Phụ nữ, sức mạnh của chuyển động và thay đổi trong Giáo hội

12 Tháng Sáu 20194:27 CH(Xem: 169)

Phụ nữ, sức mạnh của chuyển động và thay đổi trong Giáo hội

Theo sử gia Lucetta Scaraffia, từ thời kỳ đầu của đời sống tu viện, các nữ tu đã cổ động cho các cải cách trong xã hội.
blank

Từ các thế kỷ đầu tiên của kitô giáo, các nữ tu được xem như đàn ông, hoặc họ tìm cách để làm như đàn ông, đến mức họ thường được giới thiệu trong y phục đàn ông. Nhưng không vì thế mà các nữ tu không làm cho phụ nữ không có một sự nghiệp mới, một uy tín tương đương với uy tín của đàn ông: đó là thánh thiện. Các nữ tu đưa phụ nữ ra khỏi tình trạng ẩn mình và thu hẹp vào vai trò làm mẹ. Đôi khi họ còn dám thách thức tư tưởng nam giới, thách thức tầm nhìn có phần cứng nhắc của những người viết ra các quy tắc cho tu viện.

Khi Thánh Benoit de Nursie đi thăm tu viện của nữ tu Scholastique, em của cha, cha từ chối không ở lại qua đêm dù ngài biết em mình sắp chết. Theo luật thì ngài phải về tu viện buổi tối. Khi đó nữ tu Scholastique hết lòng cầu nguyện và một cơn bão buộc Thánh Benoit phải ở lại. Như thế, nữ tu dạy cho anh mình, trước mặt Chúa, tình yêu lớn hơn là lề luật.

Một tầm nhìn phê phán

Tính nỗi trội của nam giới được duy trì nhờ một mưu mẹo: đó không phải là tiếng nói của người phụ nữ, nhưng là tiếng nói của chính Chúa, người đã sử dụng qua trung gian khá khiêm tốn để truyền một câu trả lời vô hại của bất cứ một cân nhắc nào cá nhân. Người ta khó hình dung bà Hildegarde de Bingen, nhà trí thức, sáng lập các tu viện, một nhạc sĩ cấp cao lại là một phát ngôn viên của Chúa. Chính kinh nghiệm cá nhân và quá trình nghiên cứu lâu năm của bà đã làm cho bà có một cái nhìn phê phán, đến mức trong thời gian có cuộc khủng hoảng Cathar, cấp cao trong Giáo hội buộc phải dựa trên bà để giải quyết vấn đề. Để đưa các con chiên bị lạc trở về, chính tiếng nói của bà Hildegarde là tiếng nói mạnh nhất trong các nhà thờ chính tòa miền nam nước Đức khi họ bị chấn động bởi cuộc nổi dậy.

Chúng ta hãy nhấn mạnh tiền lệ cách mạng này: một phụ nữ giảng lễ… Cũng vậy với trường hợp của nhà thần nghiệm Catarina Siêna, nữ thánh đã dẫn dắt cuộc chiến bằng miệng và bằng thư từ để đưa Giáo hội bị chia rẽ, mất định hướng và tham nhũng trở về đường ngay nẻo chính. Người phụ nữ đầu tiên lên tiếng trong một thượng hội đồng không biết viết và bà đọc các thư của mình. Một nhân cách như vậy là một tấm gương, dù các giáo sĩ khó khăn chấp nhận.

Nhưng nếu chúng ta đọc lại các lá thư của bà, chúng ta thấy bà có một trí thông minh có khả năng nắm bắt các hệ quả thiêng liêng và chính trị mà các lựa chọn không đúng của các giáo hoàng và các hồng y đã làm. Cũng vậy với Thánh Têrêxa Avila, người hoạt động không ngừng để cải cách và là nