Chữ “non nước” trong thơ Tản Đà

06 Tháng Sáu 20122:00 CH(Xem: 5092)

Các nhà văn nhà thơ thường vô tình hay nhắc đi nhắc lại một số từ ngữ mà họ đã dùng, hay rất vô tình dùng một vài chữ sẽ được gắn liền với họ, không còn gột bỏ được, dù đời không có ác ý. Mai Thảo bị gắn liền với hai chữ “vỡ òa”. Nắng vỡ òa. Thanh Tâm Tuyền được nhắc nhở với mấy chữ “đạn nổ nhịp ba không chết”.

 blank

Tản Đà, hình vẽ vào ngày giỗ thứ 31, tháng 6 năm 1970, Sài Gòn. (Hình: Tài liệu Viên Linh)

 

Tại Miền Nam có thi sĩ được gọi là thi sĩ “rong rêu,” vì chữ này hiện lên liên tục trong nhiều bài thơ của ông. Có thi sĩ “liên tồn,” ai cũng biết là nhà thơ không vợ Bùi Giáng. Ngược đường xuân thu, Nguyễn Du hay dùng chữ số phận, “phận sao phận bạc như vôi,” Cao Bá Quát văng tục vào mặt lịch sử “Đù ảo trần gian,” Nguyễn Khuyến quanh quẩn với “ao thu,” “gió thu;” và tháng 6 này, ngày 7 năm 1939, nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu ra đi, chúng ta hãy nhớ lại xem những chữ ông hay dùng.

 

Các thi sĩ làm thơ, mỗi người có một thi ngữ riêng, dù người thi sĩ đó không tuyên bố thi ngữ của họ như thế nào. Thi ngữ của một thi sĩ ví như bửu bối của một hiệp khách, có người rành về trường kiếm, có kẻ giỏi về đoản đao, hay nói một cách khác, về hình thái chẳng hạn, có người xuất sắc về lục bát, có kẻ thiện nghệ về thất ngôn. Làm một ngàn bài thơ có khi không phải là thi sĩ giỏi, nếu thơ như máy nước, vặn xuôi thì nước chảy ào ào, vặn ngược thì nước đóng lại ngay, không nhỏ một giọt, tựa như vòi phông-tên được tiện khéo mà thôi. Sau này vòi nước không phải là vặn xuôi hay vặn ngược nữa, mà nhấc lên, ấn xuống, thì có nước nóng, nước lạnh, vặn trái hay phải thì đóng hay mở, đó chỉ là vòi nước tân hình thức, hậu hiện đại, công dụng vẫn là có nước hay không, khiến người ta dơ hay sạch dễ hay khó mà thôi. Trở về với Tản Đà, thi hào của Văn chương Việt Nam thế kỷ hai mươi, ông hay dùng hai chữ, ngoài thơ và rượu, là chữ ‘non nước’.

 

Đây là bài thơ Tản Đà thích nhất:

 

Non xanh xanh

 

Nước xanh xanh

 

Nước non như vẽ bức tranh tình

 

Non nước tan tành

 

Giọt lụy chàn [tràn] năm canh!

 

Đêm năm canh

 

Lụy năm canh

 

Nỗi niềm non nước

 

Đố ai quên cho đành?

 

Quên sao đành?

 

Nhớ sao đành?

 

Trần hoàn xa cách

 

Bồng lai non nước xanh xanh!

 

Bài này chính thi sĩ ngâm lên sau câu hỏi của nhà biên khảo Trương Tửu Nguyễn Bách Khoa: “Một lần nói chuyện với tiên sinh [Tản Đà], tôi có hỏi: ‘Thưa cụ, trong các bài thơ cụ đã làm, cụ có thể cho biết cụ thích bài nào nhất?’ Không suy nghĩ, thi sĩ trả lời ngay: ‘Tôi thích nhất bài ca làm trong tập Giấc Mộng Con thứ hai đề Tây Thi hát.’” Rồi tiên sinh ngâm, sảng khoái. (1) [1. Trương Tửu, Uống rượu với Tản Đà, Đại Đồng Thư Xã, Hà Nội, 1939, trang 25.] Tản Đà mất ngày 7 tháng 6 năm 1939, mà bài viết của Trương Tửu ghi ở dưới “Viết trong tháng Janvier 1939,” nghĩa là viết trước đó 5 tháng. Nhà thơ tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1889, hưởng dương 50 tuổi.

 

Trong quãng đời ngắn ngủi ấy, trải qua những ngày tháng phong trần, vào Nam ra Bắc chỉ để làm báo, thơ ông lồng lộng nắng gió, mênh mông núi sông, ngào ngạt mùi vị rau ngải rau tần, và những lúc lắng đọng, người ta nghe ông ngâm thơ về non nước:

 

Dưới bóng trăng tròn, tán lá xanh,

 

Nhớ chăng? Chăng nhớ? Hỡi cô mình?

 

Trăm năm ghi nguyện cùng non nước

 

Nước biếc non xanh một chữ tình!

 

(Tản Đà, Lưu tình)


 

Kìa bức dư đồ thử đứng coi

 

Sông sông núi núi khéo bia cười.

 

(Vịnh bức dư đồ rách)

 

Mơ màng đâu đó bao dân chúng

 

Tô điểm nào ai với núi sông!

