Sư Phạm Giáo Lý Căn Bản

17 Tháng Bảy 20212:00 CH(Xem: 4251)

- Bài 1: Dạy Giáo Lý là gì?

- Bài 2: Ba Nguyên Tắc Trong Việc Dạy Giáo Lý

- Bài 3: Tính Cách Quy Kitô trong Giáo Lý

- Bài 4: Đức Kitô, Bậc Thầy của Giáo Lý Viên

- Bài 5: Tổ Chức Một Lớp Giáo Lý

- Bài 6: Diễn Tiến Một Buổi Học Giáo Lý

- Bài 7: Phương Pháp Trình Bày Giáo Lý

- Bài 8: Nghệ Thuật Đặt Câu Hỏi Giáo Lý

- Bài 9: Bầu Khí Một Lớp Giáo Lý

- Bài 10: Cầu Nguyện Trong Giáo Lý

- Bài 11: Phương Pháp Cầu Nguyện Bốn Bước Dành Cho Giáo Lý Viên

- Bài 12: Tìm Hiểu Tâm Lý Trẻ Em - Phần 1

- Bài 13: Tìm Hiểu Tâm Lý Trẻ Em - Phần 2

- Bài 14: Những Rối Loạn Tâm Sinh Lý của Tuổi Mới Lớn

blank

Dẫn Nhập: Thay cho phần dẫn nhập, xin mượn lời của Linh Mục R.H. Lesser, người Anh, phụ trách về Giáo Lý tại một Giáo Phận truyền giáo ở Ấn-độ, được trích từ Báo Asia Focus số ra ngày 10.4.1991, như sau:

Cho đến nay, chúng ta vẫn dạy và học Giáo Lý. Thế nhưng, chúng ta đã dạy và học một cách từ chương về Thiên Chúa và về Giáo Hội, bằng cách vận dụng trí nhớ của chúng ta. Các bài Giáo Lý không đưa chúng ta đến gần Thiên Chúa. Cuộc sống của chúng ta cũng không tiến triển về tâm linh và luân lý. Chỉ thông tin mà không có huấn luyện (Only information was given, not formation !)

Việc dạy Giáo Lý không đơn thuần chỉ là việc dạy và học. Nó là, và nó phải là một tiến trình liên vị giữa 3 phía: Thiên Chúa, Giáo Lý Viên và người học Giáo Lý. Chính Giáo Lý Viên và người học Giáo Lý phải được biến đổi, trở nên phong phú hơn trong quá trình dạy và học này. Dù cho chỉ tập trung học Giáo Lý mỗi tuần có một buổi vỏn vẹn hơn kém một giờ đồng hồ, thì Giáo Lý vẫn là một tiến trình kéo dài suốt cả ngày, cả năm, cả đời mình. Mục đích của mỗi buổi học là dẫn trẻ đến gần Chúa hơn, nhờ vậy trẻ sẽ tiến bộ về mọi mặt, phát triển những thái độ và ứng xử đúng đắn đối với Thiên Chúa, tha nhân và chính bản thân.

Để tiếp xúc, thu hút và khơi lên sự ham thích nơi trẻ, mỗi buổi học phải nên được khởi sự từ những kinh nghiệm sống. Sau đó, đề tài sẽ được khai triển qua một đoạn Kinh Thánh, được nội tâm hóa bằng việc cử hành cầu nguyện ngay tại lớp. Tiếp theo là phần sinh hoạt để củng cố. Cứ thế, trẻ bắt đầu hiểu và yêu mến Đức Ki-tô. Hạt giống đã được gieo. Sự khao khát triển nở, trẻ sẽ tìm tòi để biết nhiều hơn, gặp gỡ thường xuyên hơn với Đấng mà trẻ yêu mến, từ đó Đức Tin được hình thành và khắc sâu.

Các Đức Giáo Hoàng Phao-lô đệ lục và Gio-an Phao-lô đệ nhị đã nhấn mạnh đến việc dạy Giáo Lý, hiểu như là việc huấn luyện Đức Tin , chính là hoạt động chính yếu của Giáo Hội, phải được ưu tiên hàng đầu cả về nhân lực lẫn tài lực. Giáo Hội ngày mai tùy thuộc vào việc dạy Giáo Lý hôm nay.

blank

Bài 1: DẠY GIÁO LÝ LÀ GÌ ?

Dạy Giáo Lý chính là: trình bày Lời Chúa một cách đơn giản, cụ thể và sống động, để giúp các em có thể hiểu và sống Đức Tin. Từ rất sớm, người ta đã dùng thuật ngữ “Dạy Giáo Lý” để gọi toàn thể các nỗ lực trong Giáo Hội nhằm đào tạo các môn đệ, để giúp mọi người tin rằng Đức Giê-su chính là Con Thiên Chúa, để rồi nhờ Đức Tin và nhờ việc dạy dỗ ấy, họ được sống nhân danh Đức Ki-tô ngay giữa lòng đời, góp phần xây dựng Thân Mình của Đức Ki-tô là Giáo Hội.

I. NHẬN ĐỊNH VỀ VIỆC DẠY GIÁO LÝ LÂU NAY:

Trước tiên chúng ta phải thay đổi cách suy nghĩ và cách làm lâu nay về công việc dạy Giáo Lý, đặc biệt đối với người Việt Nam chúng ta, với những hoàn cảnh thời đại và xã hội có quá nhiều hạn chế.

1. Dạy Giáo Lý không phải là dạy hỏi – thưa:

Do mức độ còn hạn chế tùy từng nơi, từng vùng, nhất là ở ngoại thành và thôn quê, một số chương trình Giáo Lý hiện nay vẫn xoay chung quanh việc hỏi – thưa, một cách hệ thống ngắn gọn, chắc ăn, dễ triển khai, dễ kiểm tra. Dù vậy, Giáo Lý Viên trong trường hợp này, vẫn phải tránh lối học từ chương, mà phải luôn cố gắng tổ chức buổi dạy Giáo Lý một cách sống động, có đối thoại, có hội thoại trao đổi, sao cho nội dung Giáo Lý không dừng lại ở từng câu từng chữ giảng máy móc và học thuộc lòng rồi trả bài làu làu như... vẹt !

2. Dạy Giáo Lý không phải là học kinh hạt:

Trong giai đoạn còn quá khó khăn trước đây, khi còn thiếu nhiều Linh Mục, lại thiếu các Giáo Lý Viên được đào tạo có hệ thống, rất nhiều nơi đã phải đành chấp nhận chỉ dạy kinh hạt cho các em thiếu nhi thay vì dạy Giáo Lý. Một số Giáo Phận cũng đã cố gắng chuyển tải các điểm cốt yếu trong Giáo Lý bằng những bài thơ lục bát để giúp các em dễ nhớ, dễ thuộc. Dẫu sao, đó chỉ là cách ứng phó tạm thời và hạn chế ở mức độ thấp nhất của việc dạy Giáo Lý.

3. Dạy Giáo Lý không phải là dạy luân lý:

Đương nhiên nội dung Giáo Lý có đưa ra một nếp sống luân lý Ky-tô giáo sâu sắc, nhưng không vì thế Giáo Lý Viên dừng lại ở mức độ liệt kê cho các học viên một loạt các điều cho phép được làm và một loạt các điều cấm không được làm trong đời sống đạo. Dạy Giáo Lý vượt lên trên cả những điều ấy khi mở ra cho người học một mối tương quan mật thiết và thấm thía với Thiên Chúa, với Giáo Hội và với tha nhân chung quanh trong cuộc đời.

4. Dạy Giáo Lý không phải là dạy thần học:

Thần học là một khoa học chuyên biệt, với nhiều trường phái và quan điểm khảo cứu về Thiên Chúa ( Théologie ), nó cung cấp rất nhiều kiến thức, lý luận, nhận định có hệ thống chặt chẽ về Thiên Chúa, tuy đôi khi vẫn còn có thể gây ra nhiều tranh cãi đưa tới nhiều canh tân đổi mới.

Trong khi đó, việc dạy Giáo Lý, dẫu có vận dụng đến một số điểm thần học căn bản, lại muốn đưa các em đến Lòng Tin, Lòng Yêu Mến và Lòng Cậy Trông chân thành đối với Thiên Chúa, để rồi thể hiện cụ thể ra trong đời sống của mình, vượt qua mọi thứ kiến thức và lý luận của lý trí. Do vậy, học Giáo Lý dứt khoát không phải là để nghe những bài thuyết trình hùng hồn hấp dẫn về Thiên Chúa.

5. Dạy Giáo Lý không phải là loan báo Tin Mừng:

Việc loan báo Tin Mừng là hoạt động truyền giáo, đem Lời Chúa đến với người chưa hề biết đạo là gì, chưa hề biết Chúa là Ai. Thường thì việc loan báo Tin Mừng đi trước, kế ngay sau đó là việc giảng dạy Giáo Lý.

Một số vùng truyền giáo ở thượng du phía Bắc và ở Tây Nguyên dành cho người dân tộc hiện nay, sau khi đã được loan báo Tin Mừng, dự tòng là người lớn và cả trẻ em có thể có nhiều năm liền để học Giáo Lý, trong khi bản thân họ vẫn mau mắn quay trở về loan báo Tin Mừng cho những người khác.

6. Dạy Giáo Lý không phải là dạy học như ở Phổ Thông:

Việc dạy Giáo Lý, cho dẫu cũng dựa trên một số nguyên tắc sư phạm ( pédagogie ) và phương pháp giáo dục ( méthodologie ) chung, nhưng lại vượt xa việc dạy học ở trường Phổ Thông ở chỗ: Giáo Lý giúp các em gặp gỡ Lời Chúa, gặp gỡ chính Thiên Chúa, khơi gợi và tăng cường Đức Tin ở tận thâm sâu tâm hồn các em và chuyển thành sự sống tôn giáo thiêng liêng.

7. Dạy Giáo Lý cũng chẳng phải là sinh hoạt tập thể:

Khi dạy Giáo Lý ở các độ tuổi thiếu nhi và thiếu niên, đương nhiên cần phải có những sinh hoạt vui chơi hát hò, nhưng đó chỉ là một phương cách phụ trợ để gây bầu khí sống động hấp dẫn, góp phần rèn luyện cũng như giáo dục nhân bản cho các em. Cái chính yếu của việc dạy Giáo Lý vẫn là nhắm đến việc đào tạo các Ki-tô hữu, những môn đệ của Đức Ki-tô.

II. ĐỊNH NGHĨA VIỆC DẠY GIÁO LÝ:

Tắt một lời, việc dạy Giáo Lý chính là: trình bày Lời Chúa một cách đơn giản, cụ thể và sống động, để giúp các em có thể hiểu và sống Đức Tin. Chữ dạy ở đây, theo nguyên ngữ Hy-lạp, không phải là “didaskein” ( dạy các lý thuyết và kiến thức ), nhưng là “mateutein” ( đào tạo thành những môn đệ ). Từ rất sớm, người ta đã dùng thuật ngữ “Dạy Giáo Lý” để gọi toàn thể các nỗ lực trong Giáo Hội nhằm đào tạo các môn đệ, để giúp mọi người tin rằng Đức Giê-su chính là Con Thiên Chúa, để rồi nhờ Đức Tin và nhờ việc dạy dỗ ấy, họ được sống nhân danh Đức Ki-tô ngay giữa lòng đời, góp phần xây dựng Thân Mình của Đức Ki-tô là Giáo Hội.

Trong Tông Huấn Catechesi Tradendae ( CT ), Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô 2 đã ân cần dặn dò như sau:

Dạy Giáo Lý là một giai đoạn hay một khía cạnh của việc Tin Mừng hóa, do đó, nội dung của Giáo Lý không gì khác hơn nội dung của Tin Mừng hóa: cũng một sứ điệp Tin Mừng cứu độ đã được nghe hằng trăm lần, và được tiếp nhận với tất cả lòng quý mến, sẽ luôn được đào sâu nhờ suy tư và nghiên cứu có hệ thống trong Giáo Lý ( CT 26 ).

Dạy Giáo Lý bao giờ cũng lấy nội dung từ nguồn mạch sống động là Lời Chúa được lưu truyền qua Thánh Truyền và Thánh Kinh, vì Thánh Truyền và Thánh Kinh hợp thành kho tàng thánh thiện duy nhất chứa đựng Lời Chúa và được giao phó cho Giáo Hội ( CT 27 ).

III. DẠY GIÁO LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG MỤC VỤ CỦA GIÁO HỘI:

Ở đây, chúng ta chỉ đề cập đến riêng hoạt động mục vụ rao giảng Lời Chúa của Giáo Hội bên cạnh việc cử hành các Bí Tích, tổ chức và quản trị cộng đoàn, tổ chức đời sống và các việc bác ái.

Mục vụ rao giảng Lời Chúa của Giáo Hội gồm có:

· Tiền Phúc Âm hóa ( Pré-Évangélisation )

· Phúc Âm hóa hay loan báo Tin Mừng ( Kérygme – Évangélisation )

· Dạy Giáo Lý ( Catéchèse )

· Giảng thuyết ( Homélie )

· Thần Học ( Didascalie )

Mục vụ Giáo Lý là hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu được học Giáo Lý của mọi thành phần tín hữu, để đưa cả cộng đoàn lẫn bản thân người tín hữu tới chỗ trưởng thành trong Đức Tin. Đặc biệt đối với trẻ em, sứ mệnh cao cả mà Thiên Chúa và Giáo Hội đã ủy thác cho các Giáo Lý Viên chính là: làm cho Ngôi Lời được sinh ra và lớn lên trong các em.

Ngoài ra, Tông Huấn Catechesi Tradendae còn nhắc nhở:

Bản chất của việc dạy Giáo Lý gắn liền với tất cả các hoạt động Phụng Vụ và các Bí Tích, vì chính các Bí Tích và nhất là Bí Tích Thánh Thểlà nơi Đức Ki-tô hoạt động một cách sung mãn để biến đổi nhân loại. Việc dạy Giáo Lý sửa soạn cho việc lãnh nhận các Bí Tích ( CT 23 ).

Việc dạy Giáo Lý là cần thiết, không những để làm cho Đức Tin của các Ki-tô hữu thêm chín chắn, mà còn để họ làm chứng trên toàn thế giới, sẵn sàng trả lời cho tất cả những ai chất vấn về niềm hy vọng của họ ( CT 25 ).

Để được như thế, phải phân tích và đánh giá tình hình để tìm phương cách hoạt động hữu hiệu cho từng đối tượng. Việc giảng dạy Giáo Lý phải có đường hướng và nguyên tắc chỉ dẫn, có chương trình và kế hoạch, có tổ chức và phương pháp thích hợp, cũng như phải có những phương tiện cần thiết.

IV. VIỆC DẠY GIÁO LÝ CẦN ĐƯỢC CANH TÂN KHÔNG NGỪNG:

Việc dạy Giáo Lý luôn luôn cần được canh tân cùng với từng biến chuyển lớn của thời đại và xã hội. Khi so sánh với Lời Chúa, Giáo Lý chỉ có giá trị tương đối. Lời Chúa mới có tính chất tuyệt đối. Do đó, Giáo Lý có thể và cần phải được thay đổi và cải tiến. Việc dạy Giáo Lý phải được canh tân không ngừng để Lời Chúa được diễn đạt đúng hơn, dõ hơn, sống động và hợp thời hơn.

Chính Thượng Hội Đồng Giám Mục lần thứ 4 năm 1977 đã khẳng định trong Tông Huấn Catechesi Tradendae:

Việc canh tân Giáo Lý là một ân huệ quý giá của Chúa Thánh Thần ban cho Giáo Hội ngày nay ( CT 3 ).

Việc dạy Giáo Lý cần được canh tân liên tục và quân bình về phương pháp, về việc tìm kiếm một ngôn ngữ thích hợp, về việc khai thác các phương tiện mới mẻ để truyền thông sứ điệp ( CT 17 ).

Giáo Hội phải tỏ ra khôn ngoan, can đảm và trung thành với Tin Mừng trong việc tìm kiếm và vận dụng các đường lối và bối cảnh mới mẻ cho việc dạy Giáo Lý ( CT 17 ).

Việc dạy Giáo Lý hiện nay cần được canh tân vì 2 lý do:

· Thế giới ngày nay biến chuyển không ngừng biến chuyển một cách sâu xa, khoa học kỹ thuật phát triển quá nhanh đưa tới tình trạng tục hóa, giải thiêng. Thời chiến tranh lạnh giữa các cường quốc đã chấm dứt. Mặt khác, nhân loại đặc biệt coi trọng các giá trị nhân văn và xã hội, đặt nặng tinh thần phục vụ hữu hiệu.

· Trong khi đó, chính đời sống của Giáo Hội cũng có những đổi thay khi các giá trị cổ truyền bị lung lay, một đông tín hữu tỏ ra lãnh đạm với các sinh hoạt tôn giáo, thậm chí đánh mất Đức Tin. Ngược lại, Công Đồng Va-ti-ca-nô 2 được triệu tập, cùng với việc xuất hiện rất nhiều phong trào thiêng liêng hoạt động rất tích cực, đã khiến cho Giáo Hội mở ra cả một bình minh rực rỡ và lạc quan.

V. KẾT LUẬN:

Như vậy, mọi thành phần trong Giáo Hội cần phải đổi mới cách nhìn ( tư duy ), nhận thức việc dạy Giáo Lý là một nhiệm vụ ưu tiên và tối quan trọng của Giáo Hội, là nhiệm vụ của mọi Ki-tô hữu nhằm giáo dục Đức Tin và đào tạo nên những người Ki-tô hữu trưởng thành. Ngoài ra, còn phải đổi mới cả cách làm ( hành động ) trong việc soạn thảo những nội dung chương trình hợp lý và sâu sắc, chọn được những hình thức giảng dạy phong phú, đầu tư vật chất và nhân sự của Giáo Hội cho việc dạy Giáo Lý.

Riêng với các Giáo Lý Viên, trong tư cách là người đảm nhận việc dạy Giáo Lý, phải luôn chuyên cần học hỏi Lời Chúa, phải kết thân sâu xa với Đức Ki-tô, phải có tinh thần cầu nguyện, biết sẵn sàng từ bỏ chính mình trong công việc phục vụ.

blank

Bài 2: BA NGUYÊN TẮC TRONG VIỆC DẠY GIÁO LÝ

Bài này được trích từ bộ sách Nổi Lửa cho Đời 3 của Cha Lê Quang Uy, trình bày ba nguyên tắc chính trong việc dạy Giáo Lý là: nguyên tắc toàn vẹn, nguyêntắc thích ứng và nguyên tắc sống động. Việc dạy Giáo Lý phải bao gồm tất cả nội dung của Giáo Lý và phải ảnh hưửng đến toàn diện con người học viên. Phương pháp phải thích ứng với lứa tuổi, tâm lý và văn hóa của học viên, và các lớp Giáo Lý phải được trình bày cách sinh động.

I. NGUYÊN TẮC TOÀN VẸN ( INTÉGRITÉ ):

Nguyên tắc toàn vẹn được trải ra trong 2 mặt chính yếu:

1. TOÀN VẸN VỀ NỘI DUNG DẠY GIÁO LÝ:

Tông Huấn Catechesi Tradendae ( CT 30 ) dặn dò chúng ta 3 điểm quan trọng sau đây về sự toàn vẹn của nội dung Giáo Lý:

Lời Đức Tin dứt khoát không được cắt xén, thay đổi, giảm bớt, nhưng phải đầy đủ và toàn vẹn, nghiêm túc và có uy lực. Đứng trước kho tàng Đức Tin của Giáo Hội, không một Giáo Lý Viên chân chính nào được tự ý chọn lựa điều gì họ coi là quan trọng và điều gìø họ cho là không quan trọng, để sau đó dạy điều này mà bỏ không dạy điều kia.

Phương pháp và ngôn ngữ Giáo Lý Viên sử dụng phải thật sự là phương tiện để họ truyền đạt trọn vẹn nội dung Giáo Lý, chứ không phải chỉ là một phần của “Lời ban sự sống đời đời”.

Việc dạy Giáo Lý không thể xa lạ với chiều kích hiệp nhất và đại kết đối với Giáo Lý của các tôn giáo bạn, nhưng nội dung Giáo Lý sẽ chỉ có tính chất đại đồng nếu dạy rằng: toàn thể chân lý mặc khải và các phương tiện cứu độ vẫn tồn tại trong Giáo Hội Công Giáo.

2. TOÀN VẸN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁO LÝ:

Giáo Lý phải có ảnh hưởng trên toàn diện con người gồm có cả tâm hồn và thể xác, lý trí, tình cảm và các hoạt động, phải chi phối toàn bộ cuộc sống và môi trường sống của con người ( nhất là ở độ tuổi thanh thiếu niên ) như gia đình, học đường, Giáo Xứ, khu phố, làng xóm..., và cũng đồng thời chi phối toàn bộ cuộc đời của họ, chứ không chỉ dừng lại ở những năm tháng theo học Giáo Lý, lãnh nhận các Bí Tích xong rồi là hết chuyện như lâu nay nhiều người vẫn quan niệm !

II. NGUYÊN TẮC THÍCH ỨNG ( ADAPTATION ):

Việc dạy Giáo Lý phải luôn luôn được cân nhắc trong việc soạn thảo nội dung và chương trình, cũng như trong việc lo liệu áp dụng các hình thức và phương pháp để trình bày, tiếp thu có chọn lọc các thành tựu trong khoa Sư Phạm Giáo Lý của Giáo Hội toàn cầu, sao cho thích ứng với 2 mặt sau đây:

1. TÂM LÝ CÁC ĐỘ TUỔI:

Vẫn tôn trọng sự toàn vẹn thống nhất của sứ điệp Giáo Lý, nhưng nội dung sẽ lần lượt được dàn trải một cách tiệm tiến, được diễn đạt bằng các hình thức phù hợp với tâm lý của từng độ tuổi các em.

Về cách chia các độ tuổi tâm lý, xin tham khảo thêm phần Tìm Hiểu Tâm Lý Trẻ Em trong Vui Đời Phục Vụ tập 13; phần Giáo Dục Đức Tin Cho Từng Lứa Tuổi trong cuốn Sư Phạm Huấn Giáo của cố Linh Mục Nguyễn Văn Tuyên; và phần phụ chương 4 Lịch Trình Tiến Triển Tâm Lý trong tập Sư Phạm Huấn Giáo của Ban Mục Vụ Giới Trẻ Giáo Phận Sài-gòn.

Ở đây, chúng tôi xin đề nghị một cách chia độ tuổi đặc trưng theo mức độ tham gia vào các đoàn thể tương ứng với Giáo Lý như sau:

Lứa tuổi Ấu Nhi ( từ 1 đến 3 tuổi )

Lứa tuổi Nhi Đồng ( từ 3 đến 7 tuổi )

Lứa tuổi Thiếu Nhi ( từ 7 đến 11 tuổi )

Lứa tuổi Thiếu Niên ( từ 11 đến 14 tuổi )

Lứa tuổi Kha Niên ( từ 14 đến 18 tuổi )

Lứa tuổi Thanh Niên ( từ 18 đến 30 tuổi )

Lứa tuổi Tráng Niên ( từ 30 tuổi trở lên )

2. HOÀN CẢNH VÀ MÔI TRƯỜNG:

Tùy theo những hoàn cảnh đặc thù của xã hội và thời đại, cũng như tùy theo từng môi trường khác biệt của từng miền, từng vùng, từng Giáo Phận, chương trình và hình thức chuyên chở nội dung Giáo Lý có thể có những uyển chuyển chính đáng.

Địa bàn dân cư toàn tòng hoặc giáo dân ở tản mạn, nội thành hay ngoại thành, tỉnh lỵ hay thôn quê, đồng bằng hay thượng du, người Kinh hay người dân tộc... tất cả đòi hỏi một sự cân nhắc cần thiết để Lời Chúa và Giáo Lý đến được với mọi tầng lớp tín hữu.

III. NGUYÊN TẮC SỐNG ĐỘNG ( VIVANT ):

Chương trình chung của Ban Giáo Lý một Giáo Phận, một Giáo Xứ, cũng như bầu khí riêng ở từng lớp Giáo Lý phải luôn giữ được tính cách sống động phấn khởi, để việc dạy và học trở thành một niềm vui. Cần phải tránh rơi vào khuôn khổ cứng ngắc, đơn điệu, kém hiệu quả. Dứt khoát không chủ trương “nhồi sọ”, “học vẹt”, “so kè thành tích”, “biểu dương lực lượng” hoặc “qua loa đại khái” cho xong nhiệm vụ... Muốn được như thế, đòi hỏi cả 2 phía cùng song hành, ăn khớp nhịp nhàng với nhau:

Về phía người dạy: phải biết cách trình bày chân lý, biết độngviên các em khao khát khám phá chân lý.

Về phía người học: phải khao khát tiếp cận chân lý, nỗ lực hòamình tham gia vào việc khám phá chân lý

IV. KẾT LUẬN:

Trên đây là những nguyên tắc quan trọng để việc dạy Giáo Lý đi đúng đường hướng của Giáo Hội.

Xin các vị Giám Mục, các Linh Mục quản xứ, các Linh phụ trách Ban Giáo Lý cần thường xuyên nhắc nhở, hằng năm nên tổ chức một khóa bồi dưỡng nhiều mặt về Sư Phạm Giáo Lý, trong đó có đề cập lại về các nguyên tắc này, để các Giáo Lý Viên, vốn là những người trực tiếp đứng lớp giảng dạy, có thể nắm vững các nguyên tắc, không bỏ sót, không xem nhẹ bất cứ nguyên tắc nào.

blank

Bài 3: TÍNH CÁCH QUY KI-TÔ TRONG GIÁO LÝ

Trọng tâm của môn Giáo Lý là Đức Chúa Giếu Kitô. Người là Thầy, là Đấng dạy Giáo Lý, còn các Giáo Lý viên chỉ là phát ngôn viên của Người. Hay nói đúng hơn, Người dùng miệng họ mà giảng dạy. Nhưng Đức Kitô cũng chính là đề tài của môn Giáo Lý. Dạy Giáo Lý chính là tỏ bày trong Đức Giê-su Ki-tô tất cả ý định vĩnh cửu của Thiên Chúa, dạy Giáo Lý là dạy về chính Đức Ki-tô. Đồng thời muốn dạy Giáo Lý cho có hiệu quả, cần phải dạy theo cách của Đức Kitô.

