ta. Vì vậy cho nên trong việc sửa đổi lại các nết xấu cũng như trau dồi thêm tính tốt của dân tộc phải là công việc chung của mọi người, mọi người đều có trách nhiệm và quyền lợi chung ở trong để giúp đỡ nhau tiến lên.
Các vị lãnh đạo tinh thần cũng như những kẻ sĩ hay các bậc trí thức là những người ý thức được sự quan trọng của vấn đề quốc nạn và quốc nhục ngày nay là do công tội chung của mọi người, của nhiều đời, nhưng chính quý vị ngày nay là người có trách nhiệm và quyền lợi lớn hơn hết.

Những hiểu biết về con đường tu thân của các quý vị có thể giúp mọi người rút ngắn công việc tu tiến làm người. Trong mọi sinh hoạt của con Người thì công việc tu thân là quan trọng bậc nhất. Nếu không tu thân để làm con Người đúng nghĩa, thì là vong bản. Cái nạn vong bản kéo theo các nạn vong thân, vong gia, vong quốc, vong nô. Đó là nan đề căn bản của xã hội chúng ta. Cộng nô vong nô đã và đang đem đất nước ta tới bờ vực thẳm.
Tuy mỗi người có những khả năng và chuyên những lãnh vực khác nhau, nhưng khi đã làm việc nước thì phải giúp mọi người của đất nước cùng làm phận sự của mình theo một hướng chung, trong công việc xây dựng lại con người thì mọi người giúp nhau gây lên một phong trào cùng làm, chứ nếu cứ làm theo kiểu "độc thiện kỳ thân ", việc" cua cua máy, việc cáy cáy đào " thì xem ra chẳng có tác dụng đến tình trạng rối loạn của xã hội bao nhiêu .

Trách nhiệm khởi đầu là các vị lãnh đạo tinh thần, của các vị thức giả, nếu các vị cứ điềm nhiên bất động thì lấy ai có đủ khả năng, đức độ và kinh nghiệm để làm đây? Cha ông chúng ta đã bảo" quốc gia hưng vong thất phu hữu trách , huống hố là các bậc vị vọng như quý vị.

Lịch sử sẽ phán xét mỗi chúng ta về vai trò của mỗi chúng ta trước cảnh quốc phá gia vong này: Đất nước đang bị tàn phá hàng ngày hàng giờ bởi nội thù và ngoại xâm!!

Liệu khi các gọng kìm nô lệ đã xiết chặt thêm, phỏng chúng ta có thể sống bình chân như vại được mãi không?

Ngày này nhièu người cứ tưởng phong trào dân chủ đang lên, chúng ta cứ kể tội CSVN cho nhiều và chờ cho chúng sụp đổ, các nhà làm chính trị chẳng hạn theo kiểu Tam quyền phân lập của nền dân chủ Hoa Kỳ, rồi theo lối đa nguyên đa đảng, chia ghế cho nhau mà lo việc xây dựng đất nước là xong chuyện!
Những ý nghĩ ngây thơ này đã ám ảnh nhiều người tự nhận là mình có trách nhiệm cứu nước, thật ra đây không phải là những ý tưởng xây dựng đáng lưu tâm, vì họ không nhận ra nan đề cũng như không có đáp đề cho con Người và Đất Nước!

Vấn đề đất nước chúng ta chẳng đơn giản chút nào, nó là vấn đề khó khăn nhất trên thế giới. Đất nước chúng ta chẳng khác nào cái hố rác của thế giới, nhũng nan đề của Tư bản và Cộng sản đều tồn đọng nơi đây, nhất là vấn đề con Người: Đó là con người bất Nhân, đưa đến xã hội bất Công.

Cứ nhìn vào tình trạng các cộng đồng ở hải ngoại ra sao thì ta thẩm định được tư cách và khả năng của chúng ta, nhất là các vị làm chính trị, để mà chuẩn bị, lo liệu mọi sự trước đi. Một việc nhỏ mà làm chưa xong thì làm sao mà đang được việc lớn đấy?
Phải chỉnh đốn lại cái tư tưởng làm chính trị: Để tranh danh đoạt lợi hay là lo cho được "ích quốc lợi dân" đây ?
Nếu là ích quốc lợi dân thì đã có đường lối chung để quy kết toàn dân chưa, đã có những Quốc kế Dân sinh giúp cho mọi người đều tay đóng góp, đã có những người đủ tư cách và khả năng cũng như phương pháp thực hiện làm sao để xây dựng các cơ chế xã hội nhằm thực hiện sự công bằng tương đối để cho dân nhờ. Chứ cứ ngồi mà đợi đèn xanh đèn đỏ thì thật là thảm thương cho đất nước!