 

(Đêm Tối)

 

Lo nước, thương đời đêm chẳng ngủ

 

(Tháng ba không mưa)

 

Còn non, còn nước, còn trăng gió

 

Còn có thơ ca bán phố phường

 

(Đề Khối Tình Con thứ nhất) 

 

Bôn mặt non sông một mái chèo

 

(Sông cái, chiếc thuyền nan - đề báo An Nam Tạp Chí số 1)

 

Mặt nước khói tan chìm vía cá

 

Đầu non sương phủ dạn thân tùng

 

(Hủ nho lo mùa đông)

 

Ai rằng Nam Bắc cách đôi nơi

 

Cũng một non sông một giống nòi

 

(Thơ tặng Phụ Nữ Tân Văn xuất bản ở Sài gòn)

 

Mặt nước sông Đà tim róc rách

 

Ngàn mây non Tản mắt lơ mơ

 

(Ngày Xuân thơ rượu)

 

Và bài thơ nổi tiếng nhất của Tản Đà trong nhiều sách Giáo Khoa, là bài

 

Thề non nước

 

Nước non nặng một nhời thề

 

Nước đi đi mãi không về cùng non

 

Nhớ nhời “nguyện nước thề non”

 

Nước đi chưa lại, non còn đứng không

 

Non cao những ngóng cùng trông

 

Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày

 

Trích dẫn từng ấy cũng đủ để thấy rằng lòng Tản Đà ở với nước non, thơ Tản Đà sống cùng non nước. Làm thi sĩ như ông, thi ngữ quê hương tự tại bẩm sinh trong dòng máu, thơ ông tự bản chất là thơ của thi bá thi hào dân tộc thế kỷ XX, và mãi mãi. (VL, 6 tháng 6.2012, ngày giỗ thứ 73 của người Núi Tản Sông Đà.)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Nhích đến gần tuổi “thất thập cổ lai hy”, nghĩ đến mẹ, nhớ đến cha, có lẽ ai cũng phải khắc khoải, ngậm ngùi trong cảm nhận thấm thía về chuyện đời “nước mắt chảy xuống”. Cha tôi mất đã được bảy năm, tôi chỉ tình cờ có được tập thơ “Tâm Tình” của cha cách đây chừng một năm, trong một dịp đi San Jose thăm mẹ và thắp hương trước bàn thờ của cha
Gởi con yêu, Sau vụ vi phạm nghiêm trọng tại kỳ thi tốt nghiệp THPT ở hội đồng thi Trường THPT dân lập Đồi Ngô (Bắc Giang), ba nhận thấy con có vẻ bị khủng hoảng niềm tin vào thầy cô, vào kết quả trong thi cử ở nước ta, nhất là sau những tuyên bố mang tính “nguỵ biện” trắng trợn của các vị lãnh đạo Bộ GD&ĐT.
Những hành khách, dù đã từng vượt mây xanh với trên các loại máy bay khác nhau, hay chưa một lần trải nghiệm cảm giác lâng lâng, nao nao khi được bay vút lên trời cao, đều nghiêng đầu nhìn vào cửa sổ máy bay để ngắm nhìn cảnh vật. Thật là một trải nghiệm lý thú...
Khi nói về lịch sử Việt Nam, người ta thường hay nhắc đến cụm từ “Việt Nam có bốn nghìn năm văn hiến” mà văn hiến là truyển thống văn hóa lâu đời. Người ta cũng nói đến hai chữ văn vật vốn là truyền thống văn hóa biểu hiện ở nhiều nhân tài và nhiều di tích lịch sử...
Hai sắc hoa ti gôn, bài thơ có số phận kì lạ và bí ẩn như chính tác giả của nó. Thật vậy, đã hơn 70 năm – đã gần qua một đời người với biết bao thăng trầm dâu bể mà chuyện tình thơ Hai sắc hoa ti gôn của T.T.Kh vẫn tươi nguyên màu bí ẩn
Không hiểu vì sao mà tôi nhớ Huế quá chừng. Đêm nằm trăn trở vẫn thấy hiển hiện dòng Hưong Giang nước xanh trong… Mới đây, hai vợ chồng làm một cuộc viễn du từ Diên Khánh ra Đà Nẵng, rồi Huế... Mới trở vào, đã nghe thèm mè xững sông Hương
Bonsai có thể mua ở các nhà sản xuất bên Mỹ và cũng có tự sản xuất, tôi cùng anh thường vào các trại bán hoa kiểng lớn, lục lọi các cây thông, cây tùng hư, cong vẹo, cằn cổi, có khi là những cây gần chết vụt bỏ thùng rác…
Chỉ vài vần thơ con cóc đó thôi cũng đủ để tôi thành kẻ bất mãn, bất trị trong mắt các đồng chí cũng như các quan đồng chí của mình, đến mức, khi tôi vào hội nhà văn Hà Nội( thực tình tôi không có ý định vào vì tư cách của các văn nghệ sĩ nước nhà khi đó chẳng danh giá gì). Nhà thơ gì mà suốt ngày xin nước gạo, cọ chuồng lợn, mua cám, nuôi heo?
Vào đầu thế kỷ thứ 20, sự phồn thịnh của nước Mỹ phát triển nhờ chuyển vận. Đất nước mênh mông ráp ranh 2 đại dương đã thành cường quốc kinh tế nhờ đường xe lửa và xa lộ. Trong hệ thống giao thông chằng chịt thì các cây cầu là nhu cầu then chốt. Cầu Golden Gate là bài toán khó nhất tại miền Tây.
Khung cảnh của trường Tấn Đức trông rất đẹp. Sân trường là một sân bóng rổ hiện đại, chỉ tiếc là dân mình khoái dùng chân đá hơn là dùng tay ném, nên bộ môn bóng rổ chẳng phát triển chi mấy. Phía trước sân trường mấy gốc phượng lớn.
Bảo Trợ