Cuộc tương phùng kỳ lạ: ‘Tiến sĩ’ xưa và nay khác nhau thế nào?

13 Tháng Mười Một 20183:52 CH(Xem: 718)

Cù Trọng Danh là con trai duy nhất của ông Cù Trọng Lợi, dáng người củ mỉ cù mì, nhưng mới 30 tuổi đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ ngành Khoa học máy tính.

Vợ chồng ông Lợi vô cùng phấn khởi, cho con trai về từ đường dòng họ để bái lạy gia tiên, còn tổ chức một buổi liên hoan họp mặt gia đình. Trong buổi liên hoan, ông Lợi đứng lên, run run xúc động nói:
Tiến sĩ tương phùng

“Cụ tổ 22 đời của cháu Trọng Danh xưa kia đỗ tiến sĩ, vinh quy bái tổ. Dòng họ Cù chúng ta hôm nay lại mở mày mở mặt”.

Gia tộc họ Cù từ già đến trẻ đều gật đầu tấm tắc, khen cậu Danh tuổi trẻ tài cao. Vợ ông Lợi tiếp lời:

“May mà hồi xưa vợ chồng chúng tôi quyết tâm cho cháu Danh học khối A, nên mới có ngày hôm nay. Chứ nếu học Văn Sử Địa thì biết bao giờ mới ngẩng đầu lên được”.

Mọi người gật đầu cho là phải. Ông Cù Trọng Lợi mải mê chúc rượu vòng quanh, chuyện trò mãi không dứt. Cù Trọng Danh tự cảm thấy khoan khoái vô cùng, gia phả dòng họ Cù phen này nhất định phải có mấy dòng viết riêng về cậu. Tuy nhiên, hồi lâu sau tiếng cười nói chúc tụng ồn ào khiến cậu cảm thấy đau đầu. Trọng Danh nhân lúc bố và mọi người không để ý, lặng lẽ bước ra khỏi phòng tiệc.

Chiều hè ở làng quê thật yên ả, thanh bình. Vẫn cái nắng chang chang như ở thị thành, nhưng không gian thoáng đãng, thi thoảng có làn gió mát mang hơi nước từ dòng sông thổi qua như cuốn đi mọi ưu phiền mệt nhọc. Chú chim sâu lích rích chuyền cành, vô tình làm cánh hoa khế tim tím khe khẽ theo gió xoay vòng chạm đất. Đâu đây, hương hoa đại thơm ngọt, hương hoa nhài thoang thoảng… Ngước nhìn lên bầu trời xanh vời vợi, Trọng Danh thấy những cánh diều no gió bay cao, cao như cả ước vọng công toại danh thành mà bao đời những người dân quê lam lũ nơi đây hằng ấp ủ… Đôi bàn chân đã đưa Trọng Danh đến trước cửa từ đường tự lúc nào.

blank
Đôi bàn chân đã đưa Trọng Danh đến trước của từ đường tự lúc nào. (Ảnh minh họa: wikimapia.org)

Bệ thờ thâm nghiêm, nhang trầm phảng phất. Trọng Danh chợt cảm thấy buồn ngủ quá. Cậu tựa vào cây cột sơn son trong từ đường, rồi thiếp đi lúc nào không hay.

***

“Huynh đệ, tỉnh lại đi!”.

Trọng Danh bất giác mở mắt. Trước mặt cậu là một chàng thanh niên trạc tuổi cậu, khôi ngô tuấn tú, mỗi tội đầu tóc trang phục thật buồn cười. Anh ta mặc một chiếc áo thụng xanh, chân mang hia, đầu đội mũ cánh chuồn nạm bạc, trông cứ như diễn viên tuồng chèo. Trọng Danh miệng há to, kinh ngạc hỏi:

“Anh là ai? Sao lại vào từ đường nhà tôi?”.

Chàng thanh niên kia cũng ngạc nhiên không kém, đôi mày khẽ nhướn lên, nhưng tư thái vẫn điềm tĩnh, ôn tồn hỏi lại:

“Chào hảo huynh đệ. Tôi là Cù Trọng Nghĩa. Đây là từ đường nhà họ Cù chúng tôi. Huynh đệ vừa nói đây là từ đường nhà huynh đệ, có thể giải thích cho tôi được không?”.

