Thử tìm một định hướng cho Truyền thông Công giáo Việt Nam

28 Tháng Năm 202012:47 CH(Xem: 252)

Thử tìm một định hướng cho Truyền thông Công giáo Việt Nam

blank

Hướng về Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội (Lễ Chúa Thăng Thiên), Kitô hữu chúng ta được mời gọi tìm hiểu và suy tư về chủ đề này, hầu có thể sử dụng hợp lý phương tiện truyền thông theo tinh thần Tin Mừng. Bài viết này mang nặng tính ‘đặt móng’, với hy vọng chỉ ra một định hướng nền tảng, dưới nhãn quan Kitô giáo, cho truyền thông xã hội Việt Nam. Cụ thể, bài viết trình bày ba điểm chính: thứ nhất, lược lại bản chất và ý nghĩa truyền thông theo Kitô giáo; thứ hai, nhìn lại thực trạng truyền thông xã hội của Việt Nam hiện nay và những thách đố của nó; thứ ba, nghĩ về một định hướng căn bản để trả lời cho những thách đố đó qua việc suy gẫm về Mẹ Maria như một gương mẫu tuyệt vời của truyền thông theo tinh thần Tin Mừng.

Bản chất và ý nghĩa của truyền thông theo Kitô giáo

Đâu là bản chất và ý nghĩa của truyền thông (theo nghĩa chung nhất) từ nhãn quan Kitô giáo? Căn bản của truyền thông theo tinh thần Tin Mừng có nền tảng từ Mầu nhiệm Tình Yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Năng động của mối quan hệ giữa Ba Ngôi chính là sự trao ban, thông truyền và kết hiệp. Vì thế, như lời của Đức Thánh Cha Phanxicô, “tự bản chất, tình yêu là truyền thông; tình yêu dẫn đến mở ra và chia sẻ.”[1] Trong ý nghĩa đó, Mầu nhiệm Tình Yêu Ba Ngôi chính là điểm quy chiếu trong mọi khía cạnh bản chất của truyền thông: Ba Ngôi vừa là chủ thể truyền thông, vừa là Đấng truyền thông, vừa là nội dung truyền thông.

Từ nguồn mạch của Ba Ngôi, con người được tham dự vào ơn gọi truyền thông đó. Cách cụ thể, ơn gọi truyền thông của chúng ta chính là việc sống hai chiều kích cơ bản của con người: (1) mở ra, hay đi ra khỏi chính mình – ex-sistere; và (2) tương quan – tương quan với thọ tạo, với tha nhân, và với Thiên Chúa. Như thế, truyền thông không đơn thuần là một công việc hay một sứ mạng, mà là một ơn gọi sống triển nở cuộc đời theo bản chất con người. Từ ý nghĩa lý tưởng mang tính quy chiếu này của truyền thông, chúng ta thử cùng nhau xét duyệt lại một phạm vi nhỏ hơn: truyền thông xã hội, trong bối cảnh cụ thể của mình: xã hội Việt Nam.

Thực trạng và hệ quả của truyền thông xã hội Việt Nam hiện nay

Tất nhiên, đưa ra một bức tranh vừa tổng quát vừa chi tiết về thực trạng truyền thông của một quốc gia là một việc làm lớn và cần có những nghiên cứu căn cơ. Bản thân tôi không có chuyên môn về lãnh vực này, nên không có tham vọng làm việc đó, cũng như không dám khẳng định chắc chắn những nhận xét của mình. Tuy nhiên, dựa vào quan sát và kinhnghiệm bản thân, tôi mạo muội tổng hợp một số nét nổi bật của truyền thông xã hội tại Việt Nam hiện nay:

Trước hết, nếu xét theo tiêu chí số lượng, có thể nói truyền thông xã hội ở Việt Nam hiện tại đã ở mức khá phát triển. Về báo chí, tính đến ngày 30/11/2019, có 850 cơ quan báo chí, tạp chí được cấp phép hoạt động.[2] Hầu như tỉnh thành nào cũng có đài phát thanh và truyền hình. Quan trọng hơn, với đặc điểm dân số trẻ, tỉ lệ người Việt sử dụng Internet, nhất là mạng xã hội, đang thuộc loại cao của thế giới.

Nếu xét về ‘phổ’ của nội dung, truyền thông xã hội của Việt Nam cũng thuộc loại lớn: nó có đủ loại thông tin, từ ‘chính thống’, như văn hoá, tôn giáo, chính trị, khoa học, thiên nhiên, cho đến những thông tin ‘lá cải/giật gân’, như cướp giật, bói toán, đánh bạc, chuyện lạ,…

Về mặt định hướng, truyền thông xã hội ở Việt Nam hiện rơi vào hai thái cực: hoặc được/bị định hướng rất chặt theo một mục đích nhất định (như về mặt chính trị), hoặc hoàn toàn không có định hướng (như phần lớn thông tin trôi nổi trên mạng xã hội).

Về mục tiêu và phương hướng sử dụng của người dùng: rất đa dạng! Ở đây tôi chỉ xét về mạng xã hội: tìm kiếm thông tin bên ngoài vì không tin tưởng hoàn toàn vào thông tin ‘chính thống’ của nhà nước; kết bạn; nhu cầu thể hiện và muốn được thừa nhận về bản thân (đặc biệt qua hiện tượng ‘câu like/câu view’); giao dịch làm ăn (như bán hàng online); giải trí; dùng thông tin để lừa đảo; tò mò tìm hiểu về những thông tin ‘lạ, giật gân’, vv.

Thực trạng đó đưa đến hệ quả gồm hai viễn tượng:

Về mặt tích cực: Nếu được sử dụng hợp lý, rõ ràng truyền thông xã hội mang lại những ích lợi cụ thể theo mục tiêu của người sử dụng. Hơn nữa, sự phong phú của thế giới truyền thông ‘mở ra’ cho ta thấy một chân trời rộng lớn của cuộc sống, của thế giới: cuộc sống không chỉ bó hẹp trong công ăn việc làm, cũng không giới hạn trong những thông tin khoa học, mà còn bao nhiêu khía cạnh khác: tâm linh, văn hoá, tự nhiên, v.v.. Do đó, nếu được thực thi với một phương thức phù hợp, truyền thông xã hội hiện nay có thể mang đến một điều kiện tuyệt vời để giúp con người vượt qua não trạng hẹp hòi, duy khoa học kỹ thuật của thời đại: não trạng cho rằng chỉ có những thông tin mang tính khoa học kỹ thuật mới có giá trị đối với đời sống con người. Với não trạng này, đời sống bị đóng khung trong những ‘bức tường’ của các chỉ số toán học và định lượng khoa học do lý trí vạch ra, nên con người đánh mất khả năng mở ra với nhiều điều khác; đánh mất sự ngạc nhiên, sự nhạy bén trước bao nhiêu điều lớn lao khác: những gì thuộc ý thức về sự linh thánh, niềm hy vọng về đời sống siêu nhiên, v.v.. Vì thế, sự phong phú của nguồn lực truyền thông có thể giúp chúng ta nhận ra rằng: cuộc sống lớn lao hơn những gì bị khuôn ép trong cái khung hẹp hòi mà bấy lâu nay ta mặc định.

Về mặt tiêu cực: Thực trạng trên đã đem đến những điều tiêu cực trên thực tế. Thật vậy, tuy đã nói ở phía trên rằng mục tiêu và phương hướng sử dụng truyền thông xã hội ở Việt Nam rất đa dạng, nhưng phải nhấn mạnh rằng: tỉ lệ những người dùng truyền thông vào mục đích vô bổ, hoặc mục đích xấu, dường như cao hơn nhiều so với số người nhắm đến mục đích ích lợi chân chính. Ví dụ, theo thống kê trong nhiều năm của Google, Việt Nam có tỉ lệ người xem phim ‘đen’ cao nhất thế giới[3]; hay việc tràn lan tin giả, tin rác, hay bùng nổ tin dữ, dẫn đến vấn nạn ‘bội thực tin dữ’, khiến bao người bị khủng hoảng tinh thần, đánh mất niềm tin vào sự tốt lành thánh thiện. Ngoài ra, nhiều người rơi vào tình trạng sống ảo, ‘đóng khung’ chính mình trong thế giới mạng, nghĩa là đi ngược lại với bản chất đích thực của truyền thông: thay vì mở ra, họ lại tự ‘đóng’ mình lại.