I. KHÁI NIỆM QUY KI-TÔ:

Thượng Hội Đồng Giám Mục lần thứ 4 năm 1977 nhấn mạnh đến tính cách Quy Ki-tô ( Christocentrisme ) trong việc dạy Giáo Lý.

Ở trọng tâm của khoa Giáo Lý, cốt yếu có một Ngôi Vị là Đức Giê-su Ki-tô, để rồi chúng ta chỉ có một câu trả lời duy nhất là chính Đức Giê-su Ki-tô cho cả 3 câu hỏi thiết yếu trong việc dạy Giáo Lý như sau:

II. AI DẠY GIÁO LÝ ?

Trước hết, chính Đức Ki-tô là Đấng giảng dạy, các Giáo Lý Viên chỉ là phát ngôn viên của Người, là những người trung thành và trung thực truyền đạt lại những gì đã được Đức Ki-tô trao phó. “Thầy đã được trao toàn quyềntrên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” ( Mt 28, 18 – 20 ).

Một Giáo Lý Viên chân chính có thể bộc bạch chân thành theo như Thánh Phao-lô rằng: Không phải là tôi dạy Giáo Lý, mà là chính Đức Ki-tô, Người dạy Giáo Lý cho mọi người nơi tôi, qua tôi, và trong tôi. “Tôi sống,nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” ( Gl 2, 20 ).

III. DẠY GIÁO LÝ VỀ AI ?

Dạy Giáo Lý chính là tỏ bày trong Đức Giê-su Ki-tô tất cả ý định vĩnh cửu của Thiên Chúa, là thông truyền Giáo Lý của Đức Ki-tô, thông truyền chân lý của Người. Do việc, dạy Giáo Lý là dạy về chính Đức Ki-tô.

Muốn trình bày về Chúa Cha, không gì hơn là công bố những gì Đức Giê-su Ki-tô đã giới thiệu về Cha của Người cũng là Cha của chúng ta. “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đếnvới Chúa Cha mà không qua Thầy” ( Ga 14, 6 ) “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha... Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy” ( Ga 14, 11 ).

Muốn đề cập đến Chúa Thánh Thần, chúng ta cũng phải xác tín rằng chính Chúa Thánh Thần là Thần Khí của Đức Giê-su Ki-tô Phục Sinh. “Thầysẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em” ( Ga 14, 16 – 17 ).

Muốn học về Đức Ma-ri-a, chúng ta cũng phải dõi mắt nhìn vào biến cố Nhập Thể của Đức Giê-su Ki-tô, để Mẹ được trở nên E-và mới, hạ sinh Đức Giê-su Ki-tô, trở nên Mẹ của Thiên Chúa và là Mẹ của nhân loại. "Nàyông Giu-se, là con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ." ( Mt 1, 20 – 21 ).

Muốn tìm hiểu về Giáo Hội, chúng ta không thể quên chính Đức Giê-su Ki-tô là Đầu của Hội Thánh, là vị Tân Lang chung thủy sắt son, còn Hội Thánh chính là Thân Mình của Người, là Hiền Thê yêu dấu của Người. “Chính Đức Ki-tô làĐấng cứu chuộc Hội Thánh, thân thể của Người” ( Ep 5, 23 – 24 ). Mọi hoạt động của đời sống Ki-tô hữu cũng đều hướng về Đức Giê-su Ki-tô là trung tâm, là đỉnh cao, là điểm hội tụ, là hệ quy chiếu, là tiêu chuẩn, là mẫu mực tuyệt đối, là trọn vẹn, là tất cả những gì mà Thiên Chúa muốn mặc khải nhờ Người và trong Người. “Đây là điều răn của Thầy: anhem hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” ( Ga 15, 12 ). “Anh em có làm gì, nói gì, thì hãy làm và hãy nói nhân danh Chúa Giê-su, và nhờ Người mà cảm tạ Thiên Chúa Cha.” ( Cl 3, 17 ). IV. DẠY GIÁO LÝ THEO CÁCH THỨC CỦA AI ? Mẫu mực đời sống và công việc phục vụ của người Giáo Lý Viên chính là Đức Ki-tô chứ không phải là ai khác ! Đức Giê-su Ki-tô đã để lại cho chúng ta không những một khoa Sư Phạm Giáo Lý độc đáo và sâu sắc, Người còn lưu lại một cung cách mô phạm của một bậc Tôn Sư vừa đầy quyền năng xuất phát từ Thiên Chúa ( x. Mc 1, 22 ), lại vừa chan chứa lòng trắc ẩn yêu thương đối với mọi người ( x. Mt 15, 32 ), nhất là với những kẻ tội lỗi ( x. Lc 5, 32 ), những người nghèo khổ tật bệnh ( x. Mt 15, 30; Mc, 3, 10; Lc 4, 40 ), và sẵn sàng tha thứ cho cả kẻ thù đã hãm hại Người ( x. Lc 23, 34 ). Mặt khác, Đức Giê-su Ki-tô đặt nền tảng cho các hoạt động rao giảng bằng đời sống cầu nguyện. Trước khi khởi đầu sứ vụ công khai, Người đã vào hoang địa để được Chúa Thánh Thần hướng dẫn cầu nguyện và tĩnh tâm suốt 40 ngày ( x. Lc 4, 1 – 2 ). Khởi sự một ngày hoạt động của Người luôn luôn là cầu nguyện ( x. Mc 1, 35 ). Người cầu nguyện suốt đêm trước khi chọn Nhóm Mười Hai ( x. Lc 6, 12 ). Kết thúc một ngày tất bật, Người lại lánh mình đi cầu nguyện ( x. Lc 5, 16 ). Bắt đầu bước vào cuộc Thương Khó, Đức Giê-su Ki-tô cầu nguyện với các môn đệ trong bữa ăn cuối cùng ( x. Ga 17 ), nơi vườn Ghết-xê-ma-ni trước khi Người bị bắt ( x. Lc 22, 39 – 44 ) và trong giây phút Người sắp lìa đời trên Thập Giá ( x. Lc 23, 46 ). Tắt một lời, sứ điệp Đức Giê-su Ki-tô rao giảng và chính bản thân Người là một, không có sự tách biệt, so le, hay mâu thuẫn. Người loan báo Tin Mừng Yêu Thương và cũng chính Người là Tình Yêu Thương của Thiên Chúa dành cho nhân loại. “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” ( Ga 15, 13 ).

V. KẾT LUẬN: Xin mượn lời của Tông Huấn Catechesi Tradendae: “Người Giáo Lý Viên theo chân Đức Giê-su Ki-tô, phải luôn chuyên cần học hỏi Lời Chúa do Huấn Quyền của Giáo Hội thông truyền, phải luôn kết thân sâu xa với Đức Ki-tô và với Chúa Cha, phải có được tinh thần cầu nguyện, từ bỏ bản thân, hoàn toàn để Chúa Thánh Thần làm việc nơi mình trong mọi sự và mọi lúc” ( CT 5 và 6 ).

blank

Bài 4: ĐỨC KI-TÔ, BẬC THẦY CỦA GIÁO LÝ VIÊN

Chúng ta đã đặt vấn đề dạy Giáo Lý theo cách thức của Đức Giê-su Ki-tô. Vậy không gì hơn là chúng ta hãy phân tích để học hỏi đường lối dạy Giáo Lý của chính Đức Giê-su Ki-tô đã áp dụng. Xin liệt kê 8 nguyên tắc rất đơn giản mà hiệu nghiệm:

Chúng ta đã đặt vấn đề dạy Giáo Lý theo cách thức của Đức Giê-su Ki-tô. Vậy không gì hơn là chúng ta hãy phân tích để học hỏi đường lối dạy Giáo Lý của chính Đức Giê-su Ki-tô đã áp dụng. Xin liệt kê 8 nguyên tắc rất đơn giản mà hiệu nghiệm:

I. TRỰC TIẾP NÓI VỚI NGƯỜI NGHE:

Đức Giê-su Ki-tô quả thật là một con người của quần chúng. Người đi khắp nơi trong suốt cả cuộc đời để gặp gỡ quần chúng. Chung quanh Người luôn có một đám đông tìm đến để lắng nghe, và Người đã chạnh lòng thương họ, không quản ngại giảng dạy cho họ, nhiều khi đến kiệt sức.

Trên núi, trong hoang địa, dưới thuyền, ngoài bãi biển, trong Hội Đường, nơi Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, tại bàn ăn, giữa tiệc cưới, ở mọi góc phố, và cả trên Thập Giá, ở đâu Người cũng có những lời giảng dạy về Chúa Cha, về Nước Trời, về giới răn Yêu Thương, về lòng tha thứ...

Người tiếp xúc với đủ mọi hạng người: kẻ giàu người nghèo, kẻ bệnh tật, người đang gặp khổ đau, người Pha-ri-sêu, các Luật Sĩ, sĩ quan Rô-ma, người miền Sa-ma-ri, các cô gái điếm, người thu thuế, kẻ tử tù... miễn là họ có lòng chân thành sám hối, muốn đi theo con đường Đức Giê-su mời gọi.

Đức Giê-su không hề biên soạn và viết ra một tác phẩm nào cho mục đích giảng dạy gián tiếp, Người trực tiếp nói với mọi người, đối thoại một cách ân cần, khi nhỏ nhẹ, lúc hùng hồn, và đặc biệt là yêu quý trẻ em lúc nào cũng quấn quít bên Người ( x. Mt 18, 2; Mc 10, 14).

II. TRÌNH BÀY VỪA TẦM NGƯỜI NGHE:

Đa số thính giả của Đức Giê-su là người bình dân chất phác, lao động chân tay, mù chữ hoặc ít học. Người đã dùng ngôn ngữ của chính họ và những hình ảnh minh họa gần gũi dễ hiểu để giảng dạy và trò chuyện thân tình với họ, tận tụy giải đáp các thắc mắc của họ và không tiếc lời khen ngợi, khích lệ những ai có thành tâm thiện chí.

Ngược lại, đối với những một số ít người có học, hoặc khi họ muốn tranh luận bắt bẻ, Đức Giê-su cũng sẵn sàng lý luận, trưng dẫn Kinh Thánh (x. Mt 11, 10; 12, 40; 15, 4. 8) vận dụng Luật Mô-sê ( x. Mt 5, 21. 27. 31. 33. 38. 43), viện lẽ khôn ngoan trong cuộc sống ( x. Mt 5, 15; 6, 24; 12, 25. 29. 33; Lc 6, 39 – 40; 48 – 49) để thuyết phục họ, hoặc thẳng thắn phi bác, cho thấy họ đã lầm lạc hay ngoan cố.

III. DÙNG CÁI DỄ HIỂU ĐỂ NÓI VỀ CÁI KHÓ HIỂU:

Khi muốn dạy một chân lý cao siêu, một mầu nhiệm khó hiểu, mới lạ và khó tin, Đức Giê-su đã chọn những sự việc và sự vật cụ thể, mượn những khái niệm gần gũi, những hình ảnh quen thuộc, những kinh nghiệm sống động của đời thường làm dẫn chứng hay minh họa.

Có thể nói, Người đã vận dụng phương pháp quy nạp đơn sơ hơn là phương pháp diễn giải phức tạp; dùng lối ẩn dụ so sánh để đi tới kết luận hơn là chọn những luận lý kinh viện bác học.

Đức Giê-su còn thường dùng các dụ ngôn ( Paraboles) để giảng dạy. Thay cho những định nghĩa trừu tượng, các chân lý và mầu nhiệm đã được gói ghém trong một câu truyện kể ngắn gọn, với đầy đủ tình tiết hấp dẫn mà hợp lý hợp tình, nghe xong là tự khắc hiểu được bài học, tự mình rút ra được một số yếu tố siêu việt của Nước Trời và có thể áp dụng ngay vào đời sống thường nhật hiện tại.

IV. ĐÚC KẾT THÀNH NHỮNG CÂU DỄ NHỚ:

Sau khi đã diễn giải một chân lý, một mầu nhiệm, một giới luật mới để giúp người nghe hiểu được một cách sáng tỏ, bao giờ Đức Giê-su cũng có những lời đúc kết ngắn gọn và giản dị để giúp họ ghi nhớ sâu xa và thấm thía, đồng thời sẵn sàng đem ra thực hành một cách dễ dàng.

Xin đơn cử những câu kết luận như thế trong Tin Mừng:

· Về việc cầu nguyện: “Ai xin thì sẽ được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõcửa thì sẽ mở cho” ( Lc 11, 9).

· Về đức khiêm tốn: “Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, ai hạ mìnhxuống sẽ được nâng lên” ( Lc 14, 11).

· Về tinh thần phục vụ: “Thầy đến để phục vụ, chứ không phải đểđược phục vụ” ( Mc 10, 41).

· Về sự bền đỗ: “Kẻ được gọi thì nhiều, nhưng người được chọn thìlại ít” ( Mt 22, 14).

· Về lòng tình yêu thương: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầyđã yêu thương anh em” ( Ga 15, 12).

· Về sự từ bỏ: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thậpgiá mình hằng ngày mà theo” ( Lc 9, 23).

V. NHẮC LẠI DƯỚI NHIỀU HÌNH THỨC:

Khi trình bày một chân lý hay một điểm Giáo Lý, Đức Giê-su thường nhắc đi nhắc lại dưới nhiều hình thức khác nhau. Như vậy, vấn đề càng dễ nhớ, dễ hiểu, dễ thực hành trong đời sống hơn mà lại không sợ nhàm chán đơn điệu. Hơn nữa, một lần vấn đề được nhắc lại, vẫn có dịp để thêm bổ túc những khía cạnh mới.

Ví dụ, để minh họa cho lòng Chúa yêu thương những người tội lỗi, luôn chờ mong họ hoán cải, Đức Giê-su đã dùng rất nhiều dụ ngôn khác nhau mà Tin Mừng theo Thánh Lu-ca đã ghi lại trong toàn bộ chương 15 như: Dụ Ngôn Con Chiên Bị Mất, Dụ Ngôn Đồng Bạc Bị Mất, Dụ Ngôn Người Cha Nhân Hậu ( x. Lc 15, 1 – 32).

VI. TIẾN TỪNG BƯỚC THEO TRÌNH ĐỘ CỦA NGƯỜI NGHE:

Một chân lý cao siêu, một mầu nhiệm khó hiểu không thể trong một bài dạy, trong một lần học mà có thể đón nhận trọn vẹn ngay được. “Mưa lâuthấm đất”. Rõ ràng cần phải có thời gian để thấm thía. Vì thế, Đức Giê-su đã luôn luôn vén tỏ mầu nhiệm Nước Trời, Nước Thiên Chúa từng bước, từng chút một. Mỗi lần giảng dạy, Người lại bổ túc thêm một ít, đào sâu và mở rộng thêm những gì đã dạy trước đó.

Lấy ví dụ, Đức Giê-su đã từ từ tỏ mình cho các môn đệ rằng chính là Đấng Thiên Sai, là Đấng Cứu Thế, để rồi cuối cùng, đến lúc chín muồi, Người mới tự giới thiệu Người chính là Con Thiên Chúa trong biến cố Hiển Dung trên một ngọn núi cao ( x. Mc 9, 2 – 8 ).

Một ví dụ khác: Đức Giê-su đã 3 lần tiên báo về cuộc thương khó và cái chết Người sẽ phải chịu để chuẩn bị cho các môn đệ có thể bình tĩnh đón nhận biến cố Vượt Qua đau xót nhưng cần thiết này ( x. Mc 8, 31; 9, 30 – 32; 10, 32 – 34 ).

VII. DÙNG KINH THÁNH ĐỂ MINH CHỨNG:

Đức Giê-su thường trích dẫn những lời Thánh Kinh để giúp ngườinghe dễ tin và hiểu sâu hơn những lời Người giảng dạy.

Những lời Kinh Thánh ấy còn minh chứng rằng: Người đến là để hoàn tất mọi sự. Những lời Người nói, những việc Người làm vừa nối tiếp, vừa thực hiện những gì đã được tiên báo trong Cựu Ước. Người chính là Đấng mở ra thời Tân Ước, thực hiện mọi lời hứa và mọi ý định của Thiên Chúa đối với Dân của Người ( x. Mt 11, 10; 12, 40; 15, 4. 8).

VIII. VỪA GIẢNG DẠY VỪA CẢM HÓA:

Trong khi diễn giải mầu nhiệm Nước Trời, Đức Giê-su cũng gợi lên nơi người nghe lòng yêu thích, khao khát đón nhận chân lý và sẵn sàng thay đổi cuộc sống.

Đã có một số không hưởng ứng lời mời gọi ấy ( như chàng thanh niên giàu có còn tiếc rẻ của cải đời này trong Mc 10, 17 – 22), nhưng ngược lạiđã có rất đông người đã được cảm hóa để đổi đời ( như: người đàn bà xứ Sa-ma-ri trong Ga 4, 7 – 42; người phụ nữ ngoại tình trong Ga 8, 3 – 11; người mù từ thuở mới sinh trong Ga 9, 1 – 38; người bệnh liệt giường vác chõng ra về trong Ga 5, 5 – 14; ông Da-kêu trong Lc 19, 1 – 10; người gian phi trên thập giá trong Lc 23, 39 – 43... )

IX. KẾT LUẬN:

Đã từng có một Hội Nghị Quốc Tế, thuần túy phi tôn giáo, được tổ chức đặc biệt để nghiên cứu về khoa sư phạm của “thầy giáo Giê-su thành Na-da-rét”. Và các nhà khoa học về giáo dục và sư phạm của hơn 120 quốc gia đã nhất trí chọn Người là “Nhà Giáo mẫu mực của mọi thời”.

Vậy, chẳng lẽ các Giáo Lý Viên là các môn đệ của Đức Giê-su, lại không học hỏi khoa Sư Phạm Giáo Lý nơi chính vị Tôn Sư vĩ đại của mình?

blank

Bài 5: TỔ CHỨC MỘT LỚP GIÁO LÝ

Muốn tổ chức một lốp Giáo Lý, hay nói đúng hơn một chương trình Giáo Lý cho quy mô, cần phải chú trọng đến việc đào luyện các đợt Giáo Lý viên về nôi dung và phương pháp sư phạm. Việc huấn luyện cả hai mặt nói trên không phải chỉ làm một lần mà xong, nhưng phải vừa toàn diện, vừa tiệm tiến, từ căn bản từng môn đạt tới mức độ chuyên sâu hơn. Cũng cần phải thường xuyên tổ chức các khóa bồi dưỡng và nâng cao, bổ túc, cập nhật hóa cho kịp với những biến chuyển, canh tân, phát kiến của thời đại, xã hội và Giáo Hội.I. NHÂN SỰ:

Để có thể đáp ứng được Tính Cách Quy-Ki-tô như đã trình bày, đồng thời lại phải nắm vững các nguyên tắc sư phạm, có 2 mặt quan trọng trong việc huấn luyện đội ngũ các Giáo Lý Viên, đó là:

· Huấn luyện về nội dung Giáo Lý: Ngoài các kiến thức về Thánh Kinh,Thần Học, Phụng Vụ, Luân Lý, Lịch Sử Cứu Độ, Giáo Hội... các Giáo Lý Viên còn cần được giúp tăng tiến về đời sống cầu nguyện, tác phong đạo đức Ki-tô hữu.

· Huấn luyện về phương pháp sư phạm: Các Giáo Lý Viên cầnphải hiểu biết tương đối thấu đáo về tâm lý các độ tuổi học sinh Giáo Lý, được tập huấn để làm quen với các phương pháp sư phạm để có thể tự tin khi đứng lớp.

Cần lưu ý rằng: việc huấn luyện cả hai mặt nói trên không phải chỉlàm một lần mà xong, nhưng phải vừa toàn diện, vừa tiệm tiến, từ căn bản từng môn đạt tới mức độ chuyên sâu hơn. Cũng cần phải thường xuyên tổ chức các khóa bồi dưỡng và nâng cao, bổ túc, cập nhật hóa cho kịp với những biến chuyển, canh tân, phát kiến của thời đại, xã hội và Giáo Hội.

Thường thì theo một quy luật thực tế, cứ sau khoảng 5 năm, lại cần phải có một đội ngũ Giáo Lý Viên mới để kế thừa lớp đàn anh đàn chị. Khởi đầu, những bạn trẻ mới được đào tạo và huấn luyện sẽ tập sự, phụ tá cho quen thạo dạn dĩ, tích lũy kinh nghiệm thực tế đứng lớp, dần dần sẽ tiến tới việc cộng tác, và nếu cần thì có thể thay thế. Có như vậy, Ban Giáo Lý mới không bị khủng hoảng vì thiếu nhân sự.

Chúng ta thấy rõ: trước tiên là vai trò và trách nhiệm của Cha Sở hết sức quan trọng, ngài phải lo sao để quy tụ và đào tạo được một số người trong Giáo Xứ có khả năng đảm nhận việc dạy Giáo Lý. Kế đến là sự hưởng ứng và cộng tác nhiệt thành của anh chị em giáo dân, nhất là những bạn trẻ.

Cũng cần phải thấy rằng, trong thời gian mấy thập niên vừa qua, nhiều vùng kinh tế mới xa xôi hẻo lánh, tuy không thể có Linh Mục, nhưng lại đã hình thành được một đội ngũ anh chị em Giáo Lý Viên rất có năng lực và nhiệt tâm, tự đứng ra lo liệu việc tổ chức Ban Giáo Lý, chọn lựa chương trình giảng dạy phù hợp, đạt kết quả khả quan. Đến khi có được Linh Mục mới thụ phong bổ nhiệm về, thì tiếc thay, mọi sự đều bị... lật nhào, xóa sổ !

II. CHƯƠNG TRÌNH VÀ KẾ HOẠCH:

Hiện nay, chúng ta hiện có nhiều giáo trình Giáo Lý khác nhau, như của Giáo Phận Đà-nẵng, Xuân-lộc, Nha-trang, Sài-gòn... Do vậy, các Đức Giám Mục, các Linh Mục Quản Xứ có thể có hai cách:

· Chọn sử dụng một trong các giáo trình trên đây và thích nghi vớihoàn cảnh riêng của Giáo Phận và của Giáo Xứ mình.

· Tham khảo các giáo trình đã có cùng các tài liệu khác để hình thành một Ban Mục Vụ Huấn Giáo, soạn ra một giáo trình riêng, có đường hướng rõ rệt của Giáo Phận và Giáo Xứ của mình.

Từ đó, các ngài dựa theo chương trình này để phác thảo một kế hoạch giảng dạy Giáo Lý chi tiết cho từng tháng, từng niên khóa Giáo Lý, trong đó có thể chia thành 2 học kỳ, mỗi học kỳ khoảng từ 3 tới 4 tháng, sao cho thích hợp với thời điểm của các Đại Lễ Phụng Vụ, với thời điểm trao ban các Bí Tích Hòa Giải, Thánh Thể ( Rước Lễ Lần Đầu ), Thêm Sức và Tuyên Tín trọng thể ( trước đây quen gọi là Bao Đồng ).

Cũng nên dành ra một thời gian để các em được nghỉ hè, hoặc ôn thi hết cấp học ở trường Phổ Thông. Đây cũng là dịp để các Giáo Lý Viên được nghỉ ngơi, đi hành hương hoặc giao lưu với các đoàn Giáo Lý Viên bạn, nhất là để tổng kết các kinh nghiệm của năm học Giáo Lý vừa qua, chuẩn bị chu đáo cho năm học mới, cho ngày khai giảng Giáo Lý sắp tới.

III. SOẠN BÀI:

Trước khi bắt tay vào việc soạn giáo án cho một bài dạy Giáo Lý, mỗi Giáo Lý Viên cần lưu ý các điểm sau đây:

· Phải nắm vững toàn bộ chương trình của niên khóa Giáo Lýcủa lớp mình đảm nhận, và cả toàn bộ Chương Trình Huấn Giáo chung cho lớp trước và lớp sau của lớp mình sắp dạy, từ đó mới có thể có cái nhìn bao quát, hệ thống liền lạc ăn khớp với nhau về các nội dung mình cần chuyển tải đến các em.

· Phải suy gẫm và sống Lời Chúa mà mình sẽ thông truyền chocác em trong từng bài dạy, cần đọc kỹ và tìm hiểu sâu xa chính bản văn Lời Chúa trong từng bài, soát xét lại đời sống bản thân.

· Phải quan tâm đến đời sống và sinh hoạt của các em trongtuần vừa qua, xem có sự kiện hay biến cố nào có thể giúp mình đưa vào bài soạn như một chứng từ sống động, có tính thuyết phục.

Đến khi bắt tay vào việc soạn giáo án, các Giáo Lý Viên cần được Cha Sở hoặc người phụ trách Ban Giáo Lý hướng dẫn các mặt như sau:

· Cách thức soạn bài: Giáo Lý Viên cần phải xác định đượcngay từ đầu 8 điểm quan trọng dưới đây của một bài Giáo Lý:

1. Chủ đề chung của bài: Mỗi năm học Giáo Lý đều có một chủđề chung duy nhất, thâu tóm toàn bộ nội dung các phần, các bài sẽ được dạy. Chủ đề chung này sẽ được ghép vào với từng chủ đề riêng. Ví dụ: Lớp Một chương trình Giáo Lý của Giáo Phận Sài-gòn có chủ đề chung là: “Chúa yêu con”.

2. Chủ đề riêng của bài: Sẽ có từng loạt nhiều bài nằm trong mộtchủ đề riêng được khai triển từ một chủ đề chung của năm học Giáo Lý. Như ở ví dụ vừa nêu, chủ đề chung ”Chúa yêu con” có tất cả 3 chủ đề riêng như sau:

Phần 1: Chúa yêu con, cho con mọi sự

Phần 2: Chúa yêu con, cho con biết Chúa

Phần 3: Chúa yêu con, đến ở với con.

3. Đề tài riêng của bài: Đề tài cũng chính là tên của từng bài, là nội dung mà bài muốn đề cập đến. Có thể nói đề tài của bài là bản toát yếu cô đọng nhất của bài. Từ một chủ đề riêng, các đề tài được triển khai, quảng diễn thành nhiều bài, để từ đó Giáo Lý Viên dễ dàng giúp các em từng bước nắm được từng ý lực, từng chủ đề riêng có liên quan chặt chẽ với nhau trong một năm học. Như ở ví dụ đề cập trên đây, Chủ đề phần 1 là: “Chúa yêu con, cho con mọi sự” là chủ đề riêng của 4 bài:

Bài 01: Chim trời, cá biển hãy chúc tụng Thiên Chúa.

Bài 02: Mặt trời, mặt trăng hãy ca ngợi Thiên Chúa.

Bài 03: Thiên Chúa cho chúng ta tất cả, vì Người là Cha ta.

Bài 04: Chúa dựng nên chúng ta giống Chúa.

4. Khởi điểm của từng bài: Chúng ta có thể thấy ngay khởi điểm của mỗi bài nằm ở ngay trong đề tài cũng là tựa đề, tên gọi của bài. Từ khởi điểm này, Giáo Lý Viên sẽ bắt đầu câu chuyện với các em. Đối với các độ tuổi thiếu nhi, bài giảng áp dụng phương pháp quy nạp, nên Giáo Lý Viên sẽ có khởi điểm là những chuyện, những sự vật gần gũi quen thuộc mà các em tiếp xúc và thấy thường ngày chung quanh mình. Với ví dụ nêu trên, khởi điểm của bài 01 chính là chuyện con chim trên trời, con cá dưới biển...

5. Đích điểm của bài: Rõ ràng mục tiêu của bài Giáo Lý ở đâykhông giống như ở trường Phổ Thông, chúng ta không nhắm cung cấp cho các em kiến thức khoa học thường thức, chúng ta chỉ mượn chuyện con chim, con cá để dẫn các em đến với đích điểm là nhận ra Thiên Chúa chính là Đấng đã tạo dựng nên con chim, con cá và trao tặng cho con người, cho các em được hưởng dùng.

6. Xác tín của bài: Từ đích điểm đã đạt được sau khi diễn giảngcho các em, Giáo Lý Viên sẽ dẫn các em tới một xác tín quan trọng. Tắt một lời, bao giờ đích điểm của bài Giáo Lý cũng là tuyên xưng một chân lý về Thiên Chúa. Tất cả mọi đích điểm của mọi bài Giáo Lý đều đã được cô đọng trong Kinh Tin Kính. Ví dụ: Thiên Chúa là Đấng Tạo Dựng nên mọi sự; Thiên Chúa là Đấng Quan Phòng; Thiên Chúa là Tình Yêu; Đức Giê-su là Con Một của Thiên Chúa Cha; Đức Giê-su là Đấng Cứu Độ...

7. Tâm tình của bài: Từ xác tín vào Thiên Chúa, Giáo Lý Viên lạiđưa dẫn các em vào tâm tình chính yếu của bài như một thái độ đáp trả xứng đáng của bản thân các em với Thiên Chúa. Tâm tình này sẽ được Giáo Lý Viên lồng vào phút cầu nguyện đỉnh cao trong bởi dạy Giáo Lý. Có thể đó là một lời tạ ơn Thiên Chúa đã tạo dựng cho em, đã tạo dựng nên chính em, cũng có thể đó là lời tôn vinh chúc tụng quyền năng của Thiên Chúa...

8. Thực hành của bài: Giáo Lý Viên dặn dò các em những việc,những điều thực hành cụ thể nho nhỏ và vừa tầm trong cuộc sống của các em được rút ra từ kết luận của bài Giáo Lý. Ví dụ: Em sẽ vâng lời cha mẹ, các thầy cô; Em sẽ sống dễ thương nhân ái với bạn bè; Em sẽ không nói tục chửi thề hay đánh nhau; Em sẽ tôn trọng thiên nhiên và môi trường bằng cách không bẻ cành vặt hoa hay xả rác bừa bãi...

8 điểm mấu chốt quan trọng vừa nêu sẽ được trình bày như mộtcái khung của Giáo Án từng bài, cứ lần lượt theo đó để đặt ra các câu hỏi cho các em khi diễn giảng.

· Mỗi Giáo Lý Viên phải soạn bài đầy đủ, cho dù đã có sẵn thủbản hay giáo trình Giáo Lý trong tay. Dứt khoát không nên lấy sách bổn ra đọc, cắt nghĩa, và bắt các em chép vào tập. Bài soạn phải trình bày rõ ràng, chu đáo trong sổ giáo án.

· Sau khi đứng lớp, nên có bước tự lượng giá, ghi chú thêm vào cuối phần bài soạn của mình những sáng kiến tự phát của mình đã có trong lúc giảng, cũng như những phản ứng tinh tế từ phía các em ( uể oải, chán ngán, khó hiểu, hoặc hăng hái, hứng khởi, mau tiếp thu, đặt ra nhiều thắc mắc chính đáng, đưa ra được những nhận xét độc đáo... ) để buổi dạy sau và năm học sau có thể tham khảo, canh tân, gia giảm.

· Thỉnh thoảng Cha Sở hoặc người phụ trách Ban Giáo Lý có thể kiểm tra, góp ý, giới thiệu những sổ giáo án đạt hiệu quả mẫu mực cho toàn Ban Giáo Lý cùng nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. Những anh chị em Giáo Lý Viên kỳ cựu, vì lý do nào đó phải nghỉ dạy, có thể gửi lại các sổ giáo án các năm đã dạy để lưu trong tủ sách tham khảo chung của Ban Giáo Lý.

· Có thể tổ chức soạn bài chung trong một nhóm Giáo Lý Viên cùng phụ trách một cấp lớp như: khối Khai Tâm, Thánh Thể, Thêm Sức, Tuyên Tín ( Bao đồng ), Vào Đời...

Diễn tiến một buổi họp soạn bài chung được đề nghị như sau:

· Mỗi nhóm Giáo Lý Viên cùng cấp, cùng khối sẽ tự hình thành theo các phương pháp Nhóm Ong hoặc Hoạt Động Xưởng ( Các phương pháp Buzz-Group hoặc Système d’Atelier – xin xem thêm Tuyển Tập Nối Lửa Cho Đời số 1 ). Trưởng Nhóm là một Linh Hoạt Viên sẽ đọc đề tài và nội dung cần soạn, mỗi người trong Nhóm suy nghĩ và cầu nguyện riêng trong khoảng 5 – 10 phút.

· Lần lượt từng Giáo Lý Viên trình bày ý kiến, một người làm thư ký ghi nhận, tất cả chưa vội bàn cãi tranh luận hay quyết định chọn lựa một ý kiến nào ngay. Có thể dùng các phương pháp Lập Phiếu và Động Não ( Các phương pháp Fichier và Brain Storming – xin xem thêm Tuyển Tập Nối Lửa Cho Đời số 1 ) để tiến hành thu nhặt ý kiến nhanh và đầy đủ chi tiết liên quan đến bài Giáo Lý.

· Trưởng Nhóm dựa vào ý chính của bài Giáo Lý ( có thể dựa vào một giáo trình gốc, một tài liệu thủ bản Giáo Lý chuần xác nào đó ), cứ theo trình tự từng phần của giáo án đòi hỏi mà chọn ra và đúc kết những nét quan trọng cốt yếu mà mọi người đều cùng đồng ý. Tất cả cùng ghi nhận vào sổ giáo án của mình.

· Cả Nhóm lại cùng nhau tìm chọn thái độ tâm linh, tức là nhữngtâm tình sống cho các em, chọn đoạn Lời Chúa thích hợp, tìm các kinh nghiệm sống có thể giúp các em hiểu bài và nhớ bài, đề nghị các tài liệu nghe – nhìn ( nếu có và nếu cần ), các bài hát và câu truyện minh họa, các trò chơi sinh hoạt ứng với bài Giáo Lý đang soạn.

IV. KẾT LUẬN:

Hiệu quả từ một công việc làm chung theo Nhóm bao giờ cũng cao hơn việc làm đơn độc. Nội dung của bài Giáo Lý trong cùng một cấp, một khối được bảo đảm đồng nhất, chính xác mà vẫn phát huy được tính đa dạng phong phú của mỗi cá nhân khi giảng dạy thật sự.

Hơn nữa tình thân của các Giáo Lý Viên trong một Nhóm cũng nhờ đó mà càng trở nên gắn bó, làm cho sự đoàn kết trong Ban Giáo Lý thêm bền vững.

Dẫu sao, các phương pháp năng động Nhóm có hiệu quả đến đâu, vẫn cần luôn nhớ: Hãy dành chỗ cho Chúa Thánh Thần tác động.

blank

Bài 6: DIỄN TIẾN MỘT BUỔI HỌC GIÁO LÝ

Bài này trình bày những gì một Giáo Lý viên phải làm trước giờ học, trong giờ học và sau giờ học. Ngoài việc soạn bài, các Giáo Lý viên phải đến lớp ít ra là 15 phút trước giờ học để chẩun bị đón tiếp học sinh. Sau giờ học, Giáo Lý viên cũng nên tiếp xúc thường xuyên với các phụ huynh

Một buổi học Giáo Lý cần thiết được phân định thành 3 giai đoạn như sau:

I. TRƯỚC BUỔI HỌC:

· Giáo Lý Viên cần chuẩn bị phòng học cho sạch sẽ, ngăn nắp. Có thể tùy theo nhu cầu của buổi học mà sắp xếp các dãy bàn ghế theo hình chữ U hay hình chữ nhật, thậm chí có thể dẹp hết bàn ghế vào sát vách để trải chiếu ngồi vòng tròn dưới nền nhà.

· Không hẳn buổi học nào cũng là ngồi trong phòng, nhưng có thể tùy theo nội dung và yêu cầu sư phạm, mạnh dạn đổi địa điểm học ra sân Nhà Thờ, dưới chân tượng đài Đức Mẹ, trong lòng Nhà Thờ hoặc ngay trên Cung Thánh...

· Bản thân Giáo Lý Viên luôn luôn phải đến lớp trước hết, thường là sớm 15 phút để chủ động đón tiếp các em. Hành trang luôn sắp sẵn: sổ giáo án, sách Kinh Thánh, các tài liệu giảng dạy kèm theo như truyện kể, bài hát, trò chơi, hình ảnh minh họa...

II. TRONG BUỔI HỌC:

Các bước diễn tiến dưới đây chỉ mang tính tương đối, có thể uyển chuyển thay đổi thứ tự hoặc thêm bớt, miễn là đạt được mục đích nhắm tới của nội dung bài Giáo Lý .

· Mở đầu là đón tiếp từng em. Kế đó, khi đã đông đủ thì ổn định lớp, thường là bằng cách để tạo bầu khí sôi nổi hứng thú. Sau đó, mời các em đứng lên bắt lên một bài hát sinh hoạt quen thuộc, sửa sang y phục tề chỉnh, lắng lòng lại để chuẩn bị cầu nguyện.

· Cầu nguyện đầu buổi học, có thể chính Giáo Lý Viên dâng mộtlời nguyện ngắn với Chúa Thánh Thần, cũng có thể đọc đoạn Lời Chúa ý lực của bài học lần trước, hoặc của bài sắp dạy, hát chung một bài Thánh Ca ( chọn được bài hát của thiếu nhi, dùng cho cả năm học thì càng tốt).

· Ôn bài Giáo Lý đã học lần trước. Tránh dùng hình thức sáomòn lâu nay như: khảo bài – trả bài, ghi điểm vào sổ, trách mắng, ra các hình phạt phản giáo dục... Nên dùng hình thức hội thoại, gợi ý để các em trả lời theo trí hiểu hơn là theo trí nhớ.

· Dẫn nhập vào bài mới bằng một kinh nghiệm sống hoặc một câutruyện kể ( xin sử dụng Tuyển Tập Nối Lửa Cho Đời số 2, 4, 6). Cũng có thể móc nối với bài đã học lần trước, đặt một vài câu hỏi gợi ý cho các em để hướng dẫn từng bước đến chủ đề của bài sắp dạy.

· Viết đoạn Lời Chúa ý lực trên bảng, hoặc cũng có thể viết sẵn trên một băng giấy lớn rồi lúc này gắn lên bảng). Mời các em đứng lên nghe Giáo Lý Viên công bố hoặc cả lớp cùng đọc đoạn Lời Chúa một cách trân trọng. Có thể dùng phương pháp đọc Lời Chúa theo 3 thì ( 3 temps): tất cả đọc chung ( đọc bằng miệng); thinh lặng trong ít phút để nhìn lên bảng đọc thầm ( đọc bằng mắt); cuối cùng Giáo Lý Viên sẽ đọc lại với tốc độ chậm, to và rõ chữ ( đọc bằng tai).

· Chuyển sang phần diễn giải bài Giáo Lý mới, mời các em ngồi xuống, nên dùng hình thức hội thoại để gợi ý cho các em suy nghĩ và phát biểu cùng xây dựng bài. Nếu Giáo Lý Viên muốn chủ động giúp các em hiểu bài theo hướng đã soạn trong giáo án thì nên dùng phương pháp quy nạp chứ hạn chế dùng phương pháp diễn giải, vừa khó hiểu, vừa dễ khiến các em mau chóng... ngủ gật và chán ngán việc phải đi học Giáo Lý.

· Đến đỉnh cao của buổi học Giáo Lý, mời cả lớp đứng lên cử hànhcầu nguyện ( célébration de la prière ) một cách long trọng, vì đây là giây phút các em gặp gỡ chính Lời Chúa, là mục tiêu mà bài Giáo Lý nhắm tới. Cùng nhau công bố Lời Chúa một lần nữa . Sau đó có thể mời các em dâng lời nguyện tự phát, xin ơn, cảm tạ, chúc tụng, quyết tâm... Giáo Lý Viên dâng lời cầu nguyện kết ngắn gọn. Hát chung bài ca ý lực Lời Chúa thật hân hoan phấn khởi.

· Cho các em ngồi xuống, ghi bài toát yếu vào tập. Bài toát yếu thường rất gọn, chỉ từ 2 đến 6 giòng tùy trình độ và lứa tuổi học sinh. Giáo Lý Viên dặn dò công việc ở nhà nếu có, thường là thực hành một cử chỉ đẹp, tập luyện một tính tốt theo mời gọi của Lời Chúa.

· Chuyển sang phần sinh hoạt để củng cố bài Giáo Lý vừa học. Có thể chọn hoặc chế biến một trò chơi nhỏ ứng với chủ đề bài Giáo Lý. Có thể tập một bài hát có cử điệu ( xin xem thêm Tuyển Tập Nối Lửa Cho Đời số 1 ).

Trong suốt năm học, cũng có thể dành ra từ 5 tới 7 phút cuối mỗi buổi dạy để đọc nối tiếp nhau một truyện dài nhiều chương có chủ đề hợp với nội dung toàn chương trình ( ví dụ: Truyện Cuộc Đời Các Thánh, Những Tâm Hồn Cao Thượng...).

· Cầu nguyện cuối giờ thật ngắn gọn nhẹ nhàng, như một lờichào Chúa để chia tay nhau, xin ơn bình an cho giấc ngủ đêm nay hoặc cho một tuần lễ sống sắp tới. Hát chung bài ca ý lực hoặc một bài sinh hoạt ngắn. Buổi học kết thúc, Giáo Lý Viên tiễn các em ra về.

III. SAU BUỔI HỌC:

· Nếu là một Giáo Xứ nằm lọt trong một khu xóm bình dân, hoặc ở vùng ven đô hay ngoại thành, và nhất là ở thôn quê, phạm vi hẹp nhưng mật độ dân cư đông đúc, nhiều khi lại là vùng Công Giáo toàn tòng, ai cũng biết khá rõ về nhau, các Giáo Lý Viên phải giữ gìn lời ăn tiếng nói, cách ứng xử và việc sống đạo sao cho ăn khớp với những gì đã dạy các em ở lớp Giáo Lý. Cần nhớ, cuộc đời mình làmột bài dạy Giáo Lý nối dài.

· Mỗi Giáo Lý Viên đều là một người con cháu hay bạn hữu của cha mẹ các em học sinh, cần phối hợp cộng tác với gia đình trong việc giáo dục Đức Tin và Nhân Bản cho các em, bằng cách thường xuyên lui tới gia đình, nhắc nhở đôn đốc các em sống Lời Chúa đã học ở lớp, thăm hỏi khi các em đau yếu phải nghỉ học, khuyến khích các em khi có dấu hiệu bỏ lớp hoặc bị gia đình hiểu lầm hay ngược đãi, khuyên nhủ các em khi lỡ phạm lỗi lầm trong gia đình hay ở trường Phổ Thông...

· Đặc biệt khi Ban Giáo Lý của Giáo Xứ có tổ chức Trò Chơi Chiến Dịch Giáo Lý hoặc Hội Thi Đố Vui Giáo Lý, Lửa Trại Giáo Lý (xin xem thêm Tuyển Tập Nối Lửa Cho Đời số 1), các Giáo Lý Viên lại càng phải gắn bó phối hợp với gia đình để giúp các em tham gia hết mình.

blank

Bài 7: PHƯƠNG PHÁP TRÌNH BÀY GIÁO LÝ

I. DẪN NHẬP:

Nếu như trong giáo dục, các mặt trí dục, đức dục và thể dục đòi hỏi phải có phương pháp chuyển tải thì ngành Sư Phạm Giáo Lý cũng cần phải có phương pháp. Phương pháp chính là con đường ngắn nhất đưa cả người dạy lẫn người học đạt đến mục tiêu nhắm tới.

Có hai phương pháp chính và một số phương cách hỗ trợ để Giáo Lý Viên có thể vận dụng trong việc trình bày một nội dung Giáo Lý.

Thật ra, mỗi phương pháp đều có mặt mạnh mặt yếu của nó, không hoàn toàn tuyệt đối hay cho mọi trường hợp. Do vậy, tùy từng vấn đề phải chuyển tải, tùy từng hoàn cảnh và môi trường giảng dạy, và tùy từng đối tượng tham dự lớp, mà Giáo Lý Viên uyển chuyển chọn lựa phương pháp này hay phương pháp kia, đôi khi khéo léo phối hợp cả 2 phương pháp trong cùng tiến trình truyền đạt một nội dung Giáo Lý, cốt là đạt được hiệu quả cao nhất.

II. HAI PHƯƠNG PHÁP CHÍNH:

1. Phương pháp diễn giải ( Méthode déductive ):

Người trình bày đi từ một định luật, một định đề lớn và tổng quát, dần dần suy luận, diễn tả, chứng minh và giải thích, mổ xẻ thành những vấn đề nhỏ, những trường hợp riêng biệt để từ đó tổng hợp từng bước để người học có thể nắm được nội dung chính.

Ví dụ: Học về Hội Thánh trong chương trình Vào Đời. Định nghĩa Hội Thánh là gì ? Hội diễn tả một cuộc nhóm họp thành cộng đoàn với một mục đích, một công việc chung. Thánh nghĩa là thuộc về Thiên Chúa. Vậy, Hội Thánh là cộng đoàn những người được Lời Thiên Chúa quy tụ thành Dân Chúa và thành Thân Mình Của Đức Giê-su Ki-tô... ( Kế đó, lại phải trình bày về Lời Chúa, được quy tụ bởi Lời Thiên Chúa là thế nào ? Tại sao lại nói Hội Thánh là Nhiệm Thể, là Thân Mình của Đức Ki-tô ?... )

Phương pháp này buộc người dạy phải vận dụng những suy luận và định nghĩa vững chắc và mạch lạc, có phần nào hơi áp đặt các em phải chấp nhận ngay từ đầu một mệnh đề, một định luật, đòi hỏi phải đầu tư suy nghĩ nhiều.

Hơn nữa, phương pháp giảng dạy này dùng đường lối thuyết trình ( didactique ), nghĩa là độc thoại một chiều từ phía người nói đến người nghe, sử dùng khá nhiều từ ngữ Thần Học cao siêu và Mầu Nhiệm khó hiểu, gây ra bầu khí động não căng thẳng, nặng nề, khô khan, thiếu sự trao đổi và cảm nhận sống động nơi các em.

Nếu đành phải áp dụng phương pháp này trong giảng dạy thì phải huy động thêm nhiều phương cách hỗ trợ để minh họa dẫn dắt các em từ những cái khó hiểu đi dần tới những cái dễ hiểu.

Một hình thức biến thể và đơn giản hóa của phương pháp diễn giải là các sách Giáo Lý Hỏi – Thưa dành cho trẻ em, mà hiện nay một số Giáo Phận, đặc biệt ở miền Bắc vẫn đang còn áp dụng.

2. Phương pháp quy nạp ( Méthode inductive ):

Người dạy khởi đi với các kinh nghiệm của bản thân, hoặc những dẫn chứng thực tế, những câu chuyện trong đời sống thường nhật mà người học có thể từng trải và cảm nhận một cách tự nhiên. Từ đó tiến dần đến mộtkết luận có tính khái quát về nội dung vấn đề muốn truyền đạt.

Ví dụ: Học về việc “Thiên Chúa ban trí khôn loài người” trong chương trình Giáo Lý Khai Tâm. Kể truyện em bé Hi-cô-i-chi trong truyện Tảng Đá Chắn Đường ( xin xem Tuyển Tập Nối Lửa Cho Đời số 2 ). Bắt đầu từ đời sống nhân bản: Em có trí khôn nên em sống khôn ngoan và làm vui lòng mọi người. Dẫn vào nội dung Giáo Lý: Em được Thiên Chúa ban cho trí khôn để có thể nhận biết Chúa, sống yêu thương như ý Chúa muốn. Đẩy tới tâm tình tôn giáo: Mỗi tối, trước khi đi ngủ, em thưa với Chúa: “Xin cho con biết điềugì đẹp lòng Chúa để con làm, và điều gì làm buồn lòng Chúa để con tránh”...

Phương pháp này rất phù hợp với trẻ em, vì các em thường suy nghĩ bằng sự kiện và hình ảnh hơn là bằng ý niệm và lý luận trừu tượng. Hơn nữa, phương pháp này dùng đường lối đối thoại ( méthode dialogique ), nghĩa là có tương quan hai chiều giữa người hướng dẫn và người khámphá. Thầy gợi ý để trò suy nghĩ và từng bước tiến gần đến chân lý. Các câu hỏi vừa tầm, mở đường cho lời đáp, tiệm tiến, xoáy dần vào vấn đề chính.

Chúng ta nhận thấy Đức Giê-su đã dùng phương pháp quy nạp một cách xuất chúng khi luôn mở đầu một bài giảng bằng một dụ ngôn hoặc bằng một hình ảnh, một sự kiện bình thường trong cuộc sống con người.

III. CÁC PHƯƠNG CÁCH HỖ TRỢ:

Để việc áp dụng các phương pháp vừa nói ở trên đạt được hiệu quả cao nhất, xin đề nghị 2 phương cách hỗ trợ.

Cần lưu ý là cả 2 phương cách này đều dựa trên nguyên tắc năng động ( dynamique ), đòi hỏi người Giáo Lý Viên như một Linh Hoạt Viên trong lớp Giáo Lý, biết cách huy động các em trong một bầu khí vui tươi sống động, biết cộng tác với nhau trong việc khám phá từng bước và toàn bộ nội dung Giáo Lý thông qua các Trò Chơi, Bài Hát, Truyện Kể và những sinh hoạt tập thể như: Kịch Chạy, Pa-Nô Chạy, Báo Chạy... ( Xin xem thêm tuyển tập Nối Lửa Cho Đời số 1 )

Như thế, các phương cách hỗ trợ này tạo ra các tương quan đa chiều, không những giữa Giáo Lý Viên và các em, mà còn giữa các em với nhau trong sự hướng dẫn của Giáo Lý Viên. Khái niệm dạy – học trong một bầu khí sống động như vậy, sẽ trở nên tương đối, mà đúng hơn, phải thay bằng khái niệm cùng nhau khám phá.

Không gian lớp học thường được sắp xếp rất linh động uyển chuyể. Bàn ghế có thể bố trí theo hình vuông, hình chữ nhật hoặc chữ U. Cũng có thể bỏ hết bàn ghế để thầy và trò ngồi xuống đất theo hình tròn. Đương nhiên, số lượng các em không nên quá đông ( vượt quá 30 trẻ ) để việc hội thoại, sinh hoạt và hoạt động không bị loãng hoặc hỗn độn, cả lớp đều dễ dàng tham gia mà ít có em nào thụ động khép kín.

Ở đây xin tạm phác họa một xã hội đồ ( sociogramme ), các mũi tên đan xen qua lại sẽ diễn tả những mối tương quan đa chiều trong lớp xoay quanh nội dung Giáo Lý được đem ra hội thoại, giữa Giáo Lý Viên ( ô tròn tô đậm ) và các em ( các ô để trắng ):

1. Phương cách trực quan ( intuitive ):

Trực quan nghĩa là các em có thể trực tiếp vận dụng một hoặc nhiều giác quan ( mắt nhìn, tai nghe, tay chạm, mũi ngửi, lưỡi nếm ), để từng chút một, thông qua các sự việc, sự vật và khái niệm trung gian mà đến gần hơn với nội dung Giáo Lý.

Phương cách này đặc biệt thu hút các em học sinh Giáo Lý, nhưng cũng dễ gây ấn tượng nếu khéo áp dụng cho cả các dự tòng người lớn.

Ở đây, chúng tôi xin đơn cử hai mặt trực quan sinh động dễ được vận dụng nhiều nhất:

· Mắt nhìn ( thị giác ), Giáo Lý Viên có thể vận dụng các tranhảnh, pa-nô cắt dán minh họa một phần của nội dung Giáo Lý, một tấm bản đồ Đất Thánh, một bản phân nhánh hình thành các Giáo Phận ở Việt Nam, một bản gia phả Chúa Giê-su, một bình hoa thật đẹp, sách Kinh Thánh... hoặc một mẫu vật thật như: hòn đá núi, ngọn đèn có giá, con chim sẻ trong lồng, đồng bạc cổ, chùm nho, bó lúa, đóa hoa dại, nhánh cỏ lùng... gợi liên tưởng đến các câu Lời Chúa trong Tân Ước... Cũng có thể cho các em chơi trò chơi lắp ghép tranh hình ô vuông theo một tranh Kinh Thánh mẫu, làm Báo Chạy, Pa-nô Chạy...

· Tai nghe ( thính giác ), Giáo Lý Viên có thể mở cho lớp nghemột bài Thánh Ca, một câu truyện kể với nhạc nền được thâu sẵn trong băng cassette có nội dung dẫn vào hoặc củng cố bài Giáo Lý. Ngoài ra, phải kể cả các loại hình minh họa Sư Phạm Giáo Lý như kể truyện, đọc truyện, tập hát cũng giúp vào việc nghe hết sức hiệu quả. Cũng có thể cho lớp chơi các trò chơi Kim về thính giác để nhận định những tiếng động khác nhau của các mẫu vật, những âm giọng riêng của từng người... từ đó dẫn nhập vào bài dạy.

2. Phương cách hoạt động ( active ):

Ở phương cách này, Giáo Lý Viên vận dụng tối đa các phương pháp năng động như Lập Phiếu, Nhóm Ong, Động để tổ chức các dạng sinh hoạt tại lớp như: hoạt cảnh, diễn kịch ngắn, Báo Chạy, Pa-nô Chạy, triển lãm mi-ni...

Giáo Lý Viên các khối cũng có thể phối hợp tổ chức cho nhiều khối học sinh Giáo Lý sinh hoạt các trò chơi trong Hội Trường hoặc tại sân Giáo Xứ, hoặc thỉnh thoảng tổ chức Trò Chơi Lớn, Chiến Dịch Giáo Lý ( x. thêm tuyển tập Nối Lửa Cho Đời số 1 ).

Cuối học kỳ hoặc cuối năm, có thể tổ chức cho các em một chuyến đi hành hương, phục vụ từ thiện, xuất du, những buổi xem phim Kinh Thánh, phim Giáo Dục... Sau mỗi buổi hoặc mỗi chuyến đi như thế, cả lớp sẽ họp mặt với nhau để lượng giá, trao đổi, chia sẻ và được Giáo Lý Viên hỗ trợ, sẽ cùng nhau rút ra một chân lý Tin Mừng cần lãnh hội.

Được như vậy, nội dung Giáo Lý sẽ khắc họa sâu xa trong tâm hồn, và được biến thành “sự sống” cụ thể nơi mỗi em.

Học đi đôi với hành, kiến thức hòa nhập với cảm nhận, các em sẽ thật sự gặp gỡ Đức Ki-tô, đến gần với Thiên Chúa hơn, đồng thời lại nhận ra rất rõ chiều kích tha nhân và sự hiệp thông trong Giáo Hội qua những bạn học cùng lớp cũng như qua tha nhân mà các em tiếp xúc, đặc biệt là “người nghèo”.

IV. KẾT LUẬN:

Xin nhắc lại, mục tiêu ở đây chính là giúp học viên gặp gỡ Đức Ki-tô,hiểu biết, yêu mến và sống theo Lời của Người. Do vậy, các phương pháp nêu trên chỉ mang ý nghĩa chuyển tải và hỗ trợ, đừng quá lệ thuộc.

Cũng xin nhớ là không có phương pháp nào là chuẩn mực và lý tưởng cho mọi Giáo Lý Viên, mọi độ tuổi các em và trong mọi lúc, mọi trường hợp, do vậy, dùng phương pháp nào đi nữa thì cũng không miễn chước cho mỗi Giáo Lý Viên khỏi việc tự mình khao khát tìm hiểu, cầu nguyện và sống Lời Chúa.

Muốn cho học sinh hấp thụ được điều mình dạy một Giáo Lý viên phải biết cách trình bày một bài Giáo Lý thế nào cho sinh động để mọi học sinh đều hứng thú tham gia học hành. Phương pháp chính là con đường ngắn nhất đưa cả người dạy lẫn người học đạt đến mục tiêu nhắm tới. Bài này trình bàyhai phương pháp chính và một số phương cách hỗ trợ để Giáo Lý Viên có thể vận dụng trong việc trình bày một nội dung Giáo Lý

blank

Bài 8: NGHỆ THUẬT ĐẶT CÂU HỎI GIÁO LÝ

Đặt câu hỏi là một nghệ thuật, nhất là các câu hỏi về Giáo Lý. Dạy Giáo Lý không phải là dạy một mớ kiến thức mà là đưa học sinh đến kết hợp cùng Đức Kitô. Vì thế một Giáo Lý viên phải biết đặt những câu hỏi thế nào để giúp các em suy tư, khám phá và cảm nhận Chân Lý của Thiên Chúa dưới dạng hội thoại nhiều chiều qua lại. Các câu hỏi luôn được đặt ra với mục đích khơi gợi, từ từ từng lớp một, sẽ “bóc vỏ” vấn đề cho đến khi đạt được điểm nòng cốt của chân lý chúng ta muốn trình bày.

I. DẪN NHẬP:

Giảng dạy Giáo Lý không phải là áp đặt một chiều những giáo điều cứng nhắc vào đầu người học, nhất là người học ở đây lại là trẻ em. Đây là cả một tiến trình mời gọi cùng suy tư, khám phá và cảm nhận Chân Lý của Thiên Chúa dưới dạng hội thoại nhiều chiều qua lại.

Do vậy, các câu hỏi luôn được đặt ra với mục đích khơi gợi, từ từ từng lớp một, sẽ “bóc vỏ” vấn đề cho đến khi đạt được cốt lõi. Đây là cả một nghệ thuật tinh tế mà các Giáo Lý Viên cần được chuẩn bị và đào tạo kỹ lưỡng.

II. PHÂN LOẠI CÁC DẠNG CÂU HỎI:

1. Khi soạn bài:

Giáo Lý Viên nên soạn sẵn trong giáo án các câu hỏi để giúp triển khai từng bước nội dung Giáo Lý. Câu hỏi không nên bao hàm vấn đề quá lớn, quá rộng, nhưng đi theo hướng quy nạp, dẫn dắt từ cái dễ hiểu, gần gũi, từ các vòng ngoài mà xoáy dần vào cốt lõi vấn đề.

Mỗi câu hỏi đều đã được dự đoán câu trả lời, hoặc tiên liệu các hướng trả lời theo tầm hiểu biết và suy nghĩ của các em. Ở giữa mạch các câu hỏi, nên có thêm một ít thông tin mới, những minh họa sống động để “gút” từng chặng vấn đề, rồi lại nêu một câu hỏi tiếp theo, mở sang một chặng khác.

Ví dụ: “Trong thực tế, theo các em, người ta cần gì để sống ? ( Cần thứcăn và nước uống ) Đúng rồi, theo các thí nghiệm khoa học, người bình thường có thể nhịn ăn tới 30 ngày, nhưng nhịn uống thì tối đa chỉ được 7 ngày... Vậy, nước quan trọng lắm. Thế, theo các em, ở Việt Nam chúng ta, nước có dễ kiếm không ?”... Cứ thế dẫn vào chất liệu nước được dùng trong Bí Tích Thánh Tẩy.

2. Khi kiểm tra miệng:

Giáo Lý Viên cần chuẩn bị các câu hỏi để kiểm tra miệng bài Giáo Lý đã học. Mục đích việc kiểm tra không phải để “truy bài” và cho điểm như ở trường Phổ Thông, nhưng là để giúp các em củng cố những gì đã học trong các buổi trước, từ đó dẫn nhập, móc nối sang nội dung Giáo Lý bài sắp học.

Câu hỏi loại này càng giúp các em hiểu bài thêm ( question de compréhension ), nó không cần được các em trả lời thuộc lòng làu làu y như nhau, nhưng lại vận dụng đến trí hiểu và cảm nhận riêng của mỗi em.

Ví dụ: Các em có nhớ Chúa Giê-su đã nói như thế nào về Ngôi Nhàcủa Người không ?...Thế còn Nhà Cha của Người ?...Thế nào là nhà cầu nguyện ?... Trong Kinh Thánh, em có nhớ Chúa Giê-su đã làm gì để chấn chỉnh Đền Thờ Giê-ru-sa-lem ?... Hiện nay, em nào có thể cho biết địa chỉ hộ khẩu thường trú hiện nay của Chúa Giê-su ?

3. Khi giảng bài:

Nếu đã hiểu giảng dạy là một cuộc đối thoại hai chiều hoặc hội thoại nhiều chiều giữa Giáo Lý Viên và các em, thì việc đặt các câu hỏi là cả một nghệ thuật.

Dựa vào các câu hỏi đã soạn sẵn trong giáo án, Giáo Lý Viên gợi ra cho các em những hướng suy nghĩ, tưởng tượng, hồi nhớ, lý luận và cảm nhận. Từ đó các em có thể trả lời từng chặng một, để dần dần khai phá nội dung Giáo Lý với sự giúp đỡ của Giáo Lý Viên. Các câu hỏi cần gần gũi với thực tế đời sống, với ngôn ngữ thông dụng, có thể mang một chút dí dỏm nhưng không nên tầm thường và thô tục.

Cũng đừng nên quá cứng ngắc dựa thật sát vào những gì đã soạn, mà nên uyển chuyển tận dụng ngay những tin tức trong xã hội, những tình huống vừa xảy ra để đặt câu hỏi. Ví dụ: “Ban nãy, chắc những em đến lớp sớm khoảng 15phút, đã chứng kiến một tai nạn ngay trước cổng Nhà Thờ, vậy...” Hoặc “Hôm qua, chúng ta vừa tham dự Lễ Tro, vậy, em nào có thể cho biết...”

4. Khi tổ chức thi:

Giáo Lý Viên cũng cần biết cách soạn các câu hỏi cho các bài thi Giáo Lý. Cuối một loạt bài, hoặc cuối học kỳ, cuối năm học, hay nhất là cho các em một câu hỏi gợi ý viết một bài cảm nhận, trong đó có thể đúc kết được nhiều vấn đề hiểu biết đã được hệ thống hóa, có liên hệ đến Giáo Hội hiện tại, đến đời sống bản thân các em. Do vậy, bài làm dứt khoát không nên chấm điểm và xếp hạng, chỉ nên có những lời phê tích cực, khuyến khích.

Ví dụ: “Các em hãy kể lại một câu truyện về Lòng Mến mà em đãnghe kể ở lớp, hoặc chính em đã gặp trong đời sống. Em cho biết tại sao em lại thích truyện ấy ? Nó gợi đến bài học Giáo Lý nào em đã được học ? Cuối cùng em hãy ghi lại một câu Kinh Thánh có thể soi dẫn những ý tưởng và cảm nhận ấy.

5. Khi tổ chức Hội Thi Giáo Lý:

Đã là Hội Thi, tức là có sự nỗ lực thi đua giữa các Đội, cần được một Ban Tổ Chức nghiên cứu soạn thảo kỹ lưỡng để câu hỏi người hướng dẫn chương trình ( speaker ) đưa ra phải thật chính xác, không được dị nghĩa hàm hồ, không cố tình gài bẫy các em, không gây tranh cãi giữa các em với Ban Giám Khảo về nội dung và về số điểm phân định...

Cũng cần lưu ý rằng: các câu hỏi không nên nhắm đến những chi tiết vụn vặt, vô bổ, thậm chí là... lẩm cẩm ! Ví dụ: Đức Giê-su bị treo trên Thập Giá bao nhiêu giờ đồng hồ ? Mặt khác, lại có thể sử dụng những câu hỏi mẹo. Ví dụ: Có mấy Tin Mừng ? ( Chỉ có duy nhất Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô được ghi lại trong 4 sách Tin Mừng ).

Khi nêu câu hỏi, cần chú ý là giọng phải to, dõng dạc, rõ ràng, không cần tạo sự hấp dẫn bằng cách biểu diễn tốc độ nói nhanh ( như thường thấy ở các speakers chương trình Đường Lên Đỉnh Olympia trên đài truyền hình ). Nếu cần, phải chuẩn bị các pa-nô, băng giấy, hình ảnh được gắn trên bảng để minh họa cho câu hỏi.

III. PHÂN LOẠI CÁC CÂU TRẢ LỜI:

Trong các tình huống đặt câu hỏi nêu trên, luôn luôn các Giáo Lý Viên phải trực diện với các câu trả lời của các em để có đáp án và thái độ thích hợp. Có 5 loại câu trả lời như sau:

1. Câu trả lời hoàn toàn đúng:

Giáo Lý Viên xác nhận ngay là hoàn toàn đúng, khích lệ các em ngay bằng một lời khen đúng mức. Sau đó tiếp tục đào sâu thêm vấn đề bằng một câu hỏi khác khó hơn một chút, đến gần với chủ đề hơn một chút, lấy nền tảng từ câu trả lời vừa có được.

Ví dụ: “Em vừa rồi đã trả lời rất đúng. Quan là nhìn xem; Phòng làgìn giữ, lo liệu. Vậy chúng ta nói Thiên Chúa Quan Phòng có nghĩa là thế nào ? Em nào có thể cho một ví dụ ?... Điều này cho chúng ta biết gì về tấm lòng của Thiên Chúa đối với loài người ?...”

2. Câu trả lời có phần đúng, có phần sai:

Giáo Lý Viên xác nhận ngay phần đúng, chỉ rõ cho các em phần sai. Nên dùng cách nói tích cực “Các em đã trả lời chưa đúng lắm ở chỗ này...Các em thử nghĩ coi, nếu như các em vừa nói, không thể nào lại...”

Cần mạnh dạn nhận khuyết điểm về phía mình trong câu đã hỏi, nếu vì thế mà các em đã trả lời có phần chưa chính xác. Sau đó đặt lại câu hỏi một lần nữa cho rõ nghĩa. Điều này giải tỏa ức chế tâm lý nơi các em, lại làm các em nhớ bài hơn.

3. Câu trả lời hoàn toàn sai:

Giáo Lý Viên nhạy bén nhận định ngay trong đầu những lý do khiến các em trả lời sai. Kiên nhẫn đặt câu hỏi khác, theo một hướng khác, có thể gợi một vài ý phụ để các em có cơ sở tìm ra câu trả lời đúng.

Tuyệt đối không nên dùng cách nói tiêu cực, chế nhạo, quát nạt: “Học đến lớp này mà em còn trả lời tệ hại như thế sao ?”

4. Câu trả lời lạc hướng:

Giáo Lý Viên bình tĩnh lắng nghe câu trả lời trọn vẹn của các em, sau đó vui vẻ chỉ ra cho các em thấy đã đi quá xa vấn đề, lạc hướng, đốt giai đoạn. Lập lại câu hỏi, gợi một vài ý để giúp các em xác định vấn đề cần suy nghĩ để trả lời cho chính xác.

Có thể dí dỏm khôi hài một chút để bầu khí lớp được thư giãn thoải mái, các em sẽ dễ dàng tái vận dụng óc suy nghĩ và lý luận.

5. Câu trả lời vượt ngoài dự đoán:

Luôn luôn có một vài em thông minh trổi vượt trong lớp nên có thể câu trả lời sẽ rất bất ngờ, nằm ngoài dự đoán của Giáo Lý Viên, đẩy tới một khái niệm độc đáo, giúp cho tiến trình khai phá nội dung Giáo Lý đạt một bước thật xa và thật sâu. Những câu trả lời như thế thường lại đặt ra một câu hỏi ngược lại cho Giáo Lý Viên và cho cả lớp. Vì thế, Giáo Lý Viên cần bình tĩnh, vui hơn là lo.

Ví dụ: Ở một lớp Giáo Lý Khai Tâm miền nông thôn Nam bộ, sau khi Giáo Lý Viên kể truyện ở vườn Địa Đàng, đã đặt câu hỏi: “Sau khi ông A-đam và bà E-và phạm tội hái ăn trái cấm, khi Chúa gọi, họ đã làm gì ?” Một em bé 8 tuổi đã hồn nhiên trả lời: “Dạ thưa cô, họ sợ Chúa quá trời nêntrốn mất tiêu, rồi chối tội tùm lum. Hổng chừng, nếu bữa đó, Chúa thủng thẳng biểu họ xin lỗi Chúa, thì họ cũng chịu xin lỗi rồi, có dè đâu mà bị phạt cho khổ sở dữ vậy cô ?”

IV. CÁC NGUYÊN TẮC CHUNG:

Trong các trường hợp đặt câu hỏi, nhất là khi giảng bài, Giáo Lý Viên nên nhớ 5 nguyên tắc sau đây:

1. Tránh không đặt quá nhiều câu hỏi, nhưng nên hỏi dưới nhiềudạng khác nhau để có sự phong phú.

2. Tránh hỏi những câu chỉ cần trả lời có hoặc không, nhưng nêndùng câu hỏi trực tiếp gợi đến tâm tư các em.

3. Tránh hối thúc, làm gián đoạn câu trả lời, nhưng nên nghe chotrọn vẹn câu trả lời.

4. Tránh hỏi những câu chỉ cần trả lời vuốt đuôi, nhưng nên đặt câu hỏichung cho cả lớp, rồi mời gọi một em nào đó giơ tay tự nguyện trả lời. Khi cần thiết lắm mới chỉ định đích danh.

5. Trong hội thoại, có thể sẽ có nhiều câu trả lời khác biệt nhau, thậm chí đối nghịch nhau. Cần nắm bắt sự nhạy cảm hoặc dị ứng của một số em, để tìm được ý chung của cả nhóm trước vấn đề vừa nêu, rồi từ đó, cũng lại qua hội thoại mà dần dần phân tích cho các em khám phá ra chân lý.

Xin đơn cử một số câu hỏi có thể đặt cho các em khi trình bày nội dung “Chúa Giê-su hiến dâng mạng sống mình cho chúng ta”:

· Thường thì người ta có sợ chết không ?

· Nhưng cũng có những trường hợp người ta dám liều chết chứ, phải không các em ?

· Em nào biết một trường hợp có người đã dám liều chết không ? Có ai biết câu chuyện Lê Lai liều mình cứu vua Lê Lợi không ? Hay có em nào đã được đọc truyện “Anh phải sống” của nhà văn Khái Hưng chưa ?

· Vậy, khi nào thì người ta dám liều chết ?

· Chúa Giê-su đã nói: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu củangười dám hiến dâng mạng sống cho bạn hữu”. Vậy Chúa Giê-su đã làm gì trên Thập Giá ?

· Tại sao Chúa Giê-su lại chịu chết để hiến thân cho chúng ta ?

· Nếu chúng ta được Chúa Giê-su kể như là bạn hữu của Người, thì Người hiến thân để làm gì cho chúng ta ?

V. KẾT LUẬN:

Đặt câu hỏi là một phương cách để giảng dạy. Biết cách đặt câu hỏilà dễ đạt hiệu quả giảng dạy. Do vậy, đây là cả một nghệ thuật, không thể trong một vài buổi dạy, thậm chí trong một niên khóa Giáo Lý mà chúng ta đã có thể tích lũy được đầy đủ kinh nghiệm để luôn luôn thành công. Cần khiêm tốn nhận ra những điểm còn yếu trong việc giảng dạy của mình, cầu nguyện xin Chúa Thánh Thần soi sáng trước khi đứng lớp, có dịp thuận tiện là xin dự lớp của các Giáo Lý Viên già dặn lâu năm để học hỏi kinh nghiệm.

blank

Bài 9: BẦU KHÍ MỘT LỚP GIÁO LÝ

Dạy Giáo Lý là hướng dẫn các em đi từ đời thường, chuyển dần sang đời sống hiệp thông với Chúa, rồi từ đó lại quay về với đời thường sau khi các em đã gặp Chúa. Cho nên, bầu khí lớp Giáo Lý có nét giống như Nhà Thờ ( nếu là trong phòng ), có khung cảnh giống như nơi ông Mô-sê, ông Gio-an Tẩy Giả, và chính Chúa Giê-su đã gặp gỡ Thiên Chúa trong sa mạc ( nếu ở ngoài trời ), nhờ đó mới có thể nâng tâm hồn người học lên tới sự thánh thiêng.

I. DẪN NHẬP:

Để giúp các trẻ em có hứng thú khi đến với lớp, và hơn nữa có thể lãnh hội sâu xa vững chắc nội dung bài Giáo Lý, từ đó trẻ lại còn có thể diễn tả được niềm tin của mình ít là ngay tại lớp, các Giáo Lý Viên cần phải biết tạo bầu khí cho lớp Giáo Lý, phải biết cách trình bày nội dung Giáo Lý, và riêng với trẻ em, còn phải biết giúp sinh hoạt một cách sống động vui tươi. Muốn vậy, các Giáo Lý Viên nên chú ý đến các yếu tố vật chất và các yếu tố tinh thần được trân trọng đề nghị sau đây:

II. CÁC YẾU TỐ VẬT CHẤT:

1. Khung cảnh:

Trong thực tế tại các vùng ngoại thành và nông thôn nghèo, khó mà có Trong thực tế tại các vùng ngoại thành và nông thôn nghèo, khó mà có được những phòng học Giáo Lý lý tưởng như tại một số không lớn lắm các Giáo Xứ tại các đô thị và thành phố. Do vậy ở đây xin mở rộng khái niệm phòng học Giáo Lý thành khung cảnh Giáo Lý.

Dù thế, ở bất cứ khung cảnh nào, khi mở một lớp Giáo Lý, chúng ta cũng cần ý thức rằng lớp Giáo Lý chính là nơi Thiên Chúa gặp gỡ con người, nên phải có tính cách thánh thiêng. Đây cũng không phải là một lớp học Phổ Thông, vì Giáo Lý không chỉ là học, cũng không phải là Nhà Thờ, vì Huấn Giáo khác với Phụng Vụ. Nơi học Giáo Lý có thể được coi như một khung cảnh nằm giữa thế giới bên ngoài và cung thánh Nhà Thờ.

2. Bầu khí:

Dạy Giáo Lý là hướng dẫn các em đi từ đời thường, chuyển dần sang đời sống hiệp thông với Chúa, rồi từ đó lại quay về với đời thường. Quay về nhưng đã khác trước, bởi các em đã gặp Chúa, đã nhận được từ Chúa một vốn liếng Tin Mừng để sống khác hơn, tốt hơn, là con cái của Chúa sâu đậm mật thiết hơn trước.

Cho nên, bầu khí lớp Giáo Lý có nét giống như Nhà Thờ ( nếu là trong phòng ), có khung cảnh giống như nơi ông Mô-sê, ông Gio-an Tẩy Giả, và chính Chúa Giê-su đã gặp gỡ Thiên Chúa trong sa mạc ( nếu ở ngoài trời ), nhờ đó mới có thể nâng tâm hồn người học lên tới sự thánh thiêng.

III. CÁC YẾU TỐ TINH THẦN:

1. Tâm lý:

Trong mối tương quan xưng hô và ứng xử giữa Giáo Lý Viên và các em cũng đặt ra những vấn đề tâm lý đặc biệt, khác hẳn ở các lớp học Phổ Thông. Chúng ta sẽ không gọi các em là học trò. Bởi thật ra bản thân Giáo Lý Viên không phải là người dạy chính thức, mà là chính Đức Giê-su và Thần Khí của Người đang tác động và hướng dẫn.

Do vậy, Giáo Lý Viên nên nói với trẻ em, tùy độ tuổi hai bên mà gọi là "các em", "chúng con", "các bạn" cho thân tình gần gũi.

Trong tâm lý trẻ em, có một quy luật là luật Chuyển Hóa, nghĩa là trong quan hệ của các em với Chúa, các em sẽ dùng chính những quan hệ đã có với Giáo Lý Viên. Các em nói với Giáo Lý Viên thế nào thì cũng thưa với Chúa như vậy. Do đó, thái độ của các em với chúng ta sẽ ảnh hưởng nhiều trên thái độ với Chúa: cách yêu mến, tin tưởng, thân mật, vâng lời...

Chúng ta sẽ là một phần "hình ảnh" của Chúa cho các em. Các em sẽ thấy Chúa, gặp Chúa nơi chúng ta.

Và như thế, chúng ta phải hết sức chú ý tu dưỡng và tự huấn luyện tư cách của mình. Chúng ta sẽ tôn trọng các em, trân trọng những lời các em nói, không bao giờ quát tháo, nhiếc móc, trừng phạt, xúc phạm đến phẩm giá các em.

Mở rộng hơn, vì đã không phải là một lớp học Phổ Thông, nên cũng không cần thiết cho điểm, xếp hạng các em trong lớp. Trong giờ Giáo Lý, thật sự là Giáo Lý Viên sẽ cùng các em lắng nghe Lời Đức Giê-su là Người Anh Cả (Trưởng Tử ), lắng nghe tiếng Thiên Chúa là Cha, rồi tất cả cùng thưa với Người. Các em sẽ nhận ra mình được Chúa yêu và được Giáo Lý Viên là người thay mặt Chúa quý mến mình.

Một quy luật tâm lý khác là luật Chứng Tá. Huấn Giáo dựa trên chứng tá. Giáo Lý Viên chia sẻ chính kinh nghiệm của mình cho lớp. Chúng ta không cần nói nhiều về Đạo, nhưng cần sống Đạo nhiều hơn và chân thật hơn trước mặt trẻ. Khi chứng tá của Giáo Lý Viên có phẩm chất cao, thì các em sẽ được giáo dục sâu xa hơn.

Nếu thế, có người sẽ thắc mắc: "Thế, chẳng lẽ làm Giáo Lý Viên, tôiphải là Thánh hay sao ?"

Xin thưa, đúng là như vậy, trong thông điệp Sứ Vụ Đấng Cứu Chuộc (Redemptoris Missio ), ở chương 8, Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô đệ nhị đã vạch ra Linh Đạo của người truyền giáo ( mà Giáo Lý Viên đúng là người truyền giáo ) như sau:

· Để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn,

· Theo gương Đức Giê-su Ki-tô, Đấng được sai đến,

· Yêu mến Giáo Hội và các linh hồn như Chúa Giê-su yêu mến,

· Và, phải là THÁNH !

Giáo Lý lấy từ Nguồn Sống là Thiên Chúa, Giáo Lý lấy từ Nguồn Sống là Thiên Chúa, được truyền đạt đến các em qua chính cách dạy và cách sống của Giáo Lý Viên.

Như vậy, các em vừa được biết Giáo Lý, lại vừa thấy cung cách sống nội dung Giáo Lý ấy một cách sinh động cụ thể nơi Giáo Lý Viên, chắc chắn các em sẽ được khích lệ đi theo hướng sống Tin Mừng ấy.

2. Thinh lặng:

Trẻ không thể gặp Thiên Chúa trong bầu khí ồn ào hỗn độn. Nhiều người cứ lầm tưởng lớp học Giáo Lý cho trẻ em lúc nào cũng phải giống một câu lạc bộ với đủ thứ sinh hoạt tưng bừng náo nhiệt. Ngược lại cũng đừng áp đặt một kiểu thinh lặng bề ngoài, vì một thinh lặng thụ động thì không dẫn đến Thiên Chúa.

Chính trong bầu khí thinh lặng nội tâm, những lời trò chuyện hội thoại giữa Giáo Lý Viên và các em, giữa các em với nhau lại là điều kiện giúp các em đến với Thiên Chúa, Đấng các em khao khát kiếm tìm xuyên qua nội dung bài Giáo Lý.

Vì thế, Giáo Lý Viên cần khuyến khích trẻ khám phá và yêu quý sự thinh lặng. Thinh lặng là một đức tính tôn giáo. Biết thinh lặng là biết "ở trước mặt Chúa", là biết sẵn sàng lắng nghe tiếng Chúa nói.

3. Vui tươi:

Trong giờ Giáo Lý, Giáo Lý Viên phải tạo được bầu khí vui tươi cởi mở, không biến các em thành những nhà khổ tu, hay những binh sĩ giữ kỷ luật khô khăn một cách răm rắp. Các em có thể hỏi nhau, giải thích cho nhau, khi cần có thể đi lại, hỏi mượn nhau dụng cụ học tập. Nhưng mọi sự phải được diễn ra trong cái trật tự của thinh lặng, dễ thương và hồn nhiên. Ở đâu có Chúa, ở đấy có tình yêu và niềm vui.

Giáo Lý Viên phải luôn giúp các em ý thức mình đang sống dưới cái nhìn trìu mến của Chúa, đến nỗi trước giờ học thì các em thấy khao khát, cuối giờ học thì các em vẫn còn muốn tiếp tục.

Trong lớp Giáo Lý, không thể có chuyện học để được nhiều điểm, để được đứng nhất khi so kè kèn cựa với các bạn, hoặc thậm chí cũng không chỉ nhắm đến việc thu thập kiến thức càng nhiều càng tốt. Ở đây, các em cùng nhau gặp gỡ Chúa và đi theo Người.

Ở một chiều kích nhân cách Ky-tô giáo, các em còn được luyện tập để tôn trọng yêu quý lẫn nhau. Nếu có hai em lỡ đánh nhau, thay vì chỉ chú ý phân giải ai đúng ai sai, bạn hãy hỏi các em: "Những người con của Chúa có đánh nhau không ? Tay các con, Chúa ban cho là để làm việc tốt, làm những cử chỉ đẹp cho nhau cơ mà !"...

4. Tự do:

Trẻ cần cảm thấy tự do đến với lớp Giáo Lý, tự do ở lại và tự do lắng nghe Giáo Lý Viên trình bày nội dung Giáo Lý. Không nên biến việc học Giáo Lý thành một công việc khổ sai, bị cha mẹ bó buộc, bị cha sở và các ông bà quản giáo khống chế. Đến với Chúa rõ ràng là một lời mời gọi, khuyến khích tự nguyện. Hãy thành thật nói với trẻ: "Các con có muốn gặp gỡ Chúa, thì các con hãy đến !".

Đức Tin là một hành vi tự do. Vì thế, trong giờ học, hãy để trẻ được tự do nói với Chúa, nói về Chúa trong sự hướng dẫn ân cần và nhẫn nại của Giáo Lý Viên. Không thể đào tạo một tín hữu chân chính bằng cách dọa nạt, trừng phạt hay ra lệnh.

Dứt khoát không nên lấy cớ tránh tác hại lây lan, ảnh hưởng đến việc học của các em bình thường để chủ trương tách hẳn các em cá biệt ra, lập một lớp riêng để có chương trình uốn nắn riêng theo kiểu quen làm ở các trường Phổ Thông. Như vậy là đã phản giáo dục hoàn toàn khi phân biệt đối xử, vô tình "dán nhãn" xếp loại các em ngỗ nghịch, cứng đầu, khó dạy.

Sư Phạm Giáo Lý thì khác hẳn, Đức Giê-su bảo: "Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi !" ( Mt 9, 13 b ). Hơn nữa ở đây, các em chưa phải là hạng người... tội lỗi. Cho dẫu các em đã phạm pháp trầm trọng, thì như Thánh Đông Bốt-xcô dặn dò các nhà giáo dục: vẫn còn ít nhất là 5 % lương tri hướng thiện.

5. Trung thực:

Có thể nói ở nhà trường Phổ Thông, trẻ quen nói dối ! Trẻ nhận ra cứ nói đúng ý thầy cô là được điểm cao, là được thầy cô ưu đãi. Làm bài thi, thì phải khéo léo khôn ngoan để "quay cóp" hoặc "trúng tủ" mới mong ngoi lên để trúng tuyển, hạ "đo ván" các bạn học. Điểm số, bằng khen và các danh hiệu phấn đấu đạt được thường là dựa trên sự bon chen thủ lợi, thiếu vắng hẳn sựthật thà trong sáng.

Trong Giáo Lý, dứt khoát chúng ta không được để óc thực dụng này tiêm nhiễm. Giữa cuộc hội thoại, trẻ được thẳng thắn nêu thắc mắc, nói lên suy nghĩ và cảm nhận của mình.

Khi làm bài, trẻ được mời gọi viết lại điều đã hiểu và đã yêu mến một cách chân thành, chứ không phải chép nguyên xi toát yếu để làm hài lòng Giáo Lý Viên.

Khi trẻ trả lời, bạn đừng khen hay chê. Nếu được khen "đúng", lần sau trẻ lại tìm cách trả lời để được khen, dù đó không phải là điều em đã nghĩ và đã hiểu. Còn nếu chê "sai", trẻ sẽ không bao giờ nói nữa.

Câu vè: "Thấy tốt thì làm, mà làm thì làm cho tốt, đừng cốt được khen, đừng quen vì khen mới làm" thật đáng cho các Giáo Lý Viên chú tâm mời gọi các em sống như một châm ngôn.

IV. KẾT LUẬN:

Trong mọi trường hợp và trong mọi mặt, các bạn Giáo Lý Viên hãy luôn xác tín, hãy tin vào trẻ, hãy tin vào Chúa Thánh Thần, và hãy tin vào chính bạn.

Để đúc kết, xin mượn lời Thánh Phao-lô: "Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển chọn, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau. Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng mến, đó là mối dây liên kết tuyệt hảo !" ( Cl 3, 13 – 14 )

blank

Bài 10: CẦU NGUYỆN TRONG GIÁO LÝ

Chính Giáo Lý Viên là người trước hết khao khát gặp gỡ Chúa, xin Chúa soi dẫn để mình biết trình bày sứ điệp của Chúa đến cho các em. Kế đó, Giáo Lý Viên truyền lan nỗi khao khát được gặp Chúa sang cho tất cả các em, để về phía các em, các em cũng khao khát xin Chúa mở trí mở lòng để đón nhận nội dung Giáo Lý mà các em sắp học, đang học và vừa học xong. Cho nên trong Giáo Lý, Cầu Nguyện là điều quan trọng và cần thiết nhất. Nhờ cầu nguyện mà Cháu Thánh Thần tác động tâm hồn các học sinh để các em dễ dàng đón nhận giáo huấn của Chúa. Nhờ cầu nguyện mà Giáo Lý viên ý thức được rằng mình chỉ là công cụ trong tay Chúa và phải kết hợp với Chúa trong mọi việc mình làm.

I. MỤC ĐÍCH:

Như đã trình bày từ các bài trước, mục đích cuối cùng của việc dạy Giáo Lý là giúp các em gặp gỡ và kết hợp với Chúa. Do đó, cầu nguyện có một vai trò hết sức quan trọng trong một buổi Giáo Lý. Có thể nói, cả buổiGiáo Lý phải là một cuộc gặp gỡ Chúa. Chính những phần cầu nguyện ở đầu, ở giữa và ở cuối buổi Giáo Lý giúp các em đi vào cuộc hạnh ngộ tuyệt vời này. Tuy nhiên, mỗi phần cầu nguyện đều có ý hướng và nội dung khác nhau, thích ứng với trình tự của một buổi học Giáo Lý.

II. NỘI DUNG:

Trước khi đi vào ý hướng và nội dung từng phần, thiết tưởng cũng nên nhắc lại những điều kiện thiết yếu cho việc cầu nguyện. Đó là:

1. Khát vọng gặp Chúa:

Chính Giáo Lý Viên là người trước hết khao khát gặp gỡ Chúa, xin Chúa soi dẫn để mình biết trình bày sứ điệp của Chúa đến cho các em. Kế đó, Giáo Lý Viên truyền lan nỗi khao khát được gặp Chúa sang cho tất cả các em, để về phía các em, các em cũng khao khát xin Chúa mở trí mở lòng để đón nhận nội dung Giáo Lý mà các em sắp học, đang học và vừa học xong.

Điều này thể hiện cả ở việc làm dấu Thánh Giá, ở tư thế lúc cầu nguyện. Hãy thường xuyên nhắc cho các em hiểu ý nghĩa của việc làm dấu, của cử chỉ cúi mình bái lạy. Không nên làm dấu quều quào như... đuổi ruồi, chưa làm dấu kết thúc đã vội làm ngay, nói ngay sang chuyện khác. Giáo Lý Viên phải giúp các em cầu nguyện với cả con người, nghĩa là với tất cả trí nhớ, trí tưởng tượng, tâm hồn và thể xác. Nên dùng những lời và những cử chỉ đơn sơ mộc mạc chân thành.

2. Thời gian gặp Chúa:

Những giây phút cầu nguyện ngay trong buổi học Giáo Lý phải là khoảng thời gian dành trọn cho Chúa, Những giây phút cầu nguyện ngay trong buổi học Giáo Lý phải là khoảng thời gian dành trọn cho Chúa, được Giáo Lý Viên chuẩn bị chu đáo, diễn ra một cách trang trọng, chứ không làm cho có, làm theo thói quen. Cầu nguyện đừng quá ngắn ngủn cộc lốc, gây cảm tưởng là sợ phí giờ. Cũng đừng quá lê thê, tạo ra tâm lý ngán ngẩm hoặc ngột ngạt. Điều này sẽ âm thầm huấn luyện rất hiệu quả cho các em biết cần phải thường xuyên cầu nguyện với Chúa không chỉ trong lớp mà vào mọi nơi mọi lúc trong ngày sống của các em, đặc biệt là trước khi đi ngủ và vừa khi thức dậy, khi vừa lãnh nhận một Bí Tích và trước khi ăn cơm.

Cũng cần nhớ rằng: cầu nguyện không phải là đọc kinh liên tục kéo dài, hết kinh này đến kinh khác một cách máy móc. Mỗi kinh nếu được sử dụng đều là những lời cầu nguyện đã được Giáo Hội cô đọng sâu xa ( Kinh Lạy Cha, Kinh Tin Kính, Kinh Kính Mừng, Kinh Tin-Cậy-Mến, Kinh cầu Chúa Thánh Thần, Kinh Cúi Xin Chúa sáng soi... )

3. Lắng nghe tiếng Chúa:

Tâm lý chung của đám đông là sợ sự thinh lặng. Hễ cứ thấy im lặng hơi lâu một chút là sốt ruột, thấy cần phải hát, phải làm một cái gì đó ngay.

Đã muốn lắng nghe được tiếng Chúa thì thầm trong tâm hồn hay được cất lên khi công bố Lời Chúa, rõ ràng là cần phải biết thinh lặng. Trong giây phút cầu nguyện, Giáo Lý Viên phải dành những khoảnh khắc thinh lặng hoàn toàn, không nên nói liên tục đến mức lải nhải dông dài, cầu xin kể lể đủ thứ chuyện mà không có trọng tâm ý chính.

Cần nhớ là một lời cầu nguyện thường có ý cảm tạ, ngợi khen, xin lỗi hoặc xin ơn tùy nội dung bài Giáo Lý gợi ra.

Cũng nên tập cho các em khi dâng lời nguyện tự phát thì cần nói chậm, to, dõng dạc, rõ ý để cộng đoàn mới có thể hiệp thông với ý nguyện được. Khi kết thúc một lời nguyện, nên thinh lặng một chút rồi thêm câu: "Xin Chúa nhậm lời chúng con..."

Sau những lời nguyện tự phát của các em, Giáo Lý Viên nên đợi tất cả lắng lại một lúc rồi mới dâng lời tổng nguyện kết thúc. Sau đó có thể hát một bài thánh ca phù hợp với nội dung vừa cầu nguyện.

III. CÁC PHẦN CẦU NGUYỆN:

1. Cầu nguyện đầu giờ:

Phút cầu nguyện đầu giờ có mục đích giúp các em đi vào cuộc gặp gỡ với Chúa trong buổi Giáo Lý, bằng cách đặt các em trước sự hiện diện của Chúa. "Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ" ( Mt 18, 20 ).

Hãy giúp các em nhớ lại Lời Chúa mời gọi: "Cứ để trẻ em đến với Thầy..." ( Mc 10, 14 ). Hãy để các em nhận ra một buổi học Giáo Lý chính là thời gian đến với Chúa để học cùng Chúa: "Hãy học với Thầy, vì Thầy có lòng hiền hậu và khiêm nhường..." ( Mt 11, 29)

2. Cầu nguyện giữa giờ:

Phút cầu nguyện giữa giờ chính là đỉnh cao của buổi học Giáo Lý, vì sau khi nghe công bố và giải thích Lời Chúa, sau khi đã tiếp nhận lời mời gọi của Chúa với cả tâm tình, các em hẳn có nhiều điều muốn nói với Chúa, muốn đi vào cuộc đối thoại trang nghiêm mà thân tình với Chúa.

Như thế, cuộc gặp gỡ giữa các em với Chúa đã được chuẩn bị qua việc công bố và giải thích Lời Chúa, và sẽ được tiếp nối trong phần sinh hoạt tiếp theo sau đó. Nội dung của phút cầu nguyện này là ý chính và tâm tình của bài Giáo Lý.

3. Cầu nguyện cuối giờ:

Phút cầu nguyện cuối giờ sẽ giúp các em trình bày với Chúa quyết tâm sống những gì đã học. Nếu như phút cầu nguyện đầu giờ giúp các em từ cuộc sống bước vào cuộc gặp gỡ với Chúa, thì phút cầu nguyện cuối giờ hướng các em đến một cuộc gặp gỡ khác với Chúa ngay trong đời thường. Nhờ đó, toàn bộ cuộc sống các em sẽ là lời cầu nguyện liên lỉ.

IV. KẾT LUẬN:

Cầu nguyện trong Giáo Lý giúp các em nội tâm hóa những giáo huấn của Lời Chúa, chuyển sứ điệp thành hành động cụ thể. Như thế, cầu nguyện gắn Giáo Lý với Phụng Vụ và cuộc sống.

Hãy cẩn thận, đừng để rơi vào một cung cách cầu nguyện mà Đức Giê-su đã nhắc nhở: "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: "Lạy Chúa, Lạy Chúa !" là được vào Nước Trời cả đâu ! Nhưng chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên Trời, mới được vào mà thôi..." ( Mt 7, 21 )

blank

Bài 11: PHƯƠNG PHÁP CẦU NGUYỆN 4 BƯỚC DÀNH CHO GIÁO LÝ VIÊN

Có thể nói: mỗi buổi dạy Giáo Lý là một buổi cầu nguyện với Lời Chúa. Để giúp các em học sinh Giáo Lý đón nhận được chân lý Lời Chúa và đáp trả lại bằng lời cầu nguyện hồn nhiên đơn sơ, chính bản thân Giáo Lý Viên cũng phải là những người chuyên chăm cầu nguyện, biết cách hướng dẫn cho các em cầu nguyện và cùng với các em cầu nguyện trong một bầu khí chân thành trang trọng. Chúng tôi xin giới thiệu một phương pháp cầu nguyện hết sức đơn giản nhưng lại rất dễ đạt hiệu quả chiều sâu tâm linh. Đó là Phương Pháp Cầu Nguyện 4 Bước của Dòng Chúa Cứu Thế.

Có thể nói: mỗi buổi dạy Giáo Lý là một buổi cầu nguyện với Lời Chúa. Để giúp các em học sinh Giáo Lý đón nhận được chân lý Lời Chúa và đáp trả lại bằng lời cầu nguyện hồn nhiên đơn sơ, chính bản thân Giáo Lý Viên cũng phải là những người chuyên chăm cầu nguyện, biết cách hướng dẫn cho các em cầu nguyện và cùng với các em cầu nguyện trong một bầu khí chân thành trang trọng.

Nên chăng, ngoài những buổi họp nhau soạn Giáo Án Giáo Lý, những buổi đến lớp dạy Giáo Lý, những buổi sinh hoạt gây tình đoàn kết thân ái và trao đổi kinh nghiệm giữa các Giáo Lý Viên với nhau, Ban Giáo Lý của Giáo Xứ cũng cần phải tổ chức cho các Giáo Lý Viên họp nhau cùng cầu nguyện ít là hàng tuần.

Ở đây, chúng tôi xin giới thiệu một phương pháp cầu nguyện hết sức đơn giản nhưng lại rất dễ đạt hiệu quả chiều sâu tâm linh. Đó là PhươngPháp Cầu Nguyện 4 Bước của Dòng Chúa Cứu Thế, mà chúng tôi đã có dịp thử nghiệm và phổ biến tại Đại Chủng Viện Hà-nội và một số Giáo Xứ ở miền Nam lẫn miền Bắc trong Năm Thánh 2000.

I. DẪN NHẬP:

Cầu nguyện trước tiên là hiện diện trước Chúa và Cầu nguyện trước tiên là hiện diện trước Chúa và để Chúa ở với mình. Cầu nguyện là đối thoại với Chúa bằng môi miệng, trí óc, linh hồn, và bằng cả chân, cả tay, cả thân mình nữa. Đặc trưng của đối thoại là Nói và Nghe. Nếu chỉ nói không, thì mới là thuyết trình hay giảng day, nhưng chúng ta không có gì để dạy Chúa cả. Còn nếu chỉ nghe không, mà không nói lại bằng lời hay hành động, thì thật ra chưa nghe.

Như đôi trai gái lúc đầu mới làm quen, ai cũng muốn nói để chứng tỏ, để cho người kia hiểu về mình – mình là người tốt. Nhưng đến lúc đã thân nhau hơn, người ta bắt đầu có nhu cầu nghe nhau, để hiểu người bạn của mình, để thấu cảm với bạn mình. Còn khi đã yêu nhau mãnh liệt thì việc nói hay nghe không còn quan trọng bằng sự hiện diện, có mặt với nhau càng nhiều càng tốt.

Đó là khởi đầu của dấu hiệu muốn trở nên và có khả năng trở nên "một thịt với nhau". Cầu nguyện cũng là một cuộc tâm giao của hai người yêu nhau, nên cũng có tiến trình đi khá giống: nói – nghe – hiện diện.

II. TIẾN TRÌNH:

Phương Pháp Cầu Nguyện 4 Bước sẽ giúp bạn gặp gỡ Thiên Chúa, nhất là Chúa Giê-su như một người bạn, một người tình. Nếu bạn có lòng khát khao điều này, xin hãy dừng lại đôi phút mời Chúa Giê-su đến vớibạn ngay lúc này.

"Lạy Chúa Giê-su, con mời Chúa đến với con trong giờ này và ngay bây giờ ! Xin Chúa chạm vào mắt con để con thấy Chúa trên các giòng chữ này. Xin Chúa chạm đến tay con, chạm đến tim con, để con như được ôm lấy Chúa. Xin Chúa chạm vào toàn thân con để toàn thân con có Chúa và xin cho con ca ngợi Chúa".

Bạn hãy hát cho Chúa nghe một bài hay chỉ một đoạn của một bài ca chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa mà bạn thuộc.

Như vậy, từ giờ phút này, chúng tôi nhân Danh Chúa Giê-su Ki-tô và quyền năng Phục Sinh của Người là Chúa Thánh Thần chúc lành cho bạn. Xin Máu Thánh cứu độ của Người xua đuổi mọi âm mưu ma quỷ là các trạng thái lo lắng, hoài nghi, bực bội, căng thẳng, nóng bức hay ớn lạnh và nhất là mặc cảm tội lỗi đang hiện diện trong tâm trí, trong thân xác của bạn và trong căn phòng này ra khỏi bạn và nơi bạn đang có mặt.

Bạn hãy công bố: "Chỉ có Chúa và những gì thuộc về Ngài mới được hiện diện trong con người con và trong căn phòng này !

"Tên của 4 Bước giúp bạn thiết lập tương quan với Chúa gồm có: MIỆNG ĐỌC - TÂM SUY - KHẨN NGUYỆN - DẤN THÂN.

Bước 1:MIỆNG ĐỌC

Bạn sẽ đọc cái gì ? Xin bạn vui lòng luôn luôn có bên mình quyển Kinh Thánh Tân Ước nhỏ, để bất cứ lúc nào bạn muốn gặp gỡ Chúa Giê-su theo cách này, bạn sẽ không bị cản trở. Bạn hãy mở Kinh Thánh ra, chọn một đoạn ( có thể chỉ có một câu hoặc nhiều hơn cũng được ). Lưu ý, bạn có thể chọn các đoạn Kinh Thánh giúp cầu nguyện theo những cách sau:

Mở sách và chọn ngẫu nhiên: bất kỳ đoạn nào mở ra và gây chú ý cho mắt bạn trước nhất.

Mở sách và chọn theo các bản chỉ dẫn: hiện nay có rất nhiềubản chỉ dẫn ý cho mắt bạn trước nhất. bản chỉ dẫn đọc Kinh thánh theo hoàn cảnh. Nếu bạn đang hân hoan thì chọn đoạn nào và nếu đang cô đơn thì chọn đoạn nào.

Mở sách và chọn theo Lịch Phụng Vụ: trên Lịch Công giáo cácđịa phận đều có ghi ngày nào cần đọc đoạn nào.

Trước khi vào bước một, bạn nên mơi Chúa Giê-su đến với mình, tương tự như đã đề nghị ở phần trên. Kế đó bạn bắt đầu đọc sau một, hai phút thinh lặng. Cách đọc: Đọc bằng miệng, sao cho tai nghe được tiếng mình đọc. Nếu đọc một mình bạn, bạn lập lại một lần nữa như thể đang nuốt lấy từng chữ, từng lời Thánh Kinh.

Nếu đọc trong một Nhóm nhỏ ( 8 người trở xuống ), bạn nhờ một người thay mặt cộng đoàn công bố lại bản văn Lời Chúa một cách chậm rãi, trong khi đó những người kia nghe như thể đang nuốt lấy từng chữ, từng lời Thánh Kinh. Nếu Nhóm đông hơn 8 người, có thể nhờ 2 người lập lại.

Sau khi đọc xong, bạn thinh lặng khoảng một phút, rồi đọc lên một chữ, hay những chữ mà bạn còn nhớ và đã được đánh động. Bạn lập lại chậm rãi ba lần. Ví dụ: "Tôi biết chiên của tôi - Tôi biết chiên của tôi - Tôi biết chiên của tôi" ( x Ga 10, 14 ).

Sau khi xướng lên lời Thánh kinh này, bạn hãy cảm tạ Chúa đã đến với bạn, đang chạm đến bạn và đã ban cho bạn một Lời Sống.

Khi có nhiều người, thì người này xướng xong, mọi người lắng lại vài giây rồi người khác tiếp tục xướng lên. Lưu ý, trước khi xướng bản văn Thánh Kinh, bạn nên đọc xuất xứ, để mọi người dễ hiệp thông, ví dụ: "Câu 14".

Nếu bạn thấy Lời Thánh Kinh đánh động bạn đã được người khác xướng rồi bạn vẫn cứ xướng lại, vì điều đó cần cho cộng đoàn và cho chính bạn, bởi cũng một LỜI, nhưng Chúa sẽ nói những điều cụ thể khác nhau cho từng người và cho mỗi hoàn cảnh riêng biệt.

Bạn cần liên tục cảm tạ Chúa cho mình và cho những người đang cầu nguyện chung với bạn, vì Chúa thương chúng ta, Người đang viếng thăm chúng ta và ban cho chúng ta Sự Sống.

Bước 2: TÂM SUY

Bạn đừng vội đặt ra câu hỏi: "Những câu, những chữ Lời Chúa vừa đọc, vừa đánh động bạn có ý nghĩa gì ?" Nhưng hãy thật thư giãn và thả lỏng tâm trí, để Chúa có thêm cơ hội chạm vào cuộc đời bạn, nhất là chạm vào những khoảng trống tâm linh sâu thẩm.

Sau hai, ba phút thinh lặng như thế, bạn bắt đầu lập lại những câu, những chữ mà lúc nãy bạn đã được đánh động, một cách chậm rãi nhiều lần và chỉ cho một mình bạn nghe là đủ.

Kế đó, bạn hãy kéo câu, chữ Lời Chúa đó vào chính cuộc đời của bạn.

Ví dụ: "Tôi biết chiên của tôi... Chúa biết chiên của Chúa... Chúa biết con... Chúa biết con đang buồn... Chúa biết con đang bất lực trước một thử thách lơn lao... Chúa biết tim con đang xao động... Chúa biết lòng con đang hoài nghi... Chúa biết con... Chúa biết hoàn cảnh gia đình con... Chúa biết sự đổ vỡ sắp xảy ra trong nhà con... Chúa biết chiên của Chúa... "

Sau đó, bạn ước ao được bàn tay cứu độ của Chúa Giê-su chạm đến từng vấn đề đó của bạn.

Ví dụ: "Chúa biết con, vì con là chiên của Chúa... Chúa biết gia đình con, vì là gia đình con cũng thuộc về đàn chiên của Chúa... Xin bàn tay cứu độ của Chúa chạm đến tim con, chạm đến mạch máu của con... Xin bàn tay cứu độ của Chúa chạm đến và gìn giữ gia đình con..."

Bước 3: KHẨN NGUYỆN

Lúc này, bạn hãy mở miệng cầu nguyện lớn tiếng cho tai bạn nghe được giọng nói của mình.

Bạn hãy cầu nguyện với Chúa trong tâm tình phó thác tuyệt Bạn hãy cầu nguyện với Chúa trong tâm tình phó thác tuyệt đối, tức là ngoài Chúa ra không ai làm được việc đó, kể cả bạn. Tiền bạc, uy tín của địa vị hay tình cảm cũng không giải quyết được. Chỉ có một mình Chúa Giê-su mới có thể giải quyết được mà thôi.

Bạn đừng sợ hay ngại ngùng không biết nói gì khi cầu nguyện lớn tiếng, vì mọi lời nguyện đều hướng về Chúa, mà Chúa thì có vô số lời hay ý đẹp rồi, nên Người không cần phải nghe thêm một lời nào theo cách trau chuốt của chúng ta thường dùng để nói hoa mỹ với nhau, nhưng Người cần tấm lòng chân thật.

Nhất là, thánh Phao-lô đã dạy chúng ta: "Có Thần Khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải; nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta bằng những tiếng rên siết khôn tả" ( Rm 8, 26 ).

Do đó, bạn hãy nói ngay với Chúa điều gì chợt đến lúc ấy với bạn, bất kể đó là điều gì, chỉ với một ý định rõ ràng là khẩn xin và ngợi khen Chúa.

Ở phần này, bạn cũng có thể sám hối một cách đặc biệt, xin được giải thoát khỏi những ràng buộc của sự dữ ẩn nấp trong cơ thể bạn dưới các hình thức bệnh tật, nghiện ngập, mệt mỏi, lo sợ, oán thù, hoài nghi... Rồi bạn hãy nói với Chúa quyết tâm tha thứ và làm hòa của bạn với Chúa và với những người nào đó cụ thể.

Bạn hãy xin Mẹ Ma-ri-a Hằng Cứu Giúp, thánh An-phong, Thánh Bổn Mạng và các Thánh khác mà bạn đặc biệt quý mến cầu nguyện cho bạn, để bạn có thể sẵn sàng để Chúa Giê-su tự do sử dụng bạn, ngõ hầu Người sẽ thực hiện điều bạn khẩn xin ngay nơi thân xác bạn và tha nhân.

Bước 4: DẤN THÂN

Nếu quyết tâm chỉ mới là một ước muốn thực hiện đến cùng một điều tốt nào đó ( lý trí và ý chí ), thì dấn thân sẽ bao gồm trọn vẹn quyết tâm và còn đòi phải có thêm ít là một hành vi, hành động cụ thể nào đó để thực hiện quyết tâm ấy. Ở đây, bạn sẽ dấn thân theo lời mời gọi mà trong suốt thời gian cầu nguyện vừa qua bạn đã được đánh động, thúc đẩy.

Khi nhận ra điều này, bạn hãy mau mắn thực hiện mà đừng lo sợ khả năng có phù hợp với quyết tâm hay không, vì lúc đó chính Chúa sẽ giúp bạn, sẽ làm thay cho bạn.

III. KẾT LUẬN:

Khi nào bạn chưa thực hiện xong phần Dấn Thân, nghĩa là giờ cầu nguyện của bạn chưa kết thúc; nghĩa là Chúa Giê-su vẫn đang hiện diện cách đặc biệt với bạn để nghe bạn tâm tình.

Như vậy, mặc dầu bạn chỉ dành ra 15 phút mỗi ngày và đều đặn như vậy, nhưng sẽ có những ngày bạn được gắn bó với Chúa liên tục cả ngày. Nếu bạn là người Ki-tô hữu thực thụ, chắc bạn cũng có một mong ước như người viết bài này là được Chúa Giê-su kết chặt cuộc đời Người với cuộc đờimình. Vậy đây là một lời đề nghị, một cách thức mà nhiều bạn trẻ đã đón nhận và đã gặp gỡ Đức Ki-tô muốn được chia sẻ với bạn.

Kinh nghiệm cụ thể cho thấy, nếu một Nhóm hoặc mỗi cá nhân trung thành thực hiện theo Phương Pháp này trong khoảng 49 ngày, thì đến ngày thứ 50, Nhóm hoặc cá nhân có thể nhận được ân huệ Chúa ban một cách diệu kỳ.

IV. TÓM LƯỢC:

Cuối cùng, để giúp người hướng dẫn ( còn gọi là Linh Hoạt Viên Cầu Nguyện ) cho một Nhóm nhỏ khoảng từ 10 tới 30 người, xin tóm lược tất cả Phương Pháp Cầu Nguyện 4 Bước theo một trình tự như sau:

Bước 1: MIỆNG ĐỌC

· Tập họp chung tại một nơi thích hợp.

· Chân thành mời Chúa đến với Nhóm.

· Hát chung một bài Thánh Ca ngắn.

· Thinh lặng ít phút.

· Cùng mở Tân Ước, đọc chung đoạn Lời Chúa đã chọn.

· Nhờ thêm 2 người nữa lần lượt đọc lại đoạn Lời Chúa.

· Thinh lặng ít phút.

· Mời tất cả ai được đánh động bởi câu, chữ nào trong đoạn Lời Chúa vừa đọc, xướng lên chậm rãi 3 lần kèm theo xuất xứ.

Bước 2: TÂM SUY

· Người hướng dẫn nói với Chúa thay cho cả Nhóm.

· Mỗi người cũng thầm nói với Chúa niềm ước ao được chính Lời Chúa vừa xướng lên, chạm đến từng vấn đề riêng của mình, chạm đến cuộc đời mình.

Bước 3: KHẨN NGUYỆN

· Người hướng dẫn khẩn nguyện lớn tiếng thay cho cả Nhóm. Mọi người hiệp ý, hoặc có thể thầm khẩn nguyện trong lòng cho một vấn đề riêng của bản thân.

· Sau đó, lần lượt mỗi người cũng có thể khẩn nguyện lớn tiếng trước cả Nhóm, nếu thấy bản thân cần được cả Nhóm cầu nguyện giúp cho mình.

· Có thể nài xin với Đức Ma-ri-a, Thánh Bổn Mạng của mỗi người, Thánh Bảo Trợ của Nhóm mình cầu bầu cùng Chúa.

Bước 4: DẤN THÂN

· Người hướng dẫn thưa với Chúa một quyết tâm chung của Nhóm, hướng tới một việc dấn thân cụ thể: hoán cải một lỗi lầm, hòa giải một chuyện bất hòa, sống bác ái...

· Mỗi người cũng thầm hứa với Chúa sẽ quyết tâm và dấn thân làm một việc cụ thể nào đó mà mình được Chúa soi dẫn.

· Nếu có mặt một Linh Mục, mời ngài thánh hóa và chúc lành.

· Hát chung một bài Thánh Ca, làm dấu Thánh Giá kết thúc.

blank

Bài 12: TÌM HIỂU TÂM LÝ TRẺ EM - PHẦN 1

Muốn dạy Giáo Lý cho các em hiểu và đưa các em đến liên hệ với Đức Kitô, người Giáo Lý viên phải hiểu tâm lý trẻ em. Phần này trình bày tâm lý học sinh từ tuổi ấu nhi (0-3 tuổi) qua tuổi nhi đồng (3-7 tuổi) đến tuổi thiếu nhi (7-11 tuổi).

I. DẪN NHẬP VỀ TÂM LÝ HỌC:

Từ lâu, trên thế giới, khoa Tâm Lý Học đã phát triển, củng cố và đem lại nhiều kết quả to lớn cho hầu như tất cả các ngành khoa học xã hội và tự nhiên của nhân loại. Tâm Lý Học được định nghĩa nhiều cách để chúng ta có thể thấu đáo được hết mọi khía cạnh như sau:

Đó là một khoa học tìm hiểu về ý thức con người để biết mình biết người, đường biết ứng xử cho hợp tình hợp lý, đường biết sống một cách hài hòa và sung mãn, để trưởng thành tốt đẹp ứng với từng lứa tuổi, và tránh được những thất bại trên đường đời.

Đó là một khoa học về con người với những suy tư và hành động, cảm nhận và tương tác, bên trong và bên ngoài, chiều sâu và chiều rộng. Tất cả đều được quan sát, mô tả và giải thích, đối chiếu với thực tế kinh nghiệm chung của xã hội, của nhân loại.

Như thế, tâm lý chính là cuộc sống con người với muôn hình muôn dạng, đầy bí nhiệm, rất khó khám phá và không bao giờ có thể hiểu cho trọn vẹn, bởi đối tượng của nó là con người, luôn chuyển biến, lớn lên và triển nở về thân xác lẫn tinh thần.

II. TÌM HIỂU TÂM LÝ TRẺ EM:

Trong chừng mực của vấn đề giáo dục thanh thiếu niên và thiếu nhi, các nhà sư phạm và giáo dục cũng sẽ không thể nào bỏ qua, không tìm hiểu Khoa Tâm Lý Học đặc biệt đối với từng lứa tuổi các em.

Chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu dựa vào những thành quả quý giá, tích lũy từ bao thời, của bao người cũng như chính các nét đặc thù truyền thống của dân tộc Việt Nam chúng ta nữa.

Ngoài ra, mỗi người chúng ta cũng nên đối chiếu lại với chính kinh nghiệm thời thơ ấu và niên thiếu của mình, những gì mình đã bị gánh chịu thiệt thòi, cũng như những gì mình đã may mắn được đón nhận. Xin hãy luôn nhớ: bản thân mỗi người chúng ta đều từng là một đứa trẻ nhỏ. Vậy, xin đừng biến các trẻ nhỏ hôm nay thành “những ông cụ non”, các “bà thánh nhỏ”, nghĩa là bắt các em phải rập khuôn về tâm lý và luân lý theo kiểu người lớn, một điều mà ngày xưa chính chúng ta đã bực bội khó chịu và âm thầm đề kháng mỗi khi bị áp đặt !

Sau đây, chúng ta lần lượt tìm hiểu tâm lý các em ở từng độ tuổi thể lý.

III. LỨA TUỔI ẤU NHI ( 1 – 3 tuổi):

Trong thực tế, ở độ tuổi này, các em vẫn còn hoàn toàn thuộc về vòng tay chăm sóc và giáo dục của bố mẹ và anh chị trong gia đình các em. Thế nhưng, các Huynh Trưởng và các Giáo Lý Viên vẫn cần nghiên cứu thấu đáo để có thể hiểu được các diễn biến tâm lý nơi các em đến sinh hoạt với mình sau này, bởi nơi mỗi một con người luôn có một sự phát triển liên tục từ độ tuổi này sang độ tuổi khác, cái trước làm tiền đề cho cái sau kế thừa.

Với lứa tuổi Ấu Nhi. Các nhà chuyên môn gọi giai đoạn tâm lý này là Première Enfance, bởi lý do khởi từ đây, đứa bé bắt đầu “thôi nôi”, lẫm chẫm tập đi những bước đầu đời, đưa tay sờ nắm bất cứ vật gì nằm trong tầm tay, dõi mắt khám phá những khung cảnh tương đối xa hơn và hoàn toàn mới lạ, phạm vi tương quan tiếp xúc với tha nhân cũng rộng hơn chứ không chỉ dừng lại nơi vòng tay người mẹ.

Do vậy, cần chuẩn bị cho bé một không gian và môi trường an toàn, khoáng đãng, không ô nhiễm về tiếng động và khí thở, có nhiều đồ vật tròn trĩnh, dễ thương, nhiều màu sắc hài hòa mà hấp dẫn.

Ngoài ra, bầu khí tương quan chung quanh phải nhất thiết là sự trìu mến, yêu thương, hạnh phúc. Giấc ngủ của các em có thể được nâng niu bằng âm nhạc, nhất là những điệu ru hời dân gian Việt Nam và nhạc cổ điển êm dịu của Tây phương...

Tóm lại, đây là thời kỳ của những giác động ( sensori motrice) mở ra cho các em những tiếp xúc vật chất và những tương quan nhân vị, chủ yếu dựa vào ngũ giác quan ( nhìn, nghe, ngửi, nếm, sờ) vượt trội hơn hẳn giai đoạn bé còn nằm trong nôi hoặc được bồng ẵm trên tay của người lớn.

Riêng đối với việc chuẩn bị giúp thức tỉnh những tâm tình tôn giáo lành mạnh nơi các em, chúng ta có thể tìm đọc cuốn “L’Éveil Religieux du Tout Petit” của Chanoine Boyer.

Cũng cần phải nhìn nhận rằng: điều gì đã là khởi đầu thì tất yếu sẽ là nền tảng hết sức quan trọng cho tương lai. Ngay trước lứa tuổi Ấu Nhi này, các nhà chuyên môn đang mở ra một giai đoạn ngược về thời kỳ đứa bé còn nằm trong bụng mẹ để khởi sự việc giáo dục một cách gián tiếp bằng khoa Thai Giáo.

IV. LỨA TUỔI NHI ĐỒNG ( 3 – 7 tuổi)

Bước vào giai đoạn này, các nhà chuyên môn gọi là giai đoạn Deuxième Enfance, bởi các em có thể đã được gửi vào Nhà Trẻ ( trước đây gọi là Vườn Trẻ – Jardin d’ Enfants) và sau đó bắt đầu vào các lớp Mẫu Giáo Mầm Chồi Lá.

Tại các nước tiên tiến, phong trào Hướng Đạo mới đây đã khai sáng thêm ngành Nhi, đặt trước các ngành Aáu, Thiếu, Kha, Tráng vốn đã có từ lâu. Riêng ở Việt Nam, việc thử nghiệm ngành Nhi cũng đã được khởi sự.

Gạt ra ngoài lý do không đáng khuyến khích là bố mẹ các em chỉ muốn đùn cho xã hội phải lo thay để mình còn rảnh tay làm ăn và giải trí, thì phương cách sớm cho các em đến trường cũng có những giá trị tích cực.

Đây là dịp để các em được mở rộng tiếp xúc nhiều hơn nữa với thế giới chung quanh muôn màu muôn vẻ, đồng thời các em được các cô bảo mẫu, các thầy cô giáo Mẫu Giáo có lương tâm tập tành cho các em một số những đức tính, những thói quen tập quán tốt.

Thế nhưng, ngoài thời gian đi Nhà Trẻ hoặc Mẫu Giáo, thì không gian, thời gian và bầu khí sống chính yếu của các em vẫn là gia đình. Đây là thời kỳ các em phải trải qua một cơn khủng hoảng tâm lý tương đối nhẹ nhàng để tự củng cố cái Tôi ( le Moi) của mình.

Các em bắt đầu ý thức được rằng mình có thể cưỡng chống lại tất cả những gì xem ra người lớn muốn áp đặt lên tự do của mình. Sau một đôi lần thành công, các em sẽ tìm cách tận dụng khả năng này, sao cho có lợi nhất cho bản thân, không cần quan tâm rằng điều đó có lợi hay có hại cho mình và cho người khác.

Trí khôn của các em chuyển dần từ chỗ tiền quan niệm ( précon-ceptuelle) còn khá mơ hồ, sang thế trực giác ( intituive) một cách cụ thể.

Cũng trong giai đoạn này, các em thường tự tìm hiểu hoặc đặt ra cho người lớn những câu hỏi “tại sao?” có chủ ý vụ lợi ( utilitaire) và có chủ đích ( finaliste) rằng điều đó, cái đó “để làm gì vậy?”

Do vậy, người lớn cần kiên nhẫn để trả lời các câu hỏi loại này, đồng thời hướng các em đến những khái niệm bớt vị kỷ vụ lợi cho bản thân. Cũng đừng nên trình bày vấn đề quá sâu xa phức tạp khiến các em đâm ra lúng túng, nản chí hoặc bị ngộ nhận tai hại về lâu về dài.

Đối với lứa tuổi này, những chuyến đi dạo công viên, nghỉ mát giữa thiên nhiên bao la trong lành là những dịp giúp các em mở rộng tâm tình và óc tò mò đến những khái niệm tốt lành, đẹp đẽ, dễ thương. Âm nhạc cổ điển hoặc hòa tấu cũng giúp một phần quan trọng để giúp các em hình thành sự nhân ái dịu dàng.

Về mặt sinh hoạt, các em bắt chước người lớn rất nhanh, cộng thêm trí tưởng tượng đang hình thành khá phong phú để tự bày ra các trò chơi như: xây nhà, nấu bếp, dọn hàng, ru búp bê, và có thể cứ thế mà chơi một mình rất lâu, ngày này qua ngày kia không biết chán...

Về mặt tôn giáo, các câu truyện cổ tích giữ một vai trò quan trọng. Các tính cách nhân ái, thật thà, hiếu thảo nơi các nhân vật trạc tuổi các em sẽ đặc biệt được ghi sâu trong tiềm thức, dần dần mở ra cho tính cách tôn giáo hướng thượng nếu người lớn biết kết hợp với việc giúp các em cầu nguyện, tham dự thánh lễ...

Tại một số nước phương Tây hiện nay có chủ trương đến tuổi này mới cho các em được chịu Bí Tích Thanh Tẩy cũng phần nào là chính đáng, bởi nếu các em được chăm lo đúng cách và đúng mức, các em bắt đầu nảy nở những tâm tình tôn giáo chính thức ở giai đoạn này.

V. LỨA TUỔI THIẾU NHI ( 7 – 11 tuổi):

Đây là giai đoạn Troisième Enfance, lứa tuổi bắt đầu theo học Tiểu Học, hoặc còn gọi là Phổ Thông Cơ Sở cấp 1. Ngoài ra, các em cũng có thể được cha mẹ cho tham gia các lớp Giáo Lý Khai Tâm, các Đoàn thể tôn giáo như Thiếu Nhi Thánh Thể, Húng Tâm Dũng Chí, các phong trào giáo dục như Hướng Đạo...

Đây cũng là lứa tuổi mà những ai thật sự muốn dấn thân trở thành người cộng tác mật thiết với gia đình các em để chăm lo việc giáo dục nhân bản và tâm linh cho các em, như các Giáo Lý Viên, các Huynh Trưởng, các thầy cô giáo rất cần quan tâm tìm hiểu.

Do vậy, kể từ phần này trở đi, vấn đề sẽ được cố gắng phân tích chi tiết và sâu xa hơn trong từng đề mục có liên quan trong từng lứa tuổi.

1. CÁC EM MANG ĐẬM MẶC CẢM:

Tự bẩm sinh, các em đã mang mặc cảm ¬dipe ( le complexe d’ ¬dipe). Thần thoại Hy-lạp kể rằng: ¬dipe do cuộc đời oan nghiệt đưa đẩy, đã ngộ sát cha mình là Laios để lên ngôi vua và cưới luôn mẹ là Jocaste làm hoàng hậu... Các nhà Tâm Lý Học mượn điển tích này để diễn tả hiện tượng tâm lý bẩm sinh phổ biến nơi lứa tuổi thiếu nhi.

Các em luôn tìm sự gần gũi, yêu thương, chiều chuộng của người lớn khác phái: bé gái gần bố mà xa mẹ, còn bé trai lại gần mẹ xa bố. Đây không phải là một tội lỗi ghê gớm đáng lên án và nghiêm phạt như cách nghĩ thiển cận của một số người chủ trương đạo đức quá khắt khe cổ hủ.

Cần phải biết khéo hướng dẫn để giúp các em từ từ nhận ra sự cần thiết phải có đủ các tính cách giáo dục qua cả bố lẫn mẹ, anh và chị trong gia đình, cả thầy lẫn cô ở trường và ở lớp Giáo Lý. Sau này, khi bước vào tuổi dậy thì, các em sẽ dần dần chuyển hóa sang thế quân bình về phái tính.

Nếu người lớn quá khắc nghiệt hoặc lơi lỏng thiếu quan tâm, có thể sẽ gây ra nơi các em những ấn tượng lệch lạc, di hại suốt đời các em về mặt nhân cách tâm lý và ứng xử. Ngược lại, cần bắc một nhịp cầu hết sức tế nhị để gặp gỡ chính tâm hồn bé bỏng non nớt của các em, biết mở chuyện hỏi han các em bằng ngôn ngữ và cung cách của chính các em.

Khi đó, các em mới dễ bộc lộ một cách hồn nhiên những tâm sự, những “bí mật” có khi rất ngô nghê của các em, mà không hề e dè, giấu giếm, sợ người lớn la rầy, kết tội hoặc chế giễu.

Ở điểm này, người Huynh Trưởng đối với các em phải như là người cha người mẹ thứ hai, có tấm lòng yêu thương chăm sóc, ân cần tận tụy và tinh tế nhạy cảm, nắm bắt cho được mọi biểu hiện tích cực lẫn tiêu cực nơi các em.

2. CÁC EM TIN TƯỞNG NGƯỜI LỚN TUYỆT ĐỐI:

Các em đã dần dần không còn muốn loanh quanh luẩn quẩn ở xó nhà góc bếp, nhưng bắt đầu thích làm quen nhiều bạn nhỏ và nhiều người lớn khác. Vì vậy, nếu các em nhận ra nơi các người lớn như thầy cô giáo, linh mục, nam nữ tu sĩ, Giáo Lý Viên, Huynh Trưởng... một sự bảo bọc chở che, nhất là sự quan tâm cảm thông thật sự, các em sẽ dần dần quấn quít, tin cậy đến mức tuyệt đối.

Hãy tránh đừng bao giờ đùa chơi với các em bằng cách xí gạt để các em mắc lừa cho vui. Cũng đừng bao giờ tạo cho các em cảm tượng bị người lớn áp đặt, ăn hiếp, lấn lướt, sai bảo vặt và khống chế các em bằng luật lệ mà chính người lớn chưa chắc đã tuân thủ đàng hoàng.

Do vậy, thông qua những hoạt động về giáo dục, làm việc, sinh hoạt vui chơi, người lớn cần biết tạo ra cơ hội để gần gũi các em, xóa bỏ mọi ngăn cách về tuổi tác và tâm lý, hòa mình trở nên đơn sơ như trẻ nhỏ, biết cách gợi ý tổ chức cùng chơi, cùng làm với các em, từ đó mới có dịp để giúp đỡ, dạy dỗ các em một cách đầy đủ và kịp thời.

Bên cạnh đó, cũng cần kích thích cho các em luôn háo hức chịu làm quen thêm với nhiều bạn trai bạn gái mới đồng trang lứa ở trường lớp và khu xóm.

Ở điểm này, người Huynh Trưởng đối với các em phải là một quản trò đa năng, biết biến báo, lôi cuốn, trang bị nhiều kỹ năng thành thạo, thu hút được đám đông các em, đồng thời lại có vốn liếng kinh nghiệm về tâm lý để có thể tiếp cận mà lắng nghe và đối thoại với từng em.

3. CÁC EM ÔM ẤP NHIỀU MƠ MỘNG:

Các em rất giàu trí tưởng tượng, nhiều khi quá tin vào những điều huyền hoặc, những truyện cổ tích thần tiên, những truyện thần thoại dân gian được kể trong các lớp học hoặc trước khi đi ngủ buổi tối. Từ đó các em tự thêu dệt những mơ mộng rất dễ thương đến bất ngờ.

Sau này, lớn hơn một chút. Tính thần thoại chuyển dần sang khía cạnh thần tượng hóa một cách đơn giản. Khi các em được tiếp xúc thân tình với một người lớn nào đó có nhân cách cao thượng, các em sẽ nhanh chóng hình thành các ước mơ sẽ có được nhân cách ấy ( ví dụ: “lớn lên em sẽlàm cô giáo như cô...”; “Mai mốt con sẽ đi tu như cha...”; “Em sẽ là một Ronaldo của Việt Nam...”).

Do đó, nếu người lớn biết khéo nương theo trí tưởng tượng và những mơ mộng hồn nhiên trong sáng của các em, có thể hướng dẫn các em dần dần gạn lọc đi những nét viễn vông huyền hoặc để chuyển những giá trị tốt đẹp hiện thực nơi nhân cách các em.

Bước đầu thấu hiểu được những nhu cầu khát vọng ngây thơ của các em rồi, vẫn chưa đủ, bởi tính khí các em luôn bị đột biến, thay đổi hoặc bị tổn thương. Do vậy, ngoài việc hòa mình cùng chơi, cùng trò chuyện với các em, người lớn còn cần khéo léo tạo sức thu hút lâu dài bền bỉ, bằng cách lồng các hoạt động tập thể vào các trò chơi ( học và làm mà là chơi, chơi mà lại là học và làm một cách hữu ích).

Đồng thời, cũng đừng quên tiếp xúc riêng từng em, giúp các em tập nỗ lực nho nhỏ để vươn lên trong từng khát vọng, từng ước mơ hồn nhiên của chính mình, mỗi ngày một chút theo phương pháp giáo dục tiệm tiến.

Ở điểm này, người Huynh Trưởng đối với các em phải là một người bạn trẻ trung, tâm huyết, đáng tin cậy trong mọi mặt sinh hoạt vui nhộn cũng như tâm linh sâu lắng của các em.

4. CÁC EM RẤT ĐA CẢM, DỄ XÚC ĐỘNG:

Tâm hồn các em còn hết sức trong sáng hồn nhiên như trang giấy còn mới tinh. Ngay cả trường hợp một số em phải chịu những di chứng do sự đổ vỡ trong gia đình, thì chắc chắn tâm hồn các em vẫn luôn luôn đa cảm, rất dễ bị xúc động.

Do đó, bất cứ hành động thô bạo nào đối với chính bản thân các em, đối với các em khác, đối với súc vật và đối với thiên nhiên đều gây tổn thương nơi các em, để lại trong tâm trí các em vết sẹo không bao giờ phai nhạt. Cần tránh cho các em phải đối mặt với những nghịch cảnh và bất hạnh, những thực tế quá phũ phàng, những hình ảnh dã man bạo lực trên sách báo, truyền hình, những biến cố quá gay cấn ngoài đường phố, trong gia đình, nơi trường học.

Riêng với các câu truyện kể Giáo Lý, cần nhớ rằng: một nội dung quá bi lụy thương tâm có thể gợi ra nơi các em lòng trắc ẩn nhân ái, nhưng cũng có thể âm thầm hình thành trong tiềm thức và vô thức của các em tính hiếu chiến, hiếu sát, thích trả đũa, nhẫn tâm, hoặc ngược lại, sự mủi lòng ủy mị, mau nước mắt vì quá sức đa sầu đa cảm.

Mặt khác, bên cạnh sự đa cảm, các em vẫn còn thiên nhiều về giác quan, thích sờ tận tay nhìn tận mắt, nên các em rất vui thích khi được thưởng cụ thể bằng vật chất hơn là khen ngợi tuyên dương suông suông vậy thôi. Các em rất hãnh diện thấm thía khi được người lớn khéo léo góp ý khích lệ hơn là phê bình chê trách hay nổi cáu lên quát tháo om sòm.

Chúng ta thấy, nhà trường đã từng áp dụng những cách khen thưởng khá cụ thể như các phiếu “bon point”, các bông hoa điểm 10 cho từng môn học. Còn trong Giáo Lý thì một số cha sở và các sơ vẫn phát các phiếu thưởng khi các em siêng năng đi học hoặc dự thánh lễ... Chắc chắn có nhiều người lớn không thích, cho rằng như thế là gây ra đầu óc thực dụng. Thế nhưng, bản thân chúng ta khi còn bé, hẳn ai cũng đã từng ao ước hoặc hãnh diện khi thấy tên mình được ghi trên Bảng Danh Dự (Tableau d’ honneur) treo tại một nơi trang trọng và dễ thấy ở trường. Còn Sổ Học Bạ ( Livret Scolaire) hoặc Sổ Liên Lạc thì không ai muốn cha mẹ mình lại phải đọc thấy những giòng chữ thầy cô chủ nhiệm phê xấu và yếu kém. Do vậy, đây là những cách khen thưởng có vẻ vật chất nhưng lại hàm ý về chiều sâu tinh thần nhiều lắm...

Ở lứa tuổi này, người Huynh Trưởng đối với các em phải là một “bề trên” hiểu theo nghĩa rộng nhất, nghiêm minh mà quảng đại, công bình mà bao dung, vẫn luôn đòi hỏi cao mà lại biết khích lệ nâng đỡ.

5. CÁC EM RẤT HIẾU ĐỘNG:

Năng lực ở độ tuổi đang tăng trưởng nơi các em luôn dồi dào. Bên cạnh đó, các em cũng đang trải qua một cơn khủng hoảng về trí tuệ, còn gọi là khủng hoảng về ý thức cử động ( idée motrice).

Về mặt sinh hoạt thể lý, các em, kể cả các bé gái, cần phải luôn tay luôn chân, chạy nhảy, leo trèo, nô đủa và hò hét thỏa thích, hoặc im lặng ngồi táy máy, hì hục nghịch phá một trò nào đó, hay làm một việc gì đó vừa sức mình.

Riêng bên nam, các em rất thích các trò chơi đối kháng, mang tính giao chiến và đua tranh giữa hai phe ( ví dụ: kéo co, cướp cờ, đánh trận giả...). Các em sẵn sàng chơi hăng say hết mình, bởi đối với các em, chuyện thắng thua rất là quan trọng, nó nhằm mục đích tự khẳng định cá tính cho dù các em chưa đủ lý luận cao xa gì lắm về bản thân.

Với các em nữ, vấn đề cũng tương tự như khi các em đặc biệt thích các trò chơi tuy nhẹ nhàng hơn con trai, nhưng cũng là chuyện luân phiên thi đua giành phần thắng cho mình ( ví dụ: nhảy cò cò, đánh chuyền, nhảy lèo, chơi ô ăn quan...).

Trong thực tế, người lớn đang bận việc, rất ghét sự ồn ào náo động, lại cho rằng các em đang chơi những trò quá hiếu động, có hại về sức vóc lẫn tâm lý, nên thường la rầy ngăn cấm các em. Người lớn không ngờ đã đẩy các em sớm rơi vào tình trạng dồn nén, có thể tạo ra những tình cảm rối loạn, rất có hại về lâu về dài.

Về sinh hoạt học tập, các em cũng rất dễ hào hứng để cho cuốn theo các ý tưởng, các kiến thức lý thú mới lạ, để không ngừng đặt ra các câu hỏi tò mò thắc mắc. Một khi nơi các em lý trí bắt đầu hoạt động âm thầm, các ý tưởng như thế dần dần sáng tỏ ra, cho dù các em chưa thể lý luận suy diễn theo dạng đặt vấn đề “vì vậy”, “cho nên”, “do đó” như người lớn...

Nhưng mặt khác, các em đã không còn thỏa mãn với dạng câu hỏi “tại sao?” mà đã chuyển dần sang câu hỏi khó hơn nhiều: “làm thế nào?” tức là có khuynh hướng khách quan hơn, sâu xa hơn.

Dù vậy, các em chưa thể cầm lòng cầm trí lâu để kịp phân tích vấn đề và quan sát một cách kiên nhẫn, các em cũng chưa thể tự mình biết cách học hỏi sao cho đúng mức nếu không được người lớn hướng dẫn dưới dạng “học mà chơi” đầy hấp dẫn.

Ở điểm này, người Huynh Trưởng đối với các em phải là một người thầy, một người cô vừa có kiến thức quảng bác, lại vừa có tâm hồn sâu sắc để truyền đạt tri thức, gợi mở sáng kiến và nhất là vun đắp cho các em những tâm tình nhân ái vị tha, vui tươi và dễ thương, đúng với độ tuổi các em.

6. CÁC EM CÓ THỂ TRUNG TÍN ĐẾN CÙNG:

Khi gặp một hoàn cảnh đặc biệt hoặc trong một trường hợp bất ngờ, nếu các em được người lớn tin cậy trao phó một trách nhiệm quan trọng nào đó, với lời giải thích kỹ lưỡng và căn dặn chi tiết, các em sẽ hết sức ý thức về công việc, cảm thấy vinh dự và hãnh diện để cố gắng chu toàn hơn cả mong đợi của người lớn. Ấn tượng sâu sắc này sẽ theo các em suốt cuộc đời, hình thành một nhân cách khó co gì có thể làm biến dạng.

Hiểu được điều này, chúng ta không lấy làm ngạc nhiên khi thấy các phong trào giáo dục đứng đắn trên thế giới đều có những nghi thức tập tục rất long trọng như: trao trách nhiệm Đàn trưởng trong bầy Ấu Sinh, Đội Trưởng Nhất trong Đoàn Thiếu Sinh, làm lễ cho Sói Con mở mắt, đội mũ, trao cờ, tuyên hứa thiếu nhi, thắt khăn quàng, gắn sao...

Riêng với chuyên hiệu cứu thương, các em còn được gắn hai cái cùng lúc trên đầu hai vai áo, xem đó như một trọng trách và vinh dự cao nhất.

Tại trường học, có nơi, nếu biết huấn luyện tinh thần và kỹ thuật tới nơi tới chốn, người lớn có thể tin tưởng giao phó cho các em ở các lớp tiểu học đảm nhận chuẩn bị âm thanh, xếp đội hình danh dự, kéo cờ, bắt nhịp và đồng ca bài quốc ca v.v... mà không sợ gặp sự cố trục trặc, bởi các em ý thức khá chững chạc về tính cách quan trọng và trang nghiêm của công việc cùng với niềm hãnh diện được đại diện cho toàn trường.

Trong thực tế, đã có trường hợp một em đệ tử tiểu chủng viện đã can đảm đứng nguyên một chỗ suốt nhiều giờ để giữ chiếc xe cho vị bề trên của em giốc toàn tâm toàn lực cấp cứu và đưa vào bệnh viện một người bị nạn trên xa lộ vắng người.

Như vậy, ở điểm này, người Huynh Trưởng đối với các em phải là một Người Lãnh Đạo ( leader) đúng nghĩa, biết cách huấn luyện chỉ dẫn cho các em thành thạo tháo vát trong các việc nhỏ, vừa tầm hiểu, vừa sức làm của các em mà lại có tầm quan trọng không thua gì việc của người lớn, sau đó, biết mạnh dạn tin tưởng trao phó công việc đó để các em tự chơi, tự làm, tự giải quyết trong khả năng của các em ...

blank

Bài 13: TÌM HIỂU TÂM LÝ TRẺ EM - PHẦN 2

Phần này trình bày tâm lý tuổi thiếu niên (ừ 11-14) là tuổi mà các em bắt đầu dùng nhiều lý luận để tìm hiểu chính căn tính của mình. Ở tuổi này, các em bắt đầu muốn tự lập, không còn thích quanh quẩn bên cha mẹ, các em coi trọng bạn bà, và bắt đầu mở rộng tình cảm mình theo chiều kích xã hội để tìm kiếm những người lớn thu hút hấp dẫn hơn mà các em chỉ gặp trong một số dịp, một số giờ trong ngày, hay một số ngày trong tuần.

VI. LỨA TUỔI THIẾU NIÊN ( 11 – 14 TUỔI):

Các nhà tâm lý gọi lứa tuổi này là Quatrième Enfance. Trong phong trào Hướng Đạo thì ứng với tuổi Thiếu tức là thành viên tham gia các Đội của một Thiếu Đoàn.

Ở trường, các em bắt đầu chuyển lên học trường Phổ Thông Cơ Sở cấp 2, trước đây gọi là Trung Học Đệ Nhất Cấp, từ lớp đệ thất đến lớp đệ tứ. Ở Giáo Xứ, các em theo học các lớp chuẩn bị đón nhận Bí Tích Thêm Sức, sau đó một vài năm, nhiều nơi còn cho các em tiếp tục lên lớp Bao Đồng để tuyên tín trọng thể.

Các Tiểu Chủng Viện của các Giáo Phận hoặc các Đệ Tử Viện của các dòng tu nam nữ cũng bắt đầu tiếp nhận các em mà gia đình muốn cho đi tu, các em sẽ vừa học văn hóa vừa tập sống đời sống chung xa nhà.

Như vậy, rõ ràng các em ở độ tuổi này đã chuyển hẳn sang một giai đoạn phát triển về thể lý và tâm lý hoàn toàn mới, với các đặc nét khác hẳn lứa tuổi Thiếu Nhi trước đó.

Chúng ta cũng sẽ chú ý tìm hiểu và phân tích tâm lý của các em một cách thấu đáo, hầu có thể nhận định được vai trò giáo dục của người lớn bên cạnh các em quan trọng và cần thiết như thế nào.

1. CÁC EM THÍCH THẦN TƯỢNG HÓA NGƯỜI KHÁC:

Đến giai đoạn này, các em rất muốn tìm những con người nổi tiếng chung quanh để tôn sùng như những thần tượng ( idoles).

Với các em trai, có thể thần tượng là một cầu thủ bóng đá nếu các em mê chơi môn túc cầu, bản thân sẽ bắt chước y khuôn lối đi bóng, đầu tóc, số áo và cả đến những sở thích nho nhỏ của cầu thủ thần tượng ấy, không những ở các mặt tốt mà luôn cả các tật xấu.Với các em gái, thần tượng lại có thể là một cô diễn viên ngôi sao, một người mẫu thời trang, một nữ ca sĩ đang nổi tiếng, Top Ten trong nước hay ngoại quốc...

Và rồi, đã gọi là thần tượng, không sớm thì muộn, các em sẽ nhanh chóng thay thế bằng một thần tượng khác cùng loại hoặc chuyển hẳn sang lãnh vực khác, miễn là hợp với thị hiếu thời thượng của đám đông quần chúng, của bè bạn cùng trang lứa, và nhất là phải hợp với các sở thích cũng luôn tạm bợ, nhất thời của bản thân các em. Rõ ràng, các ấn tượng do các thần tượng ghi dấu nơi các em rất nhanh mà cũng chóng qua, cái sau chồng lấp mên cái trước, hời hợt, dễ đảo lộn.

Tuy nhiên, cái còn đọng lại và đi vào tiềm thức các em thì sẽ vô cùng tai hại nếu những ấn tượng đó đã kịp ăn sâu, trở thành một kiểu ứng xử, thái độ sống, cung cách hành động, và nhất là trở thành thứ lý tưởng mẫu cho đời các em.

Hiện tượng tôn sùng cá nhân là chuyện đương nhiên khó tránh khỏi cho các em ở độ tuổi này. Vì thế, người lớn không nên chọn cách thế ngăn cấm hay chỉ trích lên án các em một cách tiêu cực, nhưng hãy chủ động đến với các em, đáp ứng cho các em những mẫu người lớn thật sự quân bình, đáng tin cậy và có ảnh hưởng sâu xa trên các em về nhân cách. Họ vẫn luôn có đó, chung quanh và gần gũi với các em mà các em không ngờ.

Nhờ vậy, dần dần các em sẽ khám phá ra nơi chính con người đó những đặc nét xứng đáng cho các em khâm phục, yêu mến và noi gương, đồng thời vẫn nhận ra họ cũng chỉ là những con người tương đối, bình thường mà vẫn không hề tầm thường, không nổi tiếng những lại nhiều danh thơm tiếng tốt, đủ để cho các em hãnh diện và tự hào được làm “đệ tử”, làm “đàn em”, làm “học trò ruột”, làm “bạn vong niên” của những con người như thế trong sinh hoạt đời thường hằng ngày...

Cũng cần lưu ý rằng: ở lứa tuổi này, các em không thích sống loanh quanh trong khung cảnh gia đình. Bóng dáng người cha, người mẹ đâm ra quá quen thuộc, và sẽ là nhàm chán nếu cha mẹ quá khó chịu mà lại mắc nhiều khiếm khuyết trước com mắt xét đoán còn ngô nghê của các em. Từ đó, chính người lớn trong gia đình đừng ngạc nhiên và rơi vào khủng hoảng khi thấy các em đâm ra lì lợm, khó bảo, thích cãi lời cha mẹ !

Thay vào đó, các em bắt đầu mở rộng tình cảm mình theo chiều kích xã hội để tìm kiếm những người lớn thu hút hấp dẫn hơn mà các em chỉ gặp trong một số dịp, một số giờ trong ngày, hay một số ngày trong tuần.

Ở trường trung học, các em không còn học các môn với một thầy cô giáo, nhưng lại được học với nhiều thầy cô giáo khác nhau của từng môn. Các em sẽ so chiếu rất nhanh và chọn ra thầy cô nào là “thần tượng” theo tiêu chuẩn riêng của các em.

Ở các Đoàn thể sinh hoạt cũng thế, người Huynh Trưởng của các em được coi như những người anh người chị, biết hết mọi chuyện lý thú, thành thạo nhiều kỹ năng hấp dẫn, làm được mọi việc, ứng xử được trước mọi tình huống, và nhất là sẵn sàng gợi cho các em những sáng kiến mới lạ, những trò chơi lôi cuốn.

Với bè bạn ngang vai, các em bắt đầu nhận thấy cần cộng tác với nhau, không chỉ trong những trò nghịch ngợm mà cả trong các việc đứng đắn nghiêm chỉnh như học tập, sinh hoạt...

Do vậy, khái niệm năng động tập thể trong sinh hoạt và làm việc chung lúc này rất cần thiết nơi các Huynh Trưởng phụ trách các em để có thể biết cách gợi ý và tổ chức cho các em các sinh hoạt năng động bổ ích.

Tuy nhiên, ở ngưỡng cửa của một hai năm trước tuổi dậy thì, các em lại có những tham vọng riêng đôi khi khá mãnh liệt để tự khẳng định cá nhân mình, muốn mình nổi trội hơn các bạn cùng trang lứa. Do vậy mà bên cạnh các sinh hoạt năng động chung, các em vẫn muốn tách ra để sống với khả năng và sở thích riêng.

Do vậy mà ngành Thiếu của phong trào Hướng Đạo đã đáp ứng cho nhu cầu này của các em một cách tài tình bằng cả một chương trình thi lấy các chuyên hiệu hết sức đa dạng và phong phú ( sơ cấp cứu, sửa xe đạp, chơi tem, nuôi cá đá, chụp ảnh, hát sinh hoạt...).

Điều này lại càng khiến cho người Huynh Trưởng phải tỏ rõ bản lĩnh, sự đa năng và tháo vát của mình, hay nhất là biết liên kết và phối hợp các sở trường cũng như sở đoản của mình với một nhóm nhỏ các anh chị Huynh Trưởng khác để cùng nhau giúp các em trong mọi mặt sinh hoạt.

2. CÁC EM MUỐN TỰ TÌM HIỂU VỀ CHÍNH MÌNH:

Đặc nét tâm lý thứ hai này xem ra có vẻ đối lập mâu thuẫn với đặc nét vừa trình bày, thế nhưng, đây lại là một thực tế. Mặc dù nhìn chung, các em ở độ tuổi này vẫn còn hết sức hồn nhiên vô tư, nhưng từ sâu thẳm tâm hồn, các em đang dần dần hình thành một khái niệm mơ hồ về chính bản thân.

Các em rất dễ rơi vào trạng thái: khi thì co rút, thủ thế, ù lì trong một thứ vỏ sò kiên cố do chính các em tự dựng lên để đối phó với tha nhân và ngoại cảnh; khi thì bùng nổ những khiêu khích, chống đối rất ngô nghê ( ví dụ: dứt khoát không chịu ngủ trưa, không chịu ăn món cá, không chịu bỏ áo trong quần, không gài nút áo cổ... nếu như bị người lớn bắt buộc).

Các em loay hoay bối rối tự tìm hiểu, tự bắt gặp những khoảnh khắc vô nghĩa, hụt hẫng. Tâm trạng này khiến cho những nhận định và dự tính của các em bị đảo lộn, như thể dao động từ cực này sang cực kia, mới vui đó đã thấy buồn buồn ủ dột. Nhiều lúc các em còn rơi vào mặc cảm tự ti, mất niềm tin và đau khổ khi thấy thần tượng của mình bị sụp đổ trong phút chốc.

3. CÁC EM BƯỚC VÀO TUỔI DẬY THÌ:

Đặc biệt đối với các em gái, ở cuối độ tuổi này, các em bắt đầu bước vào giai đoạn dậy thì, chuyển từ một “bé-gái-đã-lớn” thành một “thiếu-nữ-còn-nhỏ”, với những biến đổi sâu xa và mạnh mẽ về tâm sinh lý.

Mặc cảm tự ti do vậy lại càng tác động dữ dội hơn nơi các em, rất dễ biến thành những cơn khủng hoảng khiến các em cau có, khó chịu, lầm lì, thích rút vào một góc riêng ngay nơi chốn đông người.

Mặt khác, các em đâm ra uể oải, lười biếng, không thích làm những loại công việc đã quen thuộc nhàm chán, khi bắt buộc phải làm thì ngán ngẩm, đâm ra hồ đồ hậu đậu, dễ “hư bột hư đường”...

Đối với các bạn trai đồng trang lứa, các em gái tự nhiên thấy mình lớn hơn hẳn cả về vóc dáng lẫn những suy nghĩ và sở thích, chẳng còn say mê những trò chơi nghịch ngợm con nít của lũ con trai như trước đây. Các em gái mang máng cảm nhận ra nơi bản thân mình, cái sau này sẽ được xác định là bản năng người phụ nữ trong xã hội và là thiên chức của người mẹ trong gia đình.

Ở nhà, các em bắt đầu quan tâm chăm sóc đến những đứa em nhỏ hơn trong gia đình, tập tành trông coi cửa hàng nếu cha mẹ buôn bán, thích học thêu thùa may vá, bắt đầu lo việc cơm nước giặt giũ nếu như gia cảnh không còn cho phép các em vui chơi vô tư lự.

Trong học tập, các em gái chịu khó chuyên cần và đương nhiên trổi vượt hơn các bạn trai, nhất là ở các môn ngoại ngữ, văn học, sử ký, địa lý và sinh vật. Nếu cho các em học các loại nhạc cụ như organ, piano, đàn tranh ngay từ độ tuổi này, các em gái sẽ rất mau tiếp thụ và phát triển năng khiếu nghệ thuật âm nhạc hơn các em trai.

Do vậy, ở đây, ngoài những kinh nghiệm chuyên môn tâm lý, người lớn cần có những kiến thức y học, đặc biệt trong khoa sinh lý giới tính để có thể là những người tham vấn đáng tin cậy của các em trong các mặt vệ sinh thân thể, học tập và năng khiếu.

Hãy giúp các em vượt qua được mọi khủng hoảng của lứa tuổi đang dậy thì để sau này chính các em sẽ can đảm và sáng suốt vượt qua nhiều khó khăn còn lớn hơn nữa trong cuộc đời.

Xin hãy đừng để các em hụt hẫng, thiếu sự hướng dẫn nghiêm túc, khiến cho các em rơi vào tình trạng tự mình mầy mò khám phá mà tự định hình những quan niệm và mặc cảm tai hại khôn lường về tính dục.

4. CÁC EM THÍCH ĐÁNH GIÁ NGƯỜI LỚN:

Các em thường có khuynh hướng nhận định những sự việc xẩy tới trong đời sống hằng ngày, đồng thời cũng thích lượng giá mọi người chung quanh một cách khá sắc bén, Đôi khi lại rất khôi hài châm biếm.

Những suy nghĩ này đa phần là phiến diện và cực đoan nhưng lại không hẳn là vô căn cứ ( ví dụ: Hôm nay thầy hiệu trưởng cau có gắt gỏng hơn mọi ngày, chắc là thầy mới hụt trúng số... Ba mới đi hớt tóc về, sao trông ba có vẻ ngố ngố thế nào ấy... Thế là má lại mắng mình nữa rồi, đúng là má chỉ thương mấy thằng em trai của mình mà thôi... Tối nay, lúc sinh hoạt vòng tròn, anh Huynh Trưởng cứ đá lông nheo với chị Huynh Trưởng hoài, coi bộ họ “chịu” nhau rồi đó...).

Cứ thế, các em lặng lẽ quan sát, suy luận rồi lại cũng âm thầm tự rút ra nhận xét đánh giá mà có khi chẳng bao giờ chịu phát biểu trực tiếp. Nó cứ hình thành dần nơi các em những quan niệm hoặc là quá xét nét người khác, hoặc là lại rơi vào mặc cảm tự ti hay tự tôn.

Hậu quả là các em rất dễ tránh né người lớn, lủi thủi, khép kín hoặc bướng bỉnh, lì lợm, không phục thiện.

Do vậy, người lớn phải cố gắng giữ cho bản thân có được một đời sống tương đối mẫu mực trong nề nếp tác phong cũng như liêm khiết trong sáng trong nhân cách luân lý.

Hãy là một tấm gương soi càng ít tỳ vết càng tốt, để các em có thể soi mình, tìm được một sự quý mến, khẩu phục mà cũng tâm phục, từ đó thiết lập được một mối tương giao hai chiều trong giáo dục và huấn luyện cho các em và cho chính bản thân người lớn nữa.

5. CÁC EM THÍCH LÀM NHỮNG VIỆC LỚN LAO:

Trong sinh hoạt tập thể hay cộng đồng, các em thường tỏ ra uể oải lười nhác, không thích làm những việc quen thuộc và bình thường do người lớn giao cho.

Nếu người lớn dùng cách thức ra lệnh để buộc các em phải làm, thì dù đã quen thạo với công việc đến đâu đi nữa, các em cũng sẽ cố tình tỏ ra thờ ơ với công việc, hoặc cố tình làm thật vụng về.

Rồi khi người lớn có ý chê bai hay la rầy, các em lại cảm thấy khoái trá trong bụng, cho rằng đã thành công khi làm người lớn phải một phen bị hố, lần sau đừng có mà ép các em phải làm loại công việc ấy nữa, càng khoẻ chứ sao !

Ngược lại, trước một công việc thật sự mới lạ, hứa hẹn nhiều khó khăn và đòi hỏi trách nhiệm cao, thì dù chưa biết cách phải làm thế nào, chưa quen thao tác gì cả, các em cũng sẽ phấn khởi tình nguyện nhận ngay công việc đó, sau đó, bằng mọi giá các em sẽ học hỏi cách thức làm thật mau lẹ, lại còn nẩy ra thêm nhiều sáng kiến. Và như thế, các em sẽ hoàn thành công việc hết sức tốt đẹp, vượt trên mọi dự đoán của người lớn.

Riêng đối với các em nam, dường như các em càng cảm thấy được khích lệ hăng hái nếu như các em tưởng tượng ra thêm, một cách hơi cường điệu về công việc vốn dĩ thật bình thường đơn giản, khoác lên cho nó một tầm vóc quảng đại phi thường, đầy hy sinh lớn lao, hay hết sức anh hùng hào hiệp.

Các em trai hình dung mình là một thứ “anh hùng”, dám can trường đứng ra đương đầu giải quyết những chuyện tầy đình mà cả đến người lớn cũng còn phải cân nhắc e dè mới dám nhận dám làm ! Cũng đừng quên là các em sẽ tỏ ra hãnh diện tự hào ghê lắm, nếu như, khi nhận làm một “công trình” nào đó mà lại có mặt các bạn gái đồng trang lứa vốn thường bị các em cho là hạng “nữ nhi” chân yếu tay mềm, phải trông dựa vào sức vóc và trí khôn của “cánh đàn ông” !

Đối với người lớn, trước hiện tượng muốn “chơi nổi” nói trên, chúng ta nên bình tĩnh, không vội lo ngại, nhưng biết tạo cơ hội để các em khẳng định được “thế giá” của mình cho đúng mức mà vẫn không đánh mất sự hồn nhiên trong sáng.

Cần nhớ rằng: niềm tự hào và hãnh diện chính là một trong những phương cách tự giáo dục và tự huấn luyện rất hiệu quả, hơn hẳn những lời nói khích lệ suông, những bài học đạo đức “chay”, miễn là đừng đẩy các em đi quá xa mà rơi vào thói kiêu căng hợm hĩnh hết sức tai hại cho nhân cách các em sau này.

