Chữ “non nước” trong thơ Tản Đà

06 Tháng Sáu 20122:00 CH(Xem: 5125)

Các nhà văn nhà thơ thường vô tình hay nhắc đi nhắc lại một số từ ngữ mà họ đã dùng, hay rất vô tình dùng một vài chữ sẽ được gắn liền với họ, không còn gột bỏ được, dù đời không có ác ý. Mai Thảo bị gắn liền với hai chữ “vỡ òa”. Nắng vỡ òa. Thanh Tâm Tuyền được nhắc nhở với mấy chữ “đạn nổ nhịp ba không chết”.

 blank

Tản Đà, hình vẽ vào ngày giỗ thứ 31, tháng 6 năm 1970, Sài Gòn. (Hình: Tài liệu Viên Linh)

 

Tại Miền Nam có thi sĩ được gọi là thi sĩ “rong rêu,” vì chữ này hiện lên liên tục trong nhiều bài thơ của ông. Có thi sĩ “liên tồn,” ai cũng biết là nhà thơ không vợ Bùi Giáng. Ngược đường xuân thu, Nguyễn Du hay dùng chữ số phận, “phận sao phận bạc như vôi,” Cao Bá Quát văng tục vào mặt lịch sử “Đù ảo trần gian,” Nguyễn Khuyến quanh quẩn với “ao thu,” “gió thu;” và tháng 6 này, ngày 7 năm 1939, nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu ra đi, chúng ta hãy nhớ lại xem những chữ ông hay dùng.

 

Các thi sĩ làm thơ, mỗi người có một thi ngữ riêng, dù người thi sĩ đó không tuyên bố thi ngữ của họ như thế nào. Thi ngữ của một thi sĩ ví như bửu bối của một hiệp khách, có người rành về trường kiếm, có kẻ giỏi về đoản đao, hay nói một cách khác, về hình thái chẳng hạn, có người xuất sắc về lục bát, có kẻ thiện nghệ về thất ngôn. Làm một ngàn bài thơ có khi không phải là thi sĩ giỏi, nếu thơ như máy nước, vặn xuôi thì nước chảy ào ào, vặn ngược thì nước đóng lại ngay, không nhỏ một giọt, tựa như vòi phông-tên được tiện khéo mà thôi. Sau này vòi nước không phải là vặn xuôi hay vặn ngược nữa, mà nhấc lên, ấn xuống, thì có nước nóng, nước lạnh, vặn trái hay phải thì đóng hay mở, đó chỉ là vòi nước tân hình thức, hậu hiện đại, công dụng vẫn là có nước hay không, khiến người ta dơ hay sạch dễ hay khó mà thôi. Trở về với Tản Đà, thi hào của Văn chương Việt Nam thế kỷ hai mươi, ông hay dùng hai chữ, ngoài thơ và rượu, là chữ ‘non nước’.

 

Đây là bài thơ Tản Đà thích nhất:

 

Non xanh xanh

 

Nước xanh xanh

 

Nước non như vẽ bức tranh tình

 

Non nước tan tành

 

Giọt lụy chàn [tràn] năm canh!

 

Đêm năm canh

 

Lụy năm canh

 

Nỗi niềm non nước

 

Đố ai quên cho đành?

 

Quên sao đành?

 

Nhớ sao đành?

 

Trần hoàn xa cách

 

Bồng lai non nước xanh xanh!

 

Bài này chính thi sĩ ngâm lên sau câu hỏi của nhà biên khảo Trương Tửu Nguyễn Bách Khoa: “Một lần nói chuyện với tiên sinh [Tản Đà], tôi có hỏi: ‘Thưa cụ, trong các bài thơ cụ đã làm, cụ có thể cho biết cụ thích bài nào nhất?’ Không suy nghĩ, thi sĩ trả lời ngay: ‘Tôi thích nhất bài ca làm trong tập Giấc Mộng Con thứ hai đề Tây Thi hát.’” Rồi tiên sinh ngâm, sảng khoái. (1) [1. Trương Tửu, Uống rượu với Tản Đà, Đại Đồng Thư Xã, Hà Nội, 1939, trang 25.] Tản Đà mất ngày 7 tháng 6 năm 1939, mà bài viết của Trương Tửu ghi ở dưới “Viết trong tháng Janvier 1939,” nghĩa là viết trước đó 5 tháng. Nhà thơ tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1889, hưởng dương 50 tuổi.

 

Trong quãng đời ngắn ngủi ấy, trải qua những ngày tháng phong trần, vào Nam ra Bắc chỉ để làm báo, thơ ông lồng lộng nắng gió, mênh mông núi sông, ngào ngạt mùi vị rau ngải rau tần, và những lúc lắng đọng, người ta nghe ông ngâm thơ về non nước:

 

Dưới bóng trăng tròn, tán lá xanh,

 

Nhớ chăng? Chăng nhớ? Hỡi cô mình?

 

Trăm năm ghi nguyện cùng non nước

 

Nước biếc non xanh một chữ tình!

 

(Tản Đà, Lưu tình)


 

Kìa bức dư đồ thử đứng coi

 

Sông sông núi núi khéo bia cười.

 

(Vịnh bức dư đồ rách)

 

Mơ màng đâu đó bao dân chúng

 

Tô điểm nào ai với núi sông!

 

(Đêm Tối)

 

Lo nước, thương đời đêm chẳng ngủ

 

(Tháng ba không mưa)

 

Còn non, còn nước, còn trăng gió

 

Còn có thơ ca bán phố phường

 

(Đề Khối Tình Con thứ nhất) 

 

Bôn mặt non sông một mái chèo

 

(Sông cái, chiếc thuyền nan - đề báo An Nam Tạp Chí số 1)

 

Mặt nước khói tan chìm vía cá

 

Đầu non sương phủ dạn thân tùng

 

(Hủ nho lo mùa đông)

 

Ai rằng Nam Bắc cách đôi nơi

 

Cũng một non sông một giống nòi

 

(Thơ tặng Phụ Nữ Tân Văn xuất bản ở Sài gòn)

 

Mặt nước sông Đà tim róc rách

 

Ngàn mây non Tản mắt lơ mơ

 

(Ngày Xuân thơ rượu)

 

Và bài thơ nổi tiếng nhất của Tản Đà trong nhiều sách Giáo Khoa, là bài

 

Thề non nước

 

Nước non nặng một nhời thề

 

Nước đi đi mãi không về cùng non

 

Nhớ nhời “nguyện nước thề non”

 

Nước đi chưa lại, non còn đứng không

 

Non cao những ngóng cùng trông

 

Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày

 

Trích dẫn từng ấy cũng đủ để thấy rằng lòng Tản Đà ở với nước non, thơ Tản Đà sống cùng non nước. Làm thi sĩ như ông, thi ngữ quê hương tự tại bẩm sinh trong dòng máu, thơ ông tự bản chất là thơ của thi bá thi hào dân tộc thế kỷ XX, và mãi mãi. (VL, 6 tháng 6.2012, ngày giỗ thứ 73 của người Núi Tản Sông Đà.)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Nếu bạn là người Bắc hay Nam chưa từng ở Huế, bạn sẽ không hiểu được ba chữ “đi kéo ghế” là nghĩa như thế nào hay sẽ tự hỏi thầm: “Cái dzì dzậy cà?” hay “Cái gì thế nhỉ?”Cho dù bạn là người Huế 100% nhưng ở vào khoảng tuổi 40 trở lại, e rằng bạn cũng sẽ phân vân. “Đi kéo ghế là đi mô rứa hè?”
Đức thánh thứ nhất là tu sĩ Đỗ Bá Lung từ Ngọc Đông, Hưng Yên đã chết ở Cổng Trời còn đức thánh thứ hai này thì bị bức hại tàn ác dã man ở trại Phong Quang, Lao Kay. Ngài tên là Lâm Đình Túy người Nam Hà...
Khu O và khu H, tôi không biết nó thế nào. Chịu. Không hình dung ra nổi, vì tôi không nhìn thấy ai ở đấy và không hề gặp ai ở trong đó ra kể chuyện lại để biết. Chỉ nhìn thấy Cha Vinh, Cha Quế vào đó và không thấy hai cha đó ra về nữa mà thôi.
Người tôi quen thân nhất là Nguyễn Ngọc Lương vì Lương cùng làm đài phát thanh Saigon với tôi nhiều năm, lại cùng quê Nam Định. Lương ở Hải Hậu, tôi ở ngay tỉnh lỵ. Vì tình đồng hương, chúng tôi dễ thân nhau. Hồi mới gặp Lương, tôi không ngờ ông lại là một cán bộ...
“Người ta” muốn chúng tôi “nhận tội” và muốn biết ai đã truyền chức cho chúng tôi. Không thể nhận tội vì lãnh sứ vụ Linh Mục không phải là tội, mà chẳng có khoản nào trong bộ luật nào của đất nước này lại kết luận lãnh sứ vụ Linh Mục là tội. Về danh tánh của vị Giám Mục, tôi trả lời lương tâm không cho phép nói, người ta đã đập bàn lớn tiếng với tôi: “Vào đây mà còn nói lương tâm à ?” – Tôi cất lời nhẹ nhàng hỏi lại họ: “Vậy ở đây không có chỗ cho lương tâm sao ?”
"Nheo mắt nhìn thế giới" - NXB Văn học 2008, là một tập thơ có tiếng vang và hay nhất của Bằng Việt. Trong lời giới thiệu tập thơ, Ông đã viết: - Thơ đối với tôi (tức tác giả) không chỉ là thơ mà còn là một thái độ sống. Đã là một thái độ sống, thì bút pháp thể hiện cốt sao nói được hết điều mình cần nói, cần tỏ thái độ...
Ngày ấy đã lâu lắm rồi, dưới mái trường Hồng Lĩnh thân yêu, tôi đã được diễm phúc ngày ngày mặc chiếc áo dài trắng tinh cắp sách đến trường, tôi nói diễm phúc, vì thời ấy chinh chiến còn điêu linh trên khắp nẻo đường quê hương, biết bao cô gái còn tuổi học trò như tôi chẳng được diễm phúc đó...
Âm nhạc Việt Nam có hai truyền thống, truyền thống dân gian và truyền thống bác học. Truyền thống dân gian dính liền với đời sống trong xã hội và đi dài theo suốt cuộc đời của người Việt Nam từ lúc sơ sanh cho đến khi trở về với cát bụi. Bắt đầu là tiếng hát ru khi còn nằm nôi, vừa lớn lên có đồng dao dành cho các trò chơi, đến tuổi lao động thì có câu hò trong khi làm việc,
Có một chuyện cung đình thời nhà Nguyễn do nhà thơ Tản Đà kể lại, xưa nay người viết bài này chưa từng đọc thấy ở đâu, cho mãi tới tháng này, nhân ngày giỗ thứ 73 của thi sĩ (7 tháng 6, 1939 -7 tháng 6, 2012). Lạ là ở chỗ Tản Đà được biết đến như một thi sĩ bình dân, xuôi Nam ngược Bắc vì nghề báo...
Tôi không là một đứa con gần cha lẫn gần mẹ trong gia đình. Nghĩa là, so với các anh chị em khác, tôi là đứa ít khi tâm sự với Ba Má những chuyện riêng tư của mình. Nhưng tôi có nhiều kỷ niệm với Ba tôi hơn là với Má, nhiều hơn so với những chị em gái trong nhà. Kỷ niệm đầu tiên tôi có về hình ảnh của Ba là ngày Má tôi từ Mỹ Tho hốt hoảng trở về, nói, “Ba bị người ta bắt rồi!” Tôi nhớ ngày đó tôi còn nhỏ lắm, chỉ chừng 7, 8 tuổi, tôi đứng tựa nơi một góc giường. Bật khóc.
Bảo Trợ