Đi Bò

01 Tháng Hai 20133:00 CH(Xem: 4213)

  Hương Đồng Quê: Đi Bò

 

 Tiếng Bình Giã mình thật là giản dị, khi muốn diễn-tả công việc của chú bé chăn bò, chẳng văn hoa, chẳng dài dòng lôi thôi mà cộc lốc: “Đi bò”. Đúng với truyền thống "chặt to kho mặn", thật thà chất phác của dân quê Nghệ-Tĩnh-Bình nhà mình!

 

 Bình Giã chủ yếu làm ruộng làm rãy. Vì nhu cầu cày bừa và cũng để thêm thu nhập chăn nuôi, hầu như nhà nào ở Bình Giã cũng nuôi vài con bò. Công việc này là cuả các cô các cậu chừng bảy tám tuổi đến mười ba mười bốn. Cỡ đó đa số là có thể "một mình một ngựa" rong ruổi khắp "đồng ruộng rãy rú" được rồi!

 blank

 Trường làng quê học từ bảy giờ rưỡi sáng đến mười một giờ rưỡi trưa là tan học. Vừa về đến nhà chỉ cần thay quần aó, xách gói cơm nước đã được mẹ chuẩn bị sẵn thế là "lên ngựa" thành"cowboy"!

 

 Thuở mà Bình Giã chưa phát hoang làm rãy nhiều, đi bò thật sướng. Nói là phải chăn dắt, nhưng thật ra là "rịt bò" đi thả, rồi chiều chiều tà-tà đi ra cổng làng đón coi bò nhà mình về đến đâu. Hồi đó, Bình Giã làng nào cũng vậy, vừa đi ra cổng làng là có nhiều bãi đất trống, chẳng ai trồng trỉa gì cả, mùa mưa đến cỏ mọc "um-xùm" bò mặc sức mà "gặm"!

 

 Các cô các cậu đi bò tha hồ chơi. Thôi thì đủ thứ từ chơi "khẳng",chơi “xỉa”, "chọi gụ", "đá kiện", "chạc địu"(giây thun),"đi trốn đi tìm", ném loong...Làng Ba có một khu đồn điền cà-phê của Tây hồi xưa rất rộng lớn. Chủ đồn điền là ông Ba Xương không ở Bình Giã. Người làm công thì ít, coi sóc không xuể. Dân đi bò tha hồ "làm mưa làm gió", cứ thả bò vào vườn cà-phê rồi thì thảnh thơi đi tìm "hoa thơm trái lạ" mà hưởng! Chẳng biết có "tội lệ" gì không, chứ từ nhỏ đến lớn chắc chẳng mấy ai không nếm qua "hoa trái" đồn điền cà-phê này. Không những là nếm qua mà còn "thoả thuê" nữa là đàng khác!

 

 Mít thì "vô khối", chỉ cần đi tà tà dọc theo hàng mít, hỉnh mũi lên một chút, nghe thoang thoảng mùi thơm là: "Đây rồi!" Leo lên coi trái nào vỏ màu "sậm sậm", vỗ vài cái nghe "bịch bịch", coi như trúng mánh! Xẻ trái mít ra, thơm lừng nức mũi. Lũ bò đánh hơi mùi mít cũng xông vào "hôi xơ"! Lắm lúc phải cầm một miếng leo lên cây ăn cho rảnh nợ, còn lại thì cho "bò xực", cũng không tiếc rẻ gì, vì "thua keo này bày keo khác"; ăn một trái chưa đã thì kiếm cây nữa. Mít nhiều đến nỗi, có cây dù mít chín thơm phức mà "kiến ngựa" nhiều thì cũng chẳng "ma nào" thèm trèo lên...vì chịu gì nổi đám kiến "ngựa vàng"!

 

 Có lúc, đang lang thang nghểnh mũi tìm mít, thấy mấy con bò đang "ụi mỏ" trên mấy cành cà-phê um-tùm, thì biết ngay đây là mít của "em nào ủ trên đó", thôi thì không xơi cũng uổng. Ăn rồi thưởng cho lũ bò mấy miếng xơ coi như xong!