6. CÁC EM RẤT THÍCH SỐNG HƯỚNG NGOẠI:

Ở cuối độ tuổi này, đối với các em trai 14, 15 tuổi, không gian và bầu khí trong gia đình dường như quá chật chội và ngột ngạt, quen thuộc đến nhàm chán, không còn gợi ra được những trò chơi hấp dẫn cho đám bạn đông đảo của các em.

Mặt khác, tương quan của các em với mọi người chung quanh đã mở ra khá rộng, không chỉ dừng lại ở cha mẹ, anh chị trong gia đình. Do vậy, thời gian sống của các em đa phần là ở bên ngoài gia đình, chẳng đặng đừng lắm các em mới có mặt ở nhà để ăn hai bữa cơm, và để lăn ra ngủ sau một ngày đã thỏa chí bình sinh, thỏa sức ngang tàng, vùng vẫy tung hoành ở trường lớp, ở sân nhà thờ, ở sân banh, ở công viên, và có khi ngay trên lòng lề đường phố nữa.

Trong phong trào Hướng Đạo, ngành Kha được mở ra cho các em ở độ tuổi gọi nôm na là “lỡ cỡ, không giống ai” này. Các em không còn hoàn toàn là trẻ em mà cũng chưa hoàn toàn là người lớn. Vóc dáng đang phát triển, năng lượng trong cơ thể dường như lúc nào cũng thừa thãi, thúc giục đầu óc và tay chân các em phải luôn hành động.

Với các em nam, thanh quản bắt đầu thay đổi làm cho vỡ tiếng, giọng đang trong trẻo như “thiên thần” bỗng trở nên ồ ồ trầm đục như đàn ông. Ở các ban tốp ca, hợp ca nhà trường hay các ban hát lễ sinh nhà thờ, các em thấy mình đâm ra “phá bè”, nếu có ai lỡ miệng gọi đùa là giọng “vịt đực” thì các em rất dễ nổi xung vì tự ái, lẳng lặng bỏ ra với một tổn thương sâu xa.

Trong học tập, các em nam cũng gặp trở ngại về phát âm trong giờ sinh ngữ hay trong các buổi thuyết trình, luận nói. Các em có cảm giác bị các bạn gái “cười ruồi” chế nhạo ngầm, cứ thế mà ăn nói câu cú lại càng đâm ra lúng túng ngọng nghịu.

Mặc cảm thất bại trong mọi sự luôn luôn đeo đuổi các em, làm các em đâm ra hay quạu cọ với mọi người và bực bội với chính mình, đưa tới việc thích “cúp cua” trốn học, lang thang phá phách ngoài phố, đua xe bạt mạng, lê la ở các tiệm cà phê, rất dễ rơi vào tệ nạn nghiện ngập xì ke ma túy và trộm cắp.

Ngược lại, về các môn thể dục thể thao và về mặt sinh hoạt các trò chơi thi đua hay đối kháng, các em thấy mình tự tin với sức vóc “trổ giò”, nhanh hơn, khoẻ hơn, “lì đòn” hơn.

Nhưng dẫu sao, những cuộc tranh tài như thế này có vẻ không còn tạo hứng thú nhiều so với các trò chơi lớn mang tính phiêu lưu mạo hiểm và khai phá, tổ chức ngoài thiên nhiên rộng lớn, trải qua nhiều trạm thử thách gian nan, kéo dài nhiều giờ hoặc nhiều ngày ròng rã, tiến hành vào ban đêm lại càng hấp dẫn hồi hộp ( trại bay, trèo núi băng rừng, thám hiểm hang động, đột nhập các ngôi nhà hoang, vượt sóng ra thăm đảo xa, leo đèo bằng xe đạp...)

Phải nói đầu óc các em trong giai đoạn này chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi các truyện phiêu lưu và trinh thám hình sự trong các loại sách báo phim ảnh, có lợi về mặt kích thích trí tưởng tượng và sư gan dạ nhưng cũng lại gây ra những hậu quả tai hại như: liều lĩnh dại dột theo kiểu “anh hùng rơm”, phung phí sức khoẻ vào những cái vô bổ, nhất là khích động tính hiếu chiến manh động, dễ đưa tới phá phách, bạo lực.

Riêng với các em gái, vấn đề có khác đi, cũng hướng ngoại nhưng là cái hướng ngoại trong tâm tưởng. Kể ra thì các em gái ngại ra khỏi nhà, xa khung cảnh quen thuộc của gia đình, hơn nữa, dẫu sao các em cũng tương đối đã khá lớn để có những bổn phận và công việc riêng phải làm ở nhà sau khi đi học về. Thế nhưng, tâm hồn các em thì lại “bay” đi rất xa.

Các em thích viết nhật ký, thích chép lại các bài thơ tình học trò và các bài hát nhẹ nhàng lãng mạn của tuổi mới lớn mà các em hết sức ưa chuộng. Đặc biệt, mỗi độ hè sang, vào dịp bãi trường, các em gái rất thích làm một tập lưu bút để xin các thầy cô mà các em yêu mến ghi vào vài giòng khen ngợi khuyên nhủ, và sau đó tiếp tục chuyền tay đến các bạn đồng trang lứa.

Nhìn chung, ở lứa tuổi giao thời và dậy thì cho cả hai phái, các em đều muốn mở ra thêm nhiều mối tương giao với mọi người, cho dù các liên hệ này cũng sẽ chóng qua đi, phai nhạt dần với thời gian, hoặc rất mong manh, khó lưu tồn đến khi các em trưởng thành, chỉ cần một xích mích nhỏ là đổ vỡ ngay, và sẽ còn là những kỷ niệm nhẹ nhàng man mác của một thời niên thiếu học trò.

Do vậy, cha mẹ, các thầy cô giáo và các Huynh Trưởng khi đối diện với các em phải hết sức năng động mà kiên nhẫn, quyết đoán mà dịu dàng, cương nghị mà bao dung, nhạy bén mà tế nhị.

Ngoài ra, sở trường phải chuyên sâu mà sở đoản thì phải đa dạng, lãnh vực nào cũng biết tương đối vững, đủ để theo kịp và nhất là để đón đầu, thu phục được lòng tín nhiệm của các em, hầu kịp thời giúp đỡ, dẫn dắt các em vượt qua những khủng hoảng có tính “nổi loạn”.

Đối với các em nam, cần biết định hướng một cách khéo léo, vận dụng và chuyển hóa các “năng lượng thặng dư” cũng như những đặc nét tâm lý của các em vào việc “khai phá” đầy lý thú mà vẫn đồng thời “giúp ích” cho bản thân các em, cho mọi người chung quanh và cho cả cộng đồng xã hội.

Cần phải hình thành dần dần nơi các em bản phác họa cho một mẫu người đàn ông đầy nam tính trong tương lai, lịch sử, quả cảm, thông minh, hữu ích cho xã hội và nhân loại, nhưng cũng sẽ là một người chồng, người cha cao thượng, đôn hậu, nhân ái, có một chút nữ tính và nhất là biết tôn trọng người phụ nữ chứ không chỉ “ga-lăng” hời hợt bên ngoài.

Riêng các em nam có ý hướng đi tu thì rất cần được chuẩn bị tốt về trí thức, óc phán đoán, tính thích nghi, sự nhạy cảm với các vấn đề của Giáo Hội để sau này các em sẽ là những tu sĩ, những linh mục có lòng đạo dức, chí truyền giáo và nhất là quân bình về nhân cách của một người đàn ông độc thân.

Đối với các em nữ, tuổi dậy thì sẽ qua đi, để chuẩn bị chu đáo cho các em bước vào tuổi thiếu nữ, người lớn cần hết sức nâng niu cẩn trọng, giúp đỡ các em sớm trưởng thành để tự tin, sáng suốt, không bị rơi vào cạm bẫy của xã hội đang ngày càng tục hóa, đầy cám dỗ về danh vọng, tiền bạc và sắc dục.

Cái tích cực hơn nữa là khích lệ các em nữ vừa triển nở nhân cách và tri thức, hướng đến tha nhân và cuộc đời nhưng lại vừa ý thức được trách nhiệm của bản thân trong gia đình là nơi mà tương lai các em sẽ đóng vai trò hết sức quan trọng của một phụ nữ Việt Nam, làm vợ, làm dâu, làm mẹ hoặc làm nữ tu.

Các cô giáo, các chị Huynh Trưởng sẽ vừa là người chị, người bạn, lại vừa là một người mẹ của các em gái, tạo sự đồng cảm trong cùng giới phụ nữ, chia sẻ một cách tế nhị và chân thành những kinh nghiệm cụ thể đời thường của chính bản thân mình cho các em, nhất là về mặt sinh lý và tâm lý.

Các thầy giáo, các anh Huynh Trưởng phải biết giới hạn về phái tính của mình để kiềm chế, không ở quá xa một cách nghiêm khắc lạnh lùng, nhưng cũng không ở quá gần, dễ rơi vào các tình huống ”cheo leo” hiểm nghèo trước các em gái. Tốt nhất, hãy để cho các em tin phục chứ đừng thân tình quá đến mức suồng sã.

Cuối cùng, phải nói rằng hiện nay, trong một xã hội mở, đang không ngừng tăng trưởng về kinh tế và khoa học, người lớn nói chung không những thiếu quan tâm đối với các em trong tương lai sẽ là thế hệ kế thừa của mình, mà ngược lại, còn trực tiếp hoặc gián tiếp làm hỏng các em ngay trong gia đình, ở trường học, tại giáo xứ, nơi đường phố và cả ngoài xã hội.

Do vậy, gánh nặng trách nhiệm của những người lớn còn quan tâm thao thức đến việc giáo dục và huấn luyện nhân cách cho các em lại càng hết sức lớn lao và hệ trọng, nhất là trong giai đoạn cuối của tuổi vị thành niên.

VII. KẾT LUẬN:

Xin được kết thúc tập chia sẻ “Tìm Hiểu Tâm Lý Trẻ Em” này bằng một lời mời gọi của Đức Khổng Phu Tử, tuy đã rất cổ xưa nhưng lại không hề lạc hậu: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” nghĩa là “điều gì chúng takhông muốn người khác làm cho mình thì cũng đừng làm cho người khác”.

Để tích cực, chủ động và hướng thượng hơn nữa, phải nói thêm một cách cụ thể, ứng hợp với vấn đề giáo dục vừa trao đổi, đó là:

Điều gì chúng ta đã từng muốn người lớn làm cho mình lúc chúng ta còn là trẻ em, thì chúng ta cũng hãy làm tất cả những điều ấy mộc cách tận tụy ân cần cho các em hiện còn đang nằm trong vòng tay giáo dục yêu thương của chúng ta.

blank

Bài 14: NHỮNG RỐI LOẠN TÂM SINH LÝ CỦA TUỔI MỚI LỚN

Tuổi mới lớn là một trong những giai đoạn quan trọng nhất của đời người, góp phần xác định một cá thể chưa hoàn toàn qua khỏi quãng đời thơ ấu, đồng thời chưa có được những đặc tính của một người thật sự trưởng thành.

Những biến đổi, thậm chí rối loạn về Tâm Sinh Lý của lứa tuổi này cần được bản thân họ và các bậc cha mẹ và thầy cô giáo hiểu rõ để có thể nghĩ đến những cách cư xử phù hợp...

Dưới đây là một bài viết được chọn từ Tạp Chí Thế Giới Mới số 408, ra ngày 16.10.2000 đăng trong mục Giáo Dục Giới Tính, Lê Nguyễn dịch lại từ tạp chí Elle số tháng 9.2000.

Chúng tôi thiết nghĩ bài báo có thể rất cần thiết để các bạn Huynh Trưởng và các Giáo Lý Viên tham khảo thêm bên cạnh việc tìm hiểu Tâm Lý các Lứa Tuổi vừa trình bày ở bài trước.

Lời Tòa Soạn Tạp Chí Thế Giới Mới:

Tuổi mới lớn là một trong những giai đoạn quan trọng nhất của đời người, góp phần xác định một cá thể chưa hoàn toàn qua khỏi quãng đời thơ ấu, đồng thời chưa có được những đặc tính của một người thật sự trưởng thành.

Những biến đổi, thậm chí rối loạn về Tâm Sinh Lý của lứa tuổi này cần được bản thân họ và các bậc cha mẹ và thầy cô giáo hiểu rõ để có thể nghĩ đến những cách cư xử phù hợp...

1. BIẾN ĐỔI SINH LÝ Ở TUỔI MỚI LỚN:

Trong cơ thể con người, nhiều chất hóa học đóng những vai trò kỳ thú có thể sánh ngang với những câu chuyện thần tiên ngoài đời. Chiếc rào chắn ngăn cách tuổi thơ ngây với lúc trưởng thành là giới hạn cao nhất mà mỗi con người đều cần phải vượt qua.

Trong cái lò luyện của tuổi dậy thì, người ta nhìn thấy sự sục sôi của chất men hóa học, và từ đó một con người mới hình thành. Ở những xứ nhiệt đới, con gái mới đến tuổi 11 là đã có thể trải qua thời kỳ đầy những biến động của tuổi mới lớn, trong khi ở những vùng ôn đới, thời kỳ này thường diễn ra vào năm 15 – 16 tuổi. Con trai thường có những diễn biến của tuổi mới lớn chậm hơn con gái 2 năm.

Sự biến đổi sinh lý của tuổi mới lớn là bước chuẩn bị cho cơ thể họ đảm nhiệm chức năng cơ bản là sinh sản để duy trì nòi giống. Hầu như không có cơ quan hay mô nào mà không trải qua những thay đổi sâu sắc. Tim và phổi phát triển nhanh gấp 3 lần so với những năm trước đó. Tuyến giáp nằm ở cổ to ra theo tỷ lệ sự phát triển của cơ thể, trong khi ở lồng ngực, tuyến ức đầy bí ẩn lại nhỏ dần để sau này biến mất vĩnh viễn.

Hồi còn nhỏ, các đầu xương được bọc bằng một lớp sụn, tham gia vào quá trình tăng trưởng của cơ thể. Đến tuổi dậy thì và ít lâu sau đó, lớp sụn này bắt đầu chứa calcium, các đầu xương cứng dần, sự tăng trưởng chậm lại, cuối cùng thì ngưng hẳn. Ngay cả da cũng thay đổi cấu trúc, các tuyến bã nhờn hoạt động mạnh hơn, các lỗ chân lông nở rộng ra, dễ dàng làm mồi ngon cho vi trùng xâm nhập tạo thành mụn.

Tuổi dậy thì được phát động bởi tuyến yên – một bộ phận nhỏ, chỉ bằng hạt đậu Hà-lan, nằm ở mặt dưới của não. Người ta chưa được rõ lắm về việc tuyến yên hoạt động như thế nào, nhưng kết quả hoạt động của nó thì khá rõ: nó tiết ra một lượng nhỏ hormone thúc sinh dục (hormone gonadotrope) để kích thích hoạt động của buồng trứng ở phái nữ và của tinh hoàn ở phái nam. Thời thơ ấu, những bộ phận này ngủ yên, đến khi được tuyến yên kích thích, chúng bắt đầu sản xuất các hormone riêng của chúng.

Ở một cô gái mới lớn, các buồng trứng bắt đầu hoạt động và tiết ra một lượng thật nhỏ chất oestrdiol, chỉ bằng 1 / 1.000 khối lượng của một hạt đường mỗi ngày. Những chất này lại có đủ sức mạnh để biến một cô bé thành một cô gái sắp bước qua ngưỡng cửa của sự trưởng thành. Khi đó, cô bắt đầu lớn nhanh, chiều cao tăng khoảng 8 cm / năm, bỏ những chàng trai cùng tuổi lại đàng sau.

Về phát triển xương, ở cô gái mới lớn, khung chậu rộng ra, chuẩn bị cho những lần sinh nở về sau. Các tuyến vú phát triển, lúc đầu chậm, rồi càng lúc càng nhanh, dưới tác động của các hormone. Các mô ở đường sinh dục dày lên và vững chắc hơn để có thể “đối phó” với sự căng thẳng của các lần sinh nở.

Dạ con từ kích cỡ của một quả mận thời thơ ấu, đạt đến kích cỡ của một quả lê. Tuy nhiên, phải chờ khoảng 2 năm từ lúc bắt đầu có những chuyển biến trên để cơ thể người phụ nữ có thể sẵn sàng cho việc sinh nở.

Trữ lượng của buồng trứng cũng là một chi tiết thú vị. Nó chứa gần 420.000 trứng chưa thành thục, nhưng trong suốt thời gian sinh nở của một người phụ nữ, chỉ có từ 400 đến 500 trứng là đạt đến sự thành thục mà thôi. Xuất phát từ một sự chọn lựa đầy bí ẩn, vào mỗi kỳ kinh nguyệt, chỉ có một trong hai buồng trứng cung cấp cho dạ con một cái trứng thành thục.

Khoảng một tuần lễ trước khi trứng rụng, dạ con cũng có những chuyển biến dưới tác động của các hormone. Thành dạ con dày ra, trong khi một mạng lưới mạch máu mới xuất hiện, sẵn sàng để nuôi phôi. Trong trường hợp không xảy ra sự thụ thai, những mạch máu này trở nên vô dụng, chứng tự hủy, tạo ra kỳ kinh nguyệt đầu tiên của cô gái mới lớn.

Ở nam giới, những biến đổi sinh lý của tuổi mới lớn cũng quan trọng không kém. Dưới tác động của những hormone do tuyến yên tiết ra, tinh hoàn phát triển và trở nên thành thục. Đến lúc này, nó đảm trách hai chức năng: tiết ra testostérone, còn gọi là hormone nam, để lưu chuyển trong máu, và sản xuất một lượng tinh trùng cần cho sự thụ tinh với trứng.

Tác dụng của testostérone thể hiện rất rõ: hệ lông biến đổi, những sợi râu đầu tiên xuất hiện, cơ thể phát triển với một tốc độ đầy ấn tượng, thường cao thêm 15 cm / năm và khối lượng tăng hơn 10 kg cũng trong khoảng thời gian đó.

Testostérone cũng làm phát triển tuyến tiền liệt, một loại kho trữ chất dịch giúp cho tinh trùng bơi lội bên trong và tự nuôi sống chúng. Ở tuổi mới lớn, tuyến tiền liệt từ kích cỡ một hạt đậu nay to bằng một hạt dẻ, và chàng thiếu niên đã có thể tham gia vào quá trình sinh sản.

2. RỐI LOẠN TÂM LÝ Ở TUỔI MỚI LỚN:

Về mặt tâm lý, tuổi mới lớn là giai đoạn có những rối loạn sâu sắc. Lúc ấy, như có hai nhân vật cùng tranh nhau một cơ thể duy nhất, và bên nào cũng muốn chiếm ưu thế. Người thứ nhất muốn bảo tồn những đặc quyền của thời thơ ấu; còn người thứ hai lại thích sử dụng ưu thế của tuổi trưởng thành.

Được trang bị về mặt sinh lý như một người trưởng thành, nhưng lại được định hướng bằng những phản ứng trẻ con, tuổi mới lớn thường chất chứa lắm điều rồ dại. Điều đó rất nguy hiểm khi các đối tượng ngồi trước tay lái xe gắn máy, đứng trên cao phóng xuống giòng sông đang chảy xiết hay lao vào những hoạt động tính dục quá sớm.

Các thế hệ thường không tìm thấy tiếng nói chung. Sự phản kháng đối với cha mẹ và người lớn không có gì là bất thường khi đứa trẻ sắp bước vào thế giới của người lớn.

Sinh hoạt của tuổi mới lớn lắm khi chứa đựng không ít điều kỳ dị. Các em có thể chôn chân hàng giờ liền trước gương soi, bị ám ảnh về một hình bóng khác phái nào đó, hay cắt chải mái tóc theo một kiểu cách ngược đời.

Tư tưởng của các em lúc nào cũng như sục sôi lên khiến các em không chú ý mấy đến những gì đang thấy đang nghe. Các bậc cha mẹ hay thầy cô giáo thường than phiền là con trai hay học trò của họ như đang sống trên mây, mơ màng và lười biếng.

Điều này chỉ đúng một phần, vì người ta biết rằng sự thấp thỏm lo âu của tuổi mới lớn thường kéo theo mệt mỏi mà những thiếu niên ở độ tuổi này thường dành phần lớn thời gian cho sự... lo âu vơ vẩn thẫn thờ, vì thế, những dấu hiệu mệt mỏi chán nản là điều khó tránh khỏi.

Các cô gái ở tuổi mới lớn cũng thế. Các em cũng gặp nhiều khó khăn khi phải từ giã tuổi thơ ngây để bước vào một thế giới còn rất xa lạ. Trước tiên, cái cơ thể đổi mới hoàn toàn thường mang đến cho các em lắm điều phiền lụy. Các em phải che kín bộ ngực đầy vẻ e ấp, cảm thấy xấu hổ lúc hành kinh, và những điều này khiến các em trở nên khép kín, gò mình trong một thế giới chật hẹp và kỳ bí.

Thường thì các em không còn hoàn toàn tin vào cha mẹ nữa. Cũng giống các cậu con trai, các em chỉ chú tâm đến bản thân mình, mỗi một khiếm khuyết nhỏ của cơ thể cũng dễ trở thành một bi kịch.

Sở thích của các cô gái mới lớn cũng thay đổi. Các em không thích những cậu con trai cùng tuổi nữa. Với họ, những anh chàng này vẫn còn trẻ con quá. Các em chỉ chú ý đến những chàng trai lớn tuổi hơn, trông có vẻ già dặn và hấp dẫn. Một đặc trưng nữa của tuổi mới lớn, đó là sự tôn thờ thần tượng, một ca sĩ, một diễn viên điện ảnh hay một người mẫu thời trang chẳng hạn...

Tuổi mới lớn là như thế đó. Những biến đổi, kể cả những rối loạn về Tâm Sinh Lý là điều khá bình thường. Vấn đề đối với các bậc cha mẹ hay thầy cô giáo là nắm vững những trạng thái mới mẻ đó của con cái hay học trò của mình để đề ra những cách ứng xử và hướng dẫn thích hợp. Sự kiên trì và hiểu biết luôn là những yếu tố không thể thiếu khi đối diện với tuổi mới lớn.

Tài liệu Sư Phạm Giáo Lý của Lm. Nguyễn Văn Hiền ( Lm. Quang Uy biên tập )

Trích N ổi Lửa Cho Đời 3 - Trung Tâm Mục Vụ Dòng Chúa Cứu Thế

Tác giả bài viết: Tr. BanGiaoLy

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Cách đây khá lâu, trong lần gặp gỡ khoảng 4000 bạn lễ sinh và ca viên tại các giáo xứ của nước Ý, Đức chân phước giáo hoàng Gioan Phaolô II đã để lại những lời khích lệ người trẻ trên đường sống đạo và đã gọi họ là “những người phục vụ Chúa Kitô”, đồng thời cũng là “những cộng sự viên của linh mục”./25 Tháng Sáu 2012(Xem: 4499) + GM Giuse Vũ Duy Thống /
Bé Anne de guignes Một hôm Anne de Guignes hỏi Mẹ: - Thưa mẹ, mẹ có thể cho phép con cầu nguyện mà không dùng sách khi dự lễ không? - Để làm gì? - Bởi vì con thuộc hết các kinh và con thường chia trí. Còn khi con nói chuyện với Chúa Giêsu con không lo ra tí nào cả. Mẹ ạ!/16 Tháng Bảy 2012(Xem: 7138) Nguon-Tinmungnet /
Ngày 11/5/2021, ĐTC Phanxicô ban hành Tông thư dưới dạng Tự sắc Antiquum ministerium - Thừa tác vụ cổ kính - thiết lập Thừa tác vụ Giáo lý viên. Nội dung tông tư: https://www.vaticannews.va/vi/pope/ne...
Ngày 16 tháng 8 năm 1815, Gioan chào đời trong một túp lều tranh thuộc tỉnh Turinô. Cha ngài qua đời lúc ngài được hai tuổi. Mẹ ngài là bà Magarita một mình nuôi nấng ba người con trai. Bà tập cho con quen với công việc nặng nhọc, với đời cầu nguyện. Bà thường lập lại với các con bà:/31 Tháng Giêng 2013(Xem: 7738) Nghiahiepgd - GiaophanBaria.org/
Lời mời gọi sám hối và tin vào Tin Mừng
Giáo Huấn Vui kỳ 5 - Tông huấn Vui mừng và Hân hoan 25-31
Ở lứa tuổi Khối Xưng tội, Rước lễ (Sơ cấp) (7t-8t) các em chỉ có thể cầm trí được 20 phút, tối đa là 30 phút. Do đó, sau khi các em đã gặp Chúa trong phần cầu nguyện giữa giờ, nghĩa là đã học nửa giờ Giáo lý, Giáo lý viên cho các em sinh hoạt để tâm trí các em được thư giãn, thoải mái hầu có thể tiếp tục học hỏi tốt hơn ở nửa giờ Giáo lý còn lại./post 18 Tháng Tám 2012 (Xem: 7799) Phêrô Nguyễn Minh Hoàng - XudoanPhuocQua.com /
“Bạn sẽ không gặp điều ác hại, và tai ương không bén mảng tới nhà, bởi chưng Người truyền cho thiên sứ giữ gìn bạn trên khắp nẻo đường, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng cho bạn khỏi vấp chân vào đá” (Tv 91:10-12)./post 28 Tháng Chín 2013 (Xem: 1849)/
Chú ý đến việc đón tiếp trẻ. Nhắc lại những điều đã thực hiện và những ý tưởng chính của buổi học giáo lý lần trước. Giáo lý viên hãy giới thiệu rõ ràng đề tài của bài giáo lý hôm nay và sự liên hệ của bài này với các bài đã học. Có một thời khắc thinh lặng/post 13 Tháng Bảy 2013 (Xem: 2146) Sr. Anna Lệ FMA chuyển ngữ - Nguon FMA /
11 Tháng Giêng 2014 (Xem: 2346) Pr. Lê Hoàng Nam, SJ - Vietvaticannet ...Từ khi biết mình được đỗ vào một trường đại học, ta tự hào là từ đây mình đã không còn nhỏ nữa. Mình sẽ tập tành bước vào cuộc sống mới đòi hỏi phải tự lập hơn, trưởng thành hơn.
Bảo Trợ