Trọng Danh nghe giọng nói chậm rãi, ấm áp chân thành của chàng thanh niên, đối chiếu với trang phục và cách xưng hô kỳ lạ, thì ngờ ngợ, đáp:

“Tôi tên Cù Trọng Danh. Tôi vừa đỗ tiến sĩ, bố mẹ tôi đưa tôi về quê bái lạy gia tiên trong từ đường này. Vừa đến đây thì tôi buồn ngủ quá bèn thiếp đi. Tỉnh dậy thì gặp anh”.

Chàng thanh niên không giấu nổi vẻ vui mừng:

“Thật là duyên kỳ ngộ! Tên huynh đệ là Cù Trọng Danh, vậy cũng là người của họ Cù ta rồi. Tôi cũng vừa đỗ tiến sĩ, nhà vua ban áo mũ cho về làng vinh quy bái tổ. Mai tôi phải lên kinh đô nhậm chức, nên chiều nay về lại từ đường, bái biệt tổ tiên đây!”.

Trọng Danh nghe đến đây thì “Ớ” lên một tiếng. Lời cha khi nãy: “Cụ tổ 22 đời của cháu Trọng Danh xưa kia đỗ tiến sĩ, vinh quy bái tổ…” hiện rõ mồn một trong trí nhớ cậu. Có lẽ nào… Trọng Danh chạy ào ra cửa từ đường, tìm kiếm khắp xung quanh. Lạ chưa, cảnh vật xung quanh hoàn toàn khác trước. Không thấy bóng xe ô tô, xe máy của người trong họ đến chúc mừng đâu nữa cả. Chỗ khu vườn ban nãy, bây giờ là một cái ao.

blank
Cảnh vật xung quanh hoàn toàn khác làm Trọng Danh bàng hoàng. (Ảnh minh họa: vnphoto.net)

Trọng Danh nửa cười nửa mếu, nhìn chàng thanh niên rồi nói:

“Anh Trọng Nghĩa này, bây giờ tôi mới biết cỗ máy thời gian trong truyện Đô-rê-mon là có thật…!”.

Trọng Nghĩa không hiểu vị tiến sĩ cùng họ từ trên trời rơi xuống này đang nói gì, nhưng cũng không bận tâm lắm vì còn mải mê trong niềm vui tương ngộ. Trọng Nghĩa ân cần:

“Trọng Danh huynh đệ, huynh đệ đây vừa đỗ tiến sĩ, hẳn là ‘Độc thư phá vạn quyển, Hạ bút như hữu thần’, vậy có thể tức cảnh sinh tình, làm một bài Đường phú để kỷ niệm mối nhân duyên kỳ lạ này chăng?”.

Trọng Danh nghe ù ù cạc cạc, hỏi:

“Xin lỗi, anh vừa nói cái gì mà độc thư phá… hoại cơ, tôi chẳng hiểu gì hết. Đường phú là cái gì, tôi đâu có biết!”.

Trọng Nghĩa ngạc nhiên đáp:

“‘Độc thư phá vạn quyển, Hạ bút như hữu thần’ là hai câu thơ của Thi Thánh Đỗ Phủ, nghĩa là ‘Sách đọc rách vạn cuốn, Bút viết như có thần’. Còn Đường phú là một thể văn chương được đặt ra từ thời nhà Đường, có vần có đối. Huynh đệ đã đỗ tiến sĩ, thì những thứ này phải làu thông chứ?”

Trọng Danh phân trần:

“Anh Trọng Nghĩa à, tiến sĩ của tôi đâu có phải làm thơ chứ. Sau khi học xong cấp 3, à, ý tôi là tú tài ấy, thì đi học đại học 4 – 5 năm. Sau đó, học thạc sĩ 2 năm, và cuối cùng là làm nghiên cứu sinh trong khoảng 3 – 5 năm, chừng nào bảo vệ thành công luận án trước Hội đồng thì chính thức là tiến sĩ. Tiến sĩ cũng có nhiều ngành lắm, từ tài chính – ngân hàng cho đến sinh học, hoá học, địa chất; từ mỹ thuật cho đến khoa học máy tính của tôi đây. Ví như tôi, hỏi về những thứ liên quan đến máy tính thì tôi rành, mà cũng lại chỉ là một phần nhỏ xíu của khoa học máy tính thôi ấy, chứ còn hỏi về văn thơ với lịch sử thì tôi chịu!”.

Lần này thì đến lượt chàng Trọng Nghĩa mũ cánh chuồn trở nên ù ù cạc cạc. Trọng Nghĩa cảm thán:

“Phép lấy đỗ tiến sĩ của huynh đệ thật kỳ lạ. ‘Tiến sĩ’ chỗ tôi đây vốn có nghĩa là được tiến cử làm quan (), xưa kia quan lại là do các đại phu trong triều tiến cử, sau này đặt chế độ thi cử song song để tìm người hiền.