 

 Ngoài mít, còn có xoài. Có hai cây xoài cổ-thụ, có lẽ được trồng từ khi Tây mới vô Nam. Cây "xoài cát" rất được "hâm-mộ" và chiếu cố tận tình, vì cỡ nào cũng ăn được, không chua "té đái ra" như cây "xoài tượng". Cây nào cũng phải hai thằng ôm mới hết vòng, được cái cành lá xum-xuê thấp nên có thể trèo lên cây cà- phê rồi đu cành xoài trèo lên, hoặc làm biếng trèo thì tìm vài khúc củi ném lên cho xoài rụng. Mùa xoài đến, nhìn lên cây thấy toàn là trái, vậy mà lũ nhóc đi bò ăn toàn xoài xanh, chẳng mấy khi được "đớp" một quả chín!

 

 Có một cây sữa trắng, cũng rất cổ-thụ. Từ thuở cha sinh mẹ đẻ, tới khi đi bò rồi lớn lên thấy cây sữa đó vẫn cổ-thụ, cao lớn vậy, không "nậy" lên chút nào! Đủ biết tuổi tác của nó "thật kinh hồn"! Sữa thì khác với xoài, phải chín mới "xực" được! Hay ít ra cũng "chín tới". Ăn sữa chín tới, "mồm đứa mô cũng dính đầy mủ"! Đến mùa sữa chín, thấy trái nào da bóng là biết ăn được. Leo lên được cây sữa này không phải là chuyện dễ! Phải có "bằng leo" thì mới có thể ngồi vắt-vẻo trên cành cây sữa ăn thoải mái. "Cỡ bằng tạm" thì may mắn lắm "vượt qua cầu", nghĩa là leo lên rồi dùng một cây sào dài để "thọc lét" cho sữa rụng, có thằng khác "thu-gom" ở dưới. Hoặc "kém hơn" thì cứ "rung đại" cả chín cả xanh cả non cả già rụng tuốt luốt! Loại "không có bằng leo" thì coi như chỉ có nước "ăn ké"! Vì gốc cây sữa này chắc phải ba hay bốn thằng ôm thì mới hết vòng cây! Dân đi bò đã từng sáng tác một "bài vè" để thưởng cho một anh bị...té cây sữa chổng cẳng! "Ch... gô trèo cây sữa, bổ cái bịch...!"

 

 "Mùa nào thức đó", còn một số cây "bòng" (bưởi). Bòng "đào", bòng trắng...có đủ cả. Rồi cam, quýt, "côn", chanh...Mấy thứ này "tương cận" với xoài, vì mới "rụng giún" là ăn được. Dân đi bò chẳng cần biết là non hay già, xanh hay chín. Chỉ biết là chua hay ngọt mà thôi! Chỉ có ông cố sữa xanh là "chát", nuốt không trôi, nên phải đợi cho đến lúc "chín tới", mới bắt đầu "đông khách"!

 

 Phía ngoài cuối vườn cà-phê còn có mấy cây "đào lộn hột"! Hồi xưa chẳng thấy ai kêu là "điều" như bây giờ. "Điều" nghe có vẻ "khách-sáo" và "kính-cẩn" quá! Dân đi bò (hoặc là dân Bình Giã mình ngay tê) thấy "hột lòi ra bên ngoài" thì cứ vậy mà kêu "đào lộn hột"! Chẳng trật đi đâu! Trái này mà còn xanh thì cũng chát, khó ăn hơn cả sữa! Vì chát lại còn ngứa nữa, nhưng đào lộn hột lúc đó là thứ "quí hiếm" nên được chiếu cố tận tình đến nỗi chẳng bao giờ thấy một trái đào lộn hột chín mọng trên cây. Trái chưa ăn được thì ăn hột. Hái trái xuống giục bỏ trái, nướng cái hột trên đống than thơm phức...Vừa lấy cục đá đập nhẹ cho bể ra vừa "coi chừng" dầu té vào mắt!