Ta đừng quên rằng, các Tổ phụ của đất nước của Hoa kỳ này cũng phải " lao tâm tổn trí " cùng trải qua " bách chiết với thiên ma " mới thiết lập nên chế độ có nền tảng công bằng tương đối tốt đẹp nhất trên thế giới hiện nay.

Các Tổ phụ họ là những người có tài cao đức trọng và dày công tìm tòi mới xây dựng nên được.
Nhưng đất nước này còn do con Người bất toàn quản trị, nên cũng còn vô số vấn đề to lớn cần sửa đổi, nhất là vấn đề cuộc sống đa dục, mọi vấn đề đều bị lạm dụng, nhiều người trong nước đã sống thừa mứa trên nợ vay ( credit card )!

Nay đang bị rắc rối to vì lối sống quá đà đó, cần nhiều tâm não và công của mới vượt qua được, toàn là mô hôi xương máu của toàn dân!
Họ đã không có cuộc sống quân bình, là đời sống tiết độ, nghĩa là không sống theo lối Diệt dục hay Đa dục mà là Quả dục. Sống không tiết độ làm cho đời sống mất quân bình, là nghịch với thiên lý, làm tổn hại đến nhân sinh..

Ngày nay, các xã hội đang tiến lên con đường Toàn cầu hoá để mọi quốc gia cùng chia sẽ với nhau mọi thứ để sống với nhau trong hoà bình, chứ theo lối " Thượng hạ giao tranh lợi " quá đà thì trước sau gì cũng đi vào ngõ bí, vì đã tương tranh mà không tuân theo lẽ " phải người phải ta " mà rướn tới sẽ dẫn đến tương đấu rồi tương diệt!

Vấn đề trước tiên của chúng ta là phải xây dựng cho được những con Người Nhân chủ, biết cách làm chủ chính mình, gia đình mình và đất nước minh và nhất là biết sống công bằng để hoà với nhau, họ phải là những con người có đức có tài, mới mong đưa đất nước ra khỏi vũng lầy hôm nay. Không quan tâm đến con Ngươi, mà chỉ loay hoay quanh các hiện tượng xã hội thì chỉ là làm việc chắp vá cho qua ngày để tranh danh đoạt lợi mà thôi!

Sau đó phải làm sao để thực hiện một xã hội tương đối công bằng, để cho mọi người dân có quyền " được ăn và được nói ", thì mới mong xã hội được yên vui và con Người được hạnh phúc.

Vấn đề này rất phức tạp và khó khăn, tôi chỉ xin có đôi lời để góp ý chung.
Trân trọng,
Nguyễn Quang

Nguon-Internet

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Trên cõi đời này, chắc hẳn không ai được sinh ra mà không do sự mang nặng đẻ đau của một bà Mẹ, người Mẹ thực sự là hiện thân của tình yêu thương, người Mẹ như là một tổ ấm, như là một cái nôi từ khi bào thai mới tượng hình trong lòng Mẹ./22 Tháng Tám 2013(Xem: 6491)/
Tôi lặng đứng trước ngôi mộ đơn sơ của một người thầy cũ, đúng ra là Linh mục Hiệu trưởng, nhưng bây giờ cái cảm tưởng một vị thầy, một vị Hiệu trưởng để lại ấn tượng trong lòng tôi nhiều hơn cả chức năng mục vụ Linh mục của thầy./10 Tháng Mười Một 2012(Xem: 4010)/
Lời nói “Ta yêu con” cứ vang mãi trong những bước chân nhịp nhàng đầy hy vọng. Hai bên đường những cánh đồng lúa chín vàng, mùa gặt đến! Hồn nhỏ với tâm tình yêu mến người chết trên giá gỗ, đã hòa nhập với dòng người lên đường gặt hái những vụ mùa trên đồng lúa bao la!/18 Tháng Tư 2014(Xem: 3873)/
Trong các cha xứ về ở làng Ba, Vinh Trung lâu nhất là Cha Phêrô Trần Đình Trọng, khoảng mười tám năm, từ năm 1967 cho đến khi ngài qua đời vào năm 1985. Lâu như vậy cũng có thể vì thời cuộc vào thời điểm đó, và cũng nhờ đó Cha Trần Đình Trọng đã để lại nhiều ký ức, nhiều kỷ niệm trong lòng giáo dân Vinh Trung cho đến tận bây giờ./05 Tháng Chín 2014(Xem: 5563) Đặng Xuân Hường/
Năm 1954, Duyên Anh di cư vào Nam. Để kiếm sống, ông đã làm mọi công việc của một thanh niên hè phố, chẳng có nghề ngỗng nào nhất định. Khi thì theo một nhóm sơn đông mãi võ, khi tháp tùng đoàn cải lương lưu diễn đây, mai đó./17 Tháng Năm 2012(Xem: 5357) Đoàn Thạch Hãn/
Nói đến ngôi trường làng, lớp trẻ bây giờ và có lẽ lớp tuổi trên dưới năm mươi ở Bình Giã mấy mươi năm trước, không ai là không một thời cắp sách đến ngôi trường làng. Cái tuổi hồn nhiên, ngây thơ được đến trường ê a học vài chữ thấy sao nhớ thương chi lạ! blank Có một bài hát ngắn của những năm đầu tiên đi học, chắc chẳng mấy ai quên : "A b c là ba chữ đầu. Ô ê kia đầu có nón che. Học cho chăm đừng có khóc nhè”! Cái thuở mà học trò cắp sách đến trường chỉ vỏn vẹn cuốn tập, lọ mực tím, cây bút. Cặp sách, bút pilot, alpha...hồi đó còn là một xa-xí phẩm đối với học trò. Cha mẹ lo cày cấy, thu hoạch chẳng được bao nhiêu, làm sao có thể có đủ tiền bạc để mua sắm những thứ tốn tiền đó. Có sách vở bút mực là đã tương đối đầy đủ rồi. Đi học trường Tiểu học, tay ôm mấy cuốn tập, tay xách lọ mực tím, và đi chân đất! Bây giờ mỗi lần nghe đến "mực tím" tưởng tượng thấy dễ thương, hồn nhiên và rất gợi nhớ tuổi học trò.
Mỗi lần về thăm quê cũ, tôi thường gặp lại những người quen với nhiều kỷ niệm xa xưa trong ký ức, trong quá khứ. Năm nay, trong chuyến về quê thêm một lần nữa, tôi chợt thấy xao động trong lòng khi gặp lại một người bạn thân quen từ hồi còn nhỏ xíu, nhưng cái kỷ niệm khó quên thuở ngày xưa vẫn nằm im trong tiềm thức tôi từ ngày ấy./18 Tháng Bảy 2012(Xem: 8720) /
Khi nói về lịch sử Việt Nam, người ta thường hay nhắc đến cụm từ “Việt Nam có bốn nghìn năm văn hiến” mà văn hiến là truyển thống văn hóa lâu đời. Người ta cũng nói đến hai chữ văn vật vốn là truyền thống văn hóa biểu hiện ở nhiều nhân tài và nhiều di tích lịch sử.../09 Tháng Sáu 20122:00 CH(Xem: 4568)/
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh ("Tây tiến", thơ Quang Dũng) Xa nhìn thấp thoáng trong mây muôn bóng quân Nam chập chùng... (1) Câu hát ấy, từ bao năm nay vẫn cứ theo tôi, theo tôi mãi. Câu chuyện bắt đầu tư những ngày xa xưa, thuở tôi còn là cậu học trò nhỏ vừa bước vào năm học đầu tiên của một trường trung học ở thành phố cao nguyên có cái biệt danh nghe buồn buồn là "Buồn-muôn-thuở". Cậu học trò ấy, vào mỗi sáng thứ Hai, cùng chúng bạn đứng xếp hàng ngay ngắn trước sân cờ nao nức chờ đợi phút giây được tham dự vào nghi thức thượng kỳ đầu tuần trong bầu không khí thật trang nghiêm giữa sân trường thuở ấy.
“Thế là cậu đã nhẹ nhàng ra đi, rời xa cái thế giới mà cậu đã để lại rất nhiều sau hơn 80 năm góp mặt và đã sống tràn đầy từng phút từng giây. Trước hết, là một nhạc sĩ, cậu đã để lại hơn 200 nhạc phẩm, đã làm phong phú đời sống tinh thần và tình cảm của hàng triệu người nghe, và sẽ còn làm rung động tâm hồn hàng triệu người yêu nhạc nữa trong những thế hệ mai sau. Là một nghệ sĩ tài danh, cậu không kiêu căng lập dị. Trái lại, cậu đã luôn luôn cư xử khiêm tốn, nhún nhường, tôn trọng người khác như tác phong của con người có văn hóa, một đức tính đã khiến cậu được nhiều người mến mộ và noi gương. Là một nghệ sĩ chân chính, cậu đã không để đồng tiền làm vẩn đục tâm hồn. Cậu không đòi hỏi những ca sĩ trình diễn nhạc phẩm của mình phải trả tiền tác quyền mà chỉ nhận tiền của những ban nhạc lớn nhưng hầu hết số tiền thu được cậu đã đem tặng cho các hội từ thiện.
Bảo Trợ