Tôi từ nhỏ được phụ mẫu cho đi học với thầy đồ trong làng, ban đầu học “Nhất thiên tự”, “Ấu học ngũ ngôn thi”, “Tam tự kinh”… để nhận mặt chữ và biết đạo lý làm người. Sau đó, học hết Tứ Thư và Ngũ Kinh [1] để thấm nhuần đạo tu thân – tề gia – trị quốc – bình thiên hạ. Ngoài ra, còn đọc thêm sách của Bách gia chư tử, Phật và Đạo. Học đến độ làu thông, xuất khẩu thành chương thì đi thi được.

Đức vua Lê Thái Tông định 3 năm một khoa thi, phép thi bốn trường khác nhau. Bước thi nhất thi một bài ám tả [2] để loại bớt người kém. Trường nhất thi Tứ Thư và kinh nghĩa [3]. Trường nhì thi chiếu chế biểu, dùng tứ lục cổ thể [4]. Trường ba thi thơ, dùng Đường luật, phú, dùng cổ thể, về thể ly tao hoặc văn tuyển đều trên 300 chữ. Trường tư thi văn sách, đề ra về kinh sử, thời vụ, 1000 chữ trở lên.

Ở hội thi các cử nhân, đức vua Lê Thánh Tông ngự ra cửa điện Kính Thiên, ra văn sách hỏi về phép trị thiên hạ của đế vương, lấy đỗ tiến sĩ và đồng tiến sĩ theo thứ bậc khác nhau. Sau đó xướng danh các tiến sĩ, ban ân mệnh. Lễ bộ mang bảng vàng treo ở ngoài cửa Đông Hoa và cho các tiến sĩ vinh quy”.

blank
Anh tiến sĩ Trọng Nghĩa kể về quá trình học tập cho Trọng Danh nghe. (Ảnh minh họa: vietvisiontravel.com)

Chàng “tiến sĩ” thời hiện đại nãy giờ nghe kể mà mắt chữ A, miệng chữ O, ai ngờ tiến sĩ ngày xưa lại lắm công phu đến thế. Cứ cái đà này thì đúng là “trên thông thiên văn, dưới tường địa lý” thật, đâu như mình chỉ học giỏi các môn tự nhiên, còn Văn Sử Địa thì mù tịt. Lại càng chẳng biết “phép trị thiên hạ” là gì. Trọng Danh thoáng chút thẹn thùng, khẽ hỏi:

“Thế mỗi khoa thi như thế có bao nhiêu tiến sĩ?”.

Trọng Nghĩa hồn nhiên đáp:

“Khoảng vài chục người thôi” [5].

Trọng Danh thốt lên:

“Sao mà ít vậy? Thời của tôi, mỗi năm tiến sĩ mới có hàng nghìn! À, ý tôi là ‘tiến sĩ’ giống như tôi ấy!” [6]

“Thật vậy ư?” – Trọng Nghĩa kinh ngạc.

“Thật. Mà lắm tiến sĩ quá, tiến sĩ dỏm cũng nhiều. Cá biệt, nghe nói có người còn bỏ tiền ra mua bằng tiến sĩ, chứ chữ nghĩa thật sự là chẳng bao nhiêu. Thành ra, cái danh tiến sĩ của Trọng Danh tôi trở nên bớt danh giá đi đấy” – Trọng Danh thở dài.

“Lại có chuyện ấy nữa ư? Than ôi! Chỗ tôi đây, chưa nói đến đỗ đạt, mà để được đi thi cũng phải có tiêu chuẩn nghiêm khắc lắm. Cho quan địa phương bảo kết, người nào thực có đức hạnh mới được khai vào sổ ứng thí. Những người bất hiếu, bất mục, loạn luân, điêu toa, dẫu có học vấn văn chương, cũng không được vào thi”.

Trọng Danh nghe nói vậy thì đăm chiêu lắm. Cậu nhớ lại cách đây vài hôm, cậu lớn tiếng quát lại mẹ mình khi bà giục cậu thành gia lập thất, đây chẳng phải là bất hiếu sao. Hơn một lần, cậu lo lót phong bì cho giáo sư hướng dẫn để được duyệt đề cương, được bố trí lịch bảo vệ sớm, đây chẳng phải là gian dối, điêu toa sao. Thế mà cậu còn tự cảm thấy mình trong sạch hơn khối người ngoài xã hội, còn dương dương tự đắc về cái danh ‘ông tiến sĩ’ của mình. Trọng Danh ơi là Trọng Danh!

blank
Nghe kể về các tiến sỹ thời xưa Trọng Danh thấy thật hổ thẹn. (Ảnh minh họa: flickr.com)

Trọng Danh thấy mắt mình cay cay. Cậu cụp mắt xuống, tránh ánh nhìn của vị tiến sĩ đường đường chính chính trước mặt mình. Cố gắng lắm cậu mới thốt ra được vài lời:

“Cảm ơn anh đã cho tôi biết tiến sĩ đích thực là như thế nào, Trọng Nghĩa ạ. Tôi xin lỗi vì đã nói nhầm: tôi không phải là tiến sĩ theo đúng nghĩa của nó đâu. Tôi chỉ là một kẻ có hiểu biết chuyên sâu về một lĩnh vực, được đào tạo qua nghiên cứu để đi giảng dạy và làm nghiên cứu – tiếng Tây gọi là “đốc-tơ”, chứ không phải một vị trí thức thông kim bác cổ, học rộng hiểu nhiều, kinh bang tế thế. Ngoài ra, đức hạnh tôi kém cỏi, thật không xứng đứng cùng hàng với anh….! Tôi đã phụ lòng tiên tổ rồi, tôi không làm rạng danh cho dòng tộc được như anh rồi…!”

Trọng Nghĩa thấy Trọng Danh nghẹn ngào như vậy thì liền an ủi:

“Hảo huynh đệ à! Đức Khổng Tử nói: ‘Ta đi học là học cho ta, để gây cái phẩm giá của ta, chứ không phải là để khoe với người. Ta chỉ lo không làm được những việc đáng cho người ta biết, chứ không lo người ta không biết mình’. Tôi dùi mài kinh sử vốn không phải để nổi danh cho mình hay gia tộc, mà chỉ để trở thành bậc chính nhân quân tử, dưới thì hiếu kính phụ mẫu, trên thì báo đền nợ nước ơn vua. Huynh đệ không cần phải đỗ tiến sĩ cũng có thể tự mình tu dưỡng đức hạnh, trở thành bậc chính nhân quân tử như thế. Dòng họ chúng ta nhất định vì đức sáng của huynh đệ mà nức tiếng thơm…”

Trọng Danh nghe như trong lòng mình có gì vỡ tan ra. Mắt cậu nhoà lệ. Một luồng ánh sáng rực rỡ tinh khôi chiếu vào tâm hồn cậu, cậu chợt hiểu ra từ nay trở đi mình phải làm người như thế nào. Mùi nhang trầm vẫn thơm thoang thoảng, những làn khói trắng như quyện vào đôi mắt chàng trai trẻ…

***

“Trọng Danh, sao lại ngủ ở từ đường hả con?!”

Trọng Danh mở mắt, trước mắt cậu là cha mẹ, hẳn họ đã lo lắng vì không biết cậu đã đi đâu. Cậu mỉm cười. Cuộc sống như là một giấc mơ, trong đó có những giấc mơ vô cùng chân thật.

Thanh Ngọc DKN

Chú thích:

[1] “Tứ Thư” là: Luận ngữ, Mạnh tử, Đại học và Trung dung, “Ngũ Kinh” gồm có: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch và Kinh Xuân Thu.

[2] “Ám tả” ngày nay gọi là “chính tả”.

[3] “Kinh nghĩa”: Một thể văn khoa cử xưa, trong đó thí sinh phải giải nghĩa một đầu đề lấy trong sách cũ.

[4] “Tứ lục”: Một thể văn Trung Hoa thời xưa, có đối không vần.

“Cổ thể”, hay cổ phong, cổ thi, cổ thể thi (chữ Hán: 古体诗) là một thể thơ cổ có từ nhiều thời đại trước đời nhà Đường. Về sau trở thành tên gọi chung tất cả thơ ngũ ngôn, thất ngôn mà không theo luật, gồm ngũ ngôn cổ thi, thất ngôn cổ thi, tam ngôn thi, tứ ngôn thi, lục ngôn thi…, không theo niêm luật, không hạn chế số câu, chữ như thơ Đường luật.

[5] Lê Quý Đôn nói: “Tính từ năm 1442 đến năm 1526 gồm 26 khoa, lấy 989 người đỗ tiến sĩ, mà có 63 người dự vào tam khôi, thế là thịnh đạt lắm” (Theo “Kiến văn tiểu lục”). Đó là thời nhà Lê.

Sang thời nhà Nguyễn ở thế kỷ XIX, nền giáo dục khoa cử rất chặt chẽ và quy mô. Triều đình quy định 3 năm mở một khoa thi, năm trước thi Hương ở các địa phương để chọn cử nhân, tú tài; năm sau thi Hội ở kinh đô Huế để chọn tiến sĩ, phó bảng.

Thi Hương, thí sinh hàng nghìn, nhưng đỗ cử nhân chỉ hàng chục. Ví dụ: Khoa thi Hương tổ chức tại trường Nghệ (chung cho Nghệ An, Hà Tĩnh) năm Tân Mão (1891), có 1.600 thí sinh dự thi, nhưng triều đình chỉ quy định lấy đỗ 20 cử nhân và 60 tú tài (nhất cử tam tú – một cử nhân thì ba tú tài). Trung bình ở các khoa thi, từ 80 đến 100 thí sinh dự thi thì có một người đỗ cử nhân. Vì vậy, ngày trước, muốn đỗ cử nhân phải học thật sự giỏi. Năng lực, tư chất bẩm sinh cử nhân thời trước tương đương học sinh giỏi nhất, nhì hàng tỉnh hiện nay.

Thi Hội, có hàng trăm cử nhân dự thi, nhưng số người đỗ tiến sĩ chỉ hàng chục (tính luôn cả phó bảng là những tiến sĩ lấy thêm). Ví dụ: Khoa thi Hội năm Tân Mùi (1871) là khoa Nguyễn Khuyến đỗ đầu thi Hội và thi Đình, có gần 200 cử nhân dự thi, nhưng chỉ đỗ 3 tiến sĩ và 5 phó bảng. Đỗ thi Hội, sau đó vào thi Đình để sắp xếp thứ bậc tiến sĩ, do nhà vua trực tiếp ra đề.  Những người thi đỗ tiến sĩ, phó bảng phải có học lực xuất sắc. Năng lực, tư chất bẩm sinh của tiến sĩ, phó bảng thời trước tương đương học sinh giỏi nhất, nhì quốc gia hiện nay.

(Theo thethaovanhoa.vn)

[6] Xem thêm tại:

https://www.tienphong.vn/giao-duc/toan-canh-buc-tranh-tien-si-viet-nam-1212927.tpo

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Hoshi Shinichi: Cái gói (Quỳnh Chi dịch nguyên tác ”Tsutsumi” ) - Có triển lãm tranh của một họa sĩ tại phòng tranh nọ. Người họa sĩ đã luống tuổi ấy có tới, vì hôm ấy là ngày đầu tiên. Trông ông có vẻ trẻ hơn tuổi nhiều. Khách vào xem thành dòng người mãi không dứt. Chủ phòng tranh lộ vẻ vui mừng: -Thưa họa sĩ, cuộc triển lãm lần này cũng rất thành công. Ông hãy xem kìa. Khách vào xem ai cũng hết sức chăm chú nhìn vào các bức tranh.
Alexander Đại đế là một trong những vị tướng vĩ đại của lịch sử. Trước khi ra đi, ông đã cho gọi các sỹ quan và truyền đạt ba ý nguyện cuối cùng của mình. Mọi người xung quanh đều rất tò mò và ngạc nhiên về những yêu cầu kỳ lạ này. Alexander was a great king. On his way home from conquering many countries, he came down with an illness. At that moment, his captured territories, powerful army, sharp swords, and wealth all had no meaning to him. He realized that death would soon arrive and he would be unable to return to his homeland. He told his officers: “I will soon leave this world. I have three final wishes. You need to carry out what I tell you”. His generals, in tears, agreed. be (un)able to V: (không) có khả năng làm gì need to: cần làm gì Alexander là một vị vua vĩ đại. Trên đường khải hoàn sau khi chinh phạt nhiều nước, ông ngã bệnh. Vào thời khắc ấy, những vùng đất ông chiếm được, quân đội hùng mạnh, những thanh gươm bén, và sự giàu có không còn nghĩa lý gì với ông. Ôn
Trên Trái đất có vô số loài cây, mỗi cây một dáng vẻ, một mùi hương. Trong đó có một loại cây khá lạ, hễ cứ chạm vào hoặc rung lắc là các lá khép lại. Có rất nhiều sự tích về cây xấu hổ, chúng ta cùng tìm hiểu một câu chuyện dưới đây lí giải về nguồn gốc
Nếu không có tiếng súng bên ngoài làm tôi thức giấc, thì có lẽ đêm vẫn còn là một nỗi buồn chảy quanh như một khúc sông lạc nguồn. Cơn mưa chiều đã tạnh từ bao giờ. Tiếng gió rung qua liếp cửa từng hồi đã làm gẫy đổ giấc mơ của tôi, trong đó nụ hôn của Ngải Hương trở thành đậm đặc trên môi, rã rời và xao xuyến làm sao. Trong giấc mơ tôi thấy tôi trở lại Hà Nội. Những cây sấu vừa ra hoa. Con đường có những viên gạch sần sùi dán kín một thơ ấu của tôi bây giờ cũng ngại ngùng và mơ hồ không kém. Trong giấc mơ tôi cũng thấy tôi lùi lại những ngày tháng buồn rầu khi rách nát rơi xuống đời như phấn hoa.
Con người ta đến với thế giới này với hai bàn tay trắng và lúc ra đi cũng vậy. Tiền bạc, danh vọng dù nhiều và cao sang đến đâu cũng chẳng thể mang theo. Vậy đâu mới là quan trọng nhất trong đời người? Thirty years ago in Washington, D.C., a businessman’s wife carelessly dropped her purse in a hospital on a winter night. The businessman was extremely worried and went out to look for it that night, because the purse contained not only $100,000 but also a confidential marketing document. As soon as the businessman hurried to the hospital, he saw right away a thin girl who was squatting down next to the wall in the hallway, trembling with cold, and in her arms was exactly the purse his wife had lost.
- Ủa, gì mà họ chạy rầm rầm trên thang gác thế? Tất cả nhân viên trẻ tuổi của phòng "Việc Bản xứ" dưới kia ùa vào. Phán Kính đi đầu nói: - Hôm nay ông Phó đi vắng. Mắc bầu cử chánh tổng Bảo Nham. Phán Hòa tiếp: - Lên đây phá một bữa cho vui. Những người vừa vào lần lượt tới bắt tay Đồng, ông Phán mới đổi về Tòa Sứ tỉnh đây được đâu ba ngày.
Câu chuyện Cây tre trăm đốt vẫn theo một mô típ quen thuộc: Chàng trai nghèo đi làm thuê cho phú ông giàu có. Để lấy được cô con gái nết na của phú ông, anh bị thách cưới bằng một cây tre trăm đốt. Nhưng trên đời làm gì có cây tre như vậy?
Kéo lại đường khóa của chiếc áo choàng đang ủ kín thân con, quờ đôi bàn tay cứng đờ và tím tái vuốt nhẹ đôi bờ má mịn màng của sinh linh bé bỏng. Hôn con lần sau cuối, chị từ từ khép mắt!… Đêm mưa sùi sụt, gió đông thổi buốt lạnh tựa hồ từng nhát roi vi vút quất lên thân của kẻ bộ hành. Trời rét quá! Không phải cái rét ‘cắt da cắt thịt’ như dưới vùng đồng bằng mà là cái ‘rét ngọt rét lọt tới xương’ nơi đỉnh cao chon von cuối trời Tây Bắc: cái rét gần âm độ C có mang theo mưa rừng và gió núi…
Bà mẹ già ngồi vào bàn ăn với người con trai, con dâu và hai đứa cháu nội. Bữa ăn trưa đã được chị bếp dọn. Bà mẹ ngồi yên, hai bàn tay đặt lên đùi, nhìn từng món một khi chị bếp đặt lên mặt bàn, bà cố gắng giữ vẻ thản nhiên, không nói năng gì khi thấy một món ăn bà thích nhất. Bà biết người ta không nấu nướng món ăn đó cho bà, mà đó chỉ là một chuyện tình cờ; con trai và con dâu bà thường bảo bà là họ không thể ăn được các món ăn mà bà thích vì đó là những món ăn quê mùa. Cho nên có món đậu nấu tiêu hôm nay không phải là vì bà thích món này.
(Sự tích vui câu chuyện về thời học sinh xưa) - Ngày xửa ngày xưa, khi con người vừa phát minh ra chữ viết để tiện việc học hành thì cũng chính lúc đó, Ngọc hoàng Thượng Đế vừa để mắt tới đám... học trò dưới thế gian! Ngài ra lệnh cứ mỗi một trăm năm thì vị Thần Giáo Dục phải thân chinh xuống trần gian tìm hiểu xét đoán về việc học hành của con người phát triển như thế nào, vì như ngài nói:
Bảo Trợ