 

 Gần phía dưới hồ nước cuối vườn cà-phê, có một cây rất cao gọi là cây "sơn-trà" (?),trái tròn tròn như cái trứng gà, có vẻ giống xoài "quéo". "Hột to hơn trấy" là vì trái thì nhỏ mà hột thật to, "cơm múi" chẳng được bao nhiêu, nhưng có mùi thơm và vị chua ngọt hấp-dẫn vô cùng. Cây này thì cao ngun ngút dù có "bằng leo hay không" cũng đành "chắp tay lỗ đít mà ngó"! Hoạ chăng anh nào khoẻ thì "ném đại" lên khúc củi "được chăng hay chớ"! Vì vậy, mùa trái chín, hôm nào có gió to là coi như "chật chỗ chờ"! Ít ra dăm bảy đứa chờ trái rụng!

 

 Đi bò vườn cà-phê, vừa xuống hồ tìm bò uống nước vừa "thăm dò" xem có "em sơn-trà" nào "ngủ quên" dưới gốc không! Mùi vị trái cây này nghe nói bò cũng không tha! Đủ biết "em sơn-trà" thơm-tho cỡ nào!

 

 Bò thả ăn trong vườn cà-phê thì thoải mái, nhưng "bò ở mô cũng nỏ chộ", cây cối rậm-rạp, đường đi quanh co. Bò ăn no chiều chiều rủ nhau ra về từng đợt, lắm lúc chờ đợt này sang đợt khác không thấy "hoảng quá", lò-mò đi vô phía xa tìm xem. Cuối cùng về nhà "tay không" thì lại thấy bò đầy đủ trong chuồng rồi!

 

 Vùng đất lý tưởng thứ hai cho dân đi bò làng Ba là đồng ruộng. Vừa ra khỏi cổng chính làng có một cánh đồng "cò bay thẳng cánh" tận Xuân-Sơn, các cô cậu đi bò thoải mái thả bò đi rông. Đồng trống, chiều chiều leo lên một cây cao nào đó, xem đàn bò ở đâu rồi "đủng-đỉnh" lên đường "cái quan" chờ đó để đón bò về .

 

 Đến mùa cấy lúa xong, bò không thể thả ăn trên ruộng nữa, lúc đó dẫn bò đi xa hơn vào đồi Xuân-Sơn. Buổi trưa đi học về, dẫn bò từ nhà đi vào Xuân-Sơn là một "cực hình", vì bò đói, nhịn từ sáng sớm, trên đường đi cứ chúi mũi xuống hai bên đường "ngoạm lúa"!

 

 Đồi Xuân-Sơn hồi đó là trung tâm điểm của dân đi bò. Không thấy đàn bò đâu là leo lên đỉnh đồi. Chung quanh đồi là những bãi đất trống, bò tha hồ ăn rồi chạy nhảy húc nhau loạn xạ. Còn các cô cậu thì tha hồ chơi đủ trò. Vùng này cũng có một ít cây ăn trái, như đào lộn hột, trứng cá, mãng cầu... Nổi tiếng là ba cây me. Dân đi bò ăn me từ khi còn là "hoa" cho đến khi "me non", rồi "me chua" rồi cuối cùng sót lại là "me dốt", lúc đó thì chẳng còn được bao nhiêu.

 

 Đi bò Xuân-Sơn đã từng có cô cậu bắt được heo con, lọt xuống lỗ "khoai chụp"! Làm ruộng làm rãy như dân Bình Giã mình chẳng ai lạ gì mấy cái lỗ sâu của mấy người Thượng đào tìm củ khoai mài...Có lúc “bò me” lọt chân trật cẳng đi cà khểnh cả mấy ngày. Mùa nấm mối, có anh vác về cả một bịch lớn nấm mối. Đi bò chẳng có bao bì gì cả, thấy nấm mối "mọc như nấm" bèn trải tấm ni-lông ra, lặt đầy cả một thúng, rồi túm lại vác về. Lúc đó dù có mưa to gió lớn, thấy cũng ấm lòng! Về nhà có nấm mối xào ăn chơi!

 

 Cái khoản "tối kỵ" mà "hay bị" là "mảng chơi" để bò xực hoa màu của người khác, bò thì bị "bắt quả tang cột tại chỗ", còn cu cậu thì không dám về nhà! Có khi gia chủ "tốt bụng" dẫn bò về tận nhà cho mình, lúc đó trời không mưa mà vẫn "lạnh cẳng"! Vì chắc chắn là được "ăn cháo lươn"! Cũng có lúc mang cơm đi bò đàng hoàng, nhưng chiều về thì chỉ có "người", còn bò thì không biết phiêu bạt nơi nào. Những lúc đó thì cu cậu hay cô nàng "len lén" đi vào nhà sau, rụt-rè còn hơn "gấy mới về nhà chồng"!

 

 Nghĩ thấy tội cho "các cô các chú" Bình Giã nhà ta hồi nớ (khoảng 1965 -1978), vừa đi học về, vội vàng xách cơm nước "rịt bò" đi. Tới nơi có chỗ cho bò "thoải-mái", lúc đó mới tới phiên mình "xực-phàn"! Tưởng là "thịt kho, cá hấp" hay ít ra cũng "mực xào,...gì chứ"! Nào ngờ quay đi quẩn lại cũng mấy thứ "trích, thửng, thèn" quanh năm! Đổi món thì cũng "cà dưa, nhút mít"! Lâu lâu may ra mới có một bữa "trứng, tôm hay cá rán". Mặc dù vậy, nhưng các cô cậu vẫn vui vẻ "đớp" bữa trưa ngon lành. Ăn không hết thì gói lại để đó, chiều chiều lấy ra ăn tiếp. Khát thì đã sẵn một bi-đông nước. Lắm khi hết nước mang theo thì chạy xuống suối "chổng mông" lên làm vài ngụm là đã khát! Sốt rét đâu chẳng thấy, chứ thấy dân đi bò "mau nậy như thổi"!

 

 Một điểm cũng đặc biệt của dân đi bò là "nướng", nướng đây không phải là ngủ nướng, mà là cái gì cũng "nướng lên ăn". Mùa bắp, đi bò dù trời mưa cũng kiếm được dăm bảy cành củi khô chụm lại, đứa thổi, đứa bẻ bắp. Bò thì cột lại rồi khỏi lo, vậy là ngồi tụm lại xuýt-xoa ăn bắp nướng. Mùa khoai cũng "nướng", dù là khoai lang hay khoai mì cũng ngon miệng như nhau. Ăn mít cất dành hột để nướng. Lạc nhổ lên, giũ sạch đất là nướng được. Xuống khe mò được mấy con "sò, hến" nướng lên, sò há mồm coi như chín, ăn không biết chán. Có khi dùng "nộ cao-su" hạ được vài con chim. Vặt lông nướng lên thơm phức, chia nhau đứa miếng đùi, đứa khúc cánh, ăn "dòn khướu". Trúng mánh thì được một ổ trứng chim, trứng quốc...nhào bùn vắt lại nướng lên. Bảo đảm không bị cháy mà có phần còn ngon hơn luộc nồi ở nhà nữa.

 

 Đi bò lâu lâu cũng có "tai nạn nghề nghiệp"! Thứ nhất là leo trèo, chạy nhảy nên có bữa xui-xẻo té ngã trặc chân hay trặc tay. Có khi vì đang cỡi con bò đực nhà, mà nó thì đang thời trai tráng xuân xanh, thấy một "mẹ bò choai" đang độ kiếm "nhông", cu cậu "trụt không kịp" thế nào cũng toạc cẳng, bầm mông!

 

 Thứ hai là chơi "đánh khẳng"! Một thằng thì ra sức nện càng mạnh càng tốt, cái "cọn khẳng" bay vèo-vèo, vậy mà thằng kia vẫn "trơ gan cùng trời đất" đứng dạng chân ra "đón"! Nhiều lần rồi cũng có một lần xui, "cọn khẳng" gí ngay trán, nghe cái “đụp” như trời giáng, một thằng vội vàng nhai lá "bớp-bớp" xát vào. Dân đi bò coi đó là chuyện nhỏ, chỉ phiền cái là chiều về mẹ hỏi: "Răng mà u trán rứa? Đập chắc phải không?", lúc đó làm lơ là xong chuyện.

 

 Thứ ba là chui rúc chơi trò đi trốn đi tìm, không may rúc nhằm một bụi "mắc mèo", tha hỗ gãi ngứa! Xui hơn thì lại rúc nhằm một ổ ong vò vẽ, có cậu đã bị ong đốt về phát rét cả tuần "thất nghiệp" không được đi bò!

 Đó là chưa nói đến chuyện đạp phải kẽm gai, "dậm trúng" gai tre hoặc miểng chai..."Tai nạn" đi bò thì vô số kể!

 

 Chuyện "đi bò" đối với trẻ em Bình Giã, Bình Trung bây giờ trở thành "chuyện đời xưa"! Vì bò không còn được xử dụng cày bừa nữa, nên chẳng mấy ai nuôi bò. Hơn nữa, đất đai được trồng trỉa hết, không còn chỗ cho bò nhởn nhơ gặm cỏ hay "hít o...ọ" húc nhau. Thay vào đó đã có máy xới...Làm ruộng, làm rãy cũng khỏe hơn. Các cô các cậu có nhiều thì giờ học hành, không phải "gánh vác" những việc "đồng ruộng" như những thế-hệ trẻ trước. Tuy vậy, có lẽ lớp trẻ bây giờ cũng hơi "thiệt thòi" khi nghĩ đến cái thú "mục-đồng"! Có nhiều điều thật thú-vị của tuổi thiếu thời "đi bò"! Chẳng thế mà có bài hát:

 

Ai bảo chăn trâu là khổ
Chăn trâu sướng lắm chứ
Ngồi mình trâu, phất ngọn cờ lau
Và miệng hát nghêu ngao
Vui thú không quên học đâu
Nằm đồi non gió mát
Cất tiếng theo tiếng lúa đang reo
Em đánh vần thật mau.
Chiều vương tiếng diều
Trên bờ đê vắng (ứ ư ư) xa.
Đường về xóm nhà
Chữ i, chữ (ư ư ư) tờ.
Lùa trâu nhốt chuồng
Gánh nước nữa là (a à a) xong
Khoai lùi bếp nóng
Ngon hơn là (a à a) vàng.

Em mới lên năm, lên mười
Nhưng em không yếu đuối.
Thầy mẹ yêu cũng vì trẻ thơ
Làm việc rất say sưa
Em biết yêu thương đời trai
Đời hùng anh chiến sĩ
Ước mong sao em nhớn lên mau
Vươn sức mạnh cần lao.

Kìa trăng sáng ngời
Đêm rằm Trung, Trung (ứ ư ư) Thu.
Đời vui trống ròn
Tiếng ca lẫy (ý y y) lừng
Từ ngõ ngách làng
Đèn đuốc rước triền miên
Bao người đóng góp
Vui chung một (ư ừ ư) miền.

Trâu hỡi trâu ơi đi cầy
Trâu ơi đi cấy nhé
Đồng ruộng kia, với đồi cỏ kia
Là của những dân quê
Em bé dân quê Việt Nam
Là mầm non tươi thắm
Sức mai sau xây đắp quê hương
Cho nước giầu mạnh hơn.

Vàng lên cánh đồng
Khi trời vươn ánh (ứ ư ư) dương
Trẻ thơ nhớn dậy
Giữ quê, giữ (ứ ư ư) vườn
Đời vui thái bình, cây lúa sớm trổ bông
Cỏ ngàn thơm phức, trâu ăn đầy (y ỳ y) đồng. (Em Bé Quê-Phạm Duy)

 Đặng Xuân Hường

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Những câu chuyện vui thuở học trò, chuyện làng quê, chuyện sống trên đất Mỹ...được giả tưởng hay dựa trên thực tế viết ra truyện ngắn từ năm 2005-2015. Trước đây dưới tên tác giả là PHƯỢNG TÍM, BỜ ĐÁ XANH. Một số truyện đã đăng trên Việt Báo, mục VIẾT VỀ NƯỚC MỸ. Đặng Xuân Hường
Những bài thơ tâm linh, những suy tư... được viết ra trong khoảng thời gian từ 1998-2012 với tên tác giả Sa Mạc Hồng. Đây là những tâm tình như lời kinh cầu nguyện với Chúa nên lời thơ rất đơn sơ mộc mạc...Một số bài được viết dựa theo Kinh Thánh. Một số bài đã đăng trên Vietcatholic.net. Đặng Xuân Hường
Những bài viết về đồng ruộng làng quê, một thuở thanh bình xa xưa...mặc dù chỉ diễn tả một phần nào cuộc sống thời đó nhưng cũng vẽ lên một bức tranh ruộng lúa nương rau của Bình Giã vào những năm 1970 - 1985. Cùng một số bài thơ trước đây với tên tác giả TRĂNG MƯỜI SÁU. Hầu hết các bài được viết từ năm 1997 - 2015. post 01 Tháng Hai 2013 (Xem: 3897) Hương Đồng Quê - Đặng Xuân Hường
Những truyện ngắn được viết ra khoảng năm 2005-2008 theo "phong cách truyện Liêu Trai Chí Dị" của nhà văn Bồ Tùng Linh (1640-1715), truyện cũng như lời bàn chỉ có tính cách "giả tưởng, mua vui"...và cũng vì dựa theo các câu chuyện hiện tại nên tạm gọi là "Tân Liêu Trai". Trước đây dưới tên tác giả là BỒ TÌNH TANG, THƯ SINH. Đặng Xuân Hường
Những bài viết tùy bút, tâm tình, truyện ngắn...có khi dựa theo Phúc âm, có khi chỉ là những suy tư đơn sơ...Trước đây một số bài dưới tên tác giả là TỊNH TÂM, ĐÌNH NGHĨA (ĐN là tên lót hai vị: Linh Mục Trần Đình Trọng và Thầy Nguyễn Nghĩa Khôi) Đặng Xuân Hường
Bọn Chiến Binh, Thủy Thủ, Sinh Viên, Khoa Học Gia và Gián Điệp Tàu Cộng Đang Xâm Chiếm Đất Mẹ Mỹ Chuyển ngữ bởi Lê Bá Hùng với sự chấp thuận của tác giả TS Roger Canfield /Gián Điệp Tàu Cộng Trên Đất Mỹ 23 Tháng Chín 2014 (Xem: 1503)/
Nhật Tiến Thuở Mơ Làm Văn Sĩ /post 04 Tháng Mười 2014 (Xem: 1860)/
Trong lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam, ước tính có đến hàng trăm ngàn người đã làm chứng đức tin Kitô Giáo, trong số đó có 118 Thánh Tử đạo, với 117 vị được Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong Thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988 và Á Thánh An-rê Phú Yên, phong Chân phước ngày 5 tháng 3 năm 2000./post 15 Tháng Mười Một 2015 (Xem: 2652)/
Tôi tin rằng những bạn đọc cuốn sách này nhất định nhoi lên trên số chín hoặc mười chín người ấy. Không khó, hễ các bạn muốn là được. Tất nhiên cũng phải biết cách muốn. Cuốn này sẽ chỉ các bạn cách muốn./post 11 Tháng Sáu 2013 (Xem: 1514) Nguyễn Hiến Lê - VN Thư Quán - Được bạn: Ct.Ly đưa lên/
Trương chậm bước lại vì chàng vừa nhận thấy mình đi nhanh quá tuy không có việc gì và cũng không nhất định đi đến đâu. Từ lúc này, vô cớ chàng thấy lòng vui một cách đột ngột khác thường tự nhiên chàng đi nhanh làm như bước đi cần phải đi nhịp với nỗi vui trong lòng./post 23 Tháng Giêng 2013 (Xem: 1159) Nhất Linh - Tự Lực Văn Đoàn - Vietmessenger.com/
Bảo Trợ