Đâu là nguyên do của tình trạng tiêu cực trên? Có lẽ có nhiều yếu tố, nhưng theo tôi, nguyên do chính nằm ở sự ‘lệch khớp’ giữa phát triển bùng nổ thông tin và nền tảng văn hoá, giáo dục chưa tương xứng. Thật thế, nếu khiêm tốn và bình tâm, chúng ta phải thừa nhận rằng nền tảng ‘tâm – trí’ của nhiều người Việt ngày nay chưa tương hợp để giúp phân định trong việc sử dụng truyền thông.

Do đó, giải pháp cho những thách đố của truyền thông xã hội ở Việt Nam hệ ở việc phải tìm một định hướng căn bản giúp ta có khả năng phân định và có trách nhiệm với việc trao và nhận thông tin. Theo tinh thần Tin Mừng, thiết nghĩ ta có thể tìm thấy định hướng này từ gương Mẹ Maria.

Gương sống ơn gọi truyền thông của Đức Maria: Định hướng nền tảng của truyền thông xã hội

Trước hết, Mẹ Maria đã rất mẫu mực trong việc tiếp nhận thông tin. Khi được Thiên thần truyền tin, Mẹ đã đi vào cuộc đối thoại với Thiên Chúa (qua Thiên thần), để phân định và nhận ra kế hoạch lớn lao mà Thiên Chúa dành cho nhân loại qua Mẹ. Rồi nơi tiệc cưới Cana, Mẹ nhận ra ‘tín hiệu’ rằng chủ nhà đã hết rượu và đang rất lo lắng. Những ví dụ này đã cho thấy Mẹ Maria có một sự nhạy bén, tinh tế và khả năng phân định tuyệt vời. Khả năng đó chỉ ra rằng Mẹ có một nền tảng về tâm và trí thật lớn lao.

Nhưng làm sao mẹ có được nền tảng đó? Thưa, bằng việc lắng nghe người khác ở mức độ thấu cảm, bằng đời sống cầu nguyện, ‘suy đi nghĩ lại trong lòng’, và bằng tâm hồn yêu mến, khiêm cung tìm kiếm và tuân hành ý muốn Thiên Chúa.

Đức Maria cũng đồng thời là một gương mẫu trong việc truyền thông tin. Như được diễn tả trong các sách Tin Mừng, Mẹ rất cẩn trọng trong việc trao-truyền thông tin. Ngay cả khi được lãnh nhận Tin Mừng trọng đại nhất – rằng Thiên Chúa sẽ nhập thể nơi lòng Mẹ – Đức Maria cũng không ‘tài lanh’ – rao truyền ‘vô tội vạ’. Ngược lại, mẹ phân định để biết cần trao truyền thông tin gì, và cho ai, để mưu ích cho họ (trong trường hợp này là cho bà Elizabeth). Hơn nữa, điều cần đặc biệt nhấn mạnh ở đây: thông tin mà Mẹ trao truyền không chỉ đơn thuần là thông tin được nhận từ người này rồi chuyển sang người nọ, mà là thông tin đã được ‘cưu mang’, đã được ấp ủ, được nuôi dưỡng để trở thành Tin Mừng. Và Mẹ cũng không trao truyền thông tin theo kiểu ‘đem con bỏ chợ’; mà ngược lại, Mẹ đến gặp gỡ, chia sẻ và đỡ nâng người được nhận thông tin. Nói cách khác, Mẹ đã rao truyền thông tin bằng chính cả con người mình. Như vậy, với Mẹ Maria, truyền thông không phải chỉ là trao điều gì bên ngoài mình, mà là hiện diện, hiệp thông và trao ban điều Mẹ đã cưu mang, đã sống, và cả chính bản thân mình.

Làm sao Mẹ có được tinh thần trao truyền thông tin như thế? Thưa, vì tình yêu! Tình yêu Thiên Chúa và niềm vui Tin Mừng đã trào tràn nơi Mẹ; và tự bản chất, Tình Yêu đó thúc đẩy mẹ trao ban, thông truyền cho người khác, nhưng trao ban theo mục đích và phương thích thích hợp nhất. Rõ ràng, Mẹ Maria đã có một tiêu chuẩn phân định để có thể nhận biết thông tin nào là chân thật, hữu ích, cũng như cần trao truyền thông tin gì, cho ai, theo phương thế nào. Đó là tiêu chuẩn: cho vinh danh Thiên Chúa hơn, và mưu ích lợi cho con người lớn hơn.

Ước gì mỗi người Kitô hữu chúng ta biết noi gương Mẹ Maria để có sự khôn ngoan theo Tin Mừng, biết đào luyện lương tâm ngay thẳng, có tình yêu Thiên Chúa và tha nhân thật lớn lao, hầu sống sung mãn ơn gọi truyền thông của cuộc đời mình!

Khắc Bá, S.J.

[1] ĐTC Phanxicô, Sứ điệp Ngày Truyền thông Xã hội thứ 50. Xem tại: http://hdgmvietnam.org.
[2] https://www.hcmcpv.org.vn
[3] http://www.doisongphapluat.com.

Giaophanvinh.net


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Kính thưa quý Đức cha, Đang khi bước đi trên những nẻo đường lịch sử như một lữ khách hành hương tiến về Thành đô Giêrusalem thiên quốc để được kết hiệp muôn đời với vị Hiền Phu và Đấng Cứu độ là Đức Kitô, Hội Thánh luôn tin tưởng phó thác vào Đức Maria, người đã vững tin vào Lời Thiên Chúa. Tin Mừng cho chúng ta biết, ngay từ thời khai nguyên Hội Thánh, các môn đệ của Chúa Giêsu đã ca tụng Mẹ Maria là người “có phúc hơn mọi người nữ” và vẫn luôn cậy nhờ lời Mẹ chuyển cầu. Không thể kể hết những tước hiệu và lời khẩn cầu mà lòng sùng mộ của c
WGPSG / Aleteia — Thánh Gioan tông đồ đã ghi lại những gì ngài trông thấy; ngài thấy thân xác Chúa đang thực sự trải qua cái chết; cho dù điều này khiến thánh Gioan suy tư về các bí tích… Khi đến gần Đức Giê-su và thấy Người đã chết, họ không đánh giập ống chân Người. Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra (Ga 19, 33-34) Thánh Gioan, là chứng nhân và ghi lại sự kiện này trong Phúc Âm, đã không giải thích việc tuôn chảy “máu và nước” về mặt y khoa. Đối với Gioan – được ví như ‘chim phượng hoàng’ vì cái nhìn thiêng liêng thấu suốt của vị thánh sử này, Thiên Chúa đã gởi một thông điệp về máu và nước để nói đến bí tích Rửa Tội và bí tích Thánh Thể, nói đến lòng thương xót vô biên.
DẪN NHẬP Internet và mạng lưới toàn cầu (World Wide Web) là phát minh vĩ đại của nhân loại. Phát minh này có tác động lớn, làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống con người. Giống như điện thoại ở những năm 1920 và truyền hình ở những năm 1950, Internet ngày nay đã trở thành phương tiện truyền thông nổi bật và chủ yếu. Internet có một số tính năng nổi bật như: tức thời, toàn cầu, phân tán, tương tác, tiếp cận không giới hạn, linh hoạt, dễ sửa đổi và dễ thích nghi. Nó mang tính bình đẳng, theo nghĩa bất cứ ai với phương tiện và kỹ năng cơ bản cũng có thể tham gia và hoạt động trên Internet.[1] Internet trở thành trung tâm kết hợp những người cùng khuynh hướng lại với nhau. Nhờ Internet, những người thường xuyên bị loại bỏ hoặc bị tôn giáo khai trừ, đều có thể tìm đến và hội nhập dễ dàng với những cộng đoàn tâm linh trực tuyến.
Grentchen R.Crowe Anthony Lai dịch từ simplycatholic.com WHĐ - Dễ dàng nhận thấy rằng người Công Giáo đã quá quen với chuỗi Mân Côi. Chúng ta thường mua các tràng chuỗi làm quà kỉ niệm, hoặc mang chúng theo bên mình, hoặc thậm chí là đeo chuỗi trên người – nhưng chúng ta quên đi sức mạnh to lớn của chuỗi Mân Côi mỗi khi chúng ta thực sự cầu nguyện bằng tràng chuỗi ấy. Điều đó thật đáng buồn, vì những lời cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi có thể mang lại câu trả lời cho rất nhiều vấn đề khó khăn trong thế kỷ XXI này.
1. Thánh Mátthêu chịu tử đạo ở Êthiôpia. Người ta đã dùng gươm để giết chết ngài. 2. Thánh Máccô chết ở Alexandria, Ai cập. Người ta đã dùng những con ngựa để kéo bừa ngài qua các đường phố cho đến chết. 3. Thánh Luca bị treo cổ ở Hy Lạp vì ngài đã giảng rất hùng hồn về sự lầm lạc, hư mất. 4. Thánh Gioan chịu tử đạo bởi hình phạt bị thiêu sống trong cái bồn khổng lồ chứa đầy dầu đang sôi, trong cuộc tàn sát ở Rôma. Tuy nhiên, Ngài đã đựơc cứu sống một cách nhiệm lạ. Rồi ngài bị kết án đi đày trong các hầm mỏ ở nhà tù trên đảo Pátmô. Thánh Gioan đã viết Sách Khải Huyền tại đảo này. Sau này, Tông đồ Gioan đựơc trả tự do và trở về thi hành sứ vụ giám mục của Edessa, Thổ Nhĩ Kỳ. Ngài qua đời trong lúc tuổi già. Ngài là vị tông đồ duy nhất qua đời một cách bình an.
Phan Tấn Thành Từ lễ Phục sinh đến lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống, Kinh Truyền tin được thay thể bằng Kinh Lạy Nữ Vương Thiên đàng. Kinh này phát xuất từ đâu? Thật là một câu hỏi được đặt ra đúng thời nhân mùa đại dịch. Theo một lưu truyền, kinh này được sáng tác từ trời nhân mùa đại dịch năm 590 tại Rôma, thời đức giáo hoàng Grêgôriô Cả.
Lúc 11h ngày 12/04, ĐTC Phanxicô dâng Thánh Lễ Chúa Nhật Phục Sinh. Sau Thánh Lễ, Đức Thánh Cha đọc sứ điệp Phục Sinh và ban phép lành toàn xá urbi et orbi (cho Roma và toàn thế giới). Vatican News Tiếng Việt xin gởi đến quý độc giả toàn văn sứ điệp. Chuyển ngữ: Mai Kha, SJ - CTV Vatican News
Adalberto Sisti OFM Tóm tắt. I. Đẹp và tốt: 1. Từ ngữ; 2. Vẻ đẹp theo Kinh thánh; 3. Nguồn gốc cái đẹp. II. Phản ánh của vẻ đẹp trên thế giới: 1. Bầu trời, mặt trời và mặt trăng; 2. Thảo mộc và động vật. III. Vẻ đẹp của con người: 1. Những nhân vật và nhân tố của vẻ đẹp; 2. Hương thơm và trang điểm; 3. Những giá trị và giới hạn. IV. Vẻ đẹp những công trình của con người: 1. Nghệ thuật; 2. Đời sống. (Nguồn: Nuovo Dizionario di Teologia Biblica, Ed. Paoline, Cinisello Balsamo, 1988, 161-168. Các chú thích của người dịch) ————————
Chuyển ngữ: Phêrô Bùi Huy Ngọc Nguồn: Righetti M., “La Domenica de Passione o Domenica in Palmis”, in Storia Liturgica 2, Ancora, Milano 1969, 184-195. Chúa nhật thương khó hay Chúa nhật lễ lá. Như chúng ta đã biết, tên gọi và nguồn gốc của Chúa nhật này trong nghi lễ Roma là "Cuộc Thương Khó của Chúa", được các giáo phụ Latinh thế kỷ IV-V nhắc đến và trong một số sách phụng vụ cổ đại[1]. Sau này nó được kết hợp với những cành cọ ở đông phương, nên gọi là Dominica palmarum o in palmis - Chúa nhật Lễ lá, như chúng ta thấy trong sách lễ Gelasiano (Reg. 316), đều có cả hai cách gọi. Sau đó, nghi thức làm phép lá ở các quốc gia bên kia dãy núi Alpi đã mang đến sự nổi bật khác thường cho tên gọi này, và từ đó không có tên gọi nào khác ngoài tên này.
Trong Phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh năm nay, Tòa Thánh đã yêu cầu các linh mục trên khắp thế giới đọc thêm một lời cầu nguyện mới vào các Lời Cầu Long Trọng, và kêu gọi các ngài dâng các thánh lễ cầu nguyện cho đại dịch coronavirus sớm chấm dứt. Trước đại dịch coronavirus quá kinh hoàng đã cướp mất mạng sống của gần 50,000 người và làm gần 1 triệu người bị nhiễm bệnh, Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích đã đưa ra một ý cầu nguyện mới trong Những Lời Cầu Long Trọng.
Bảo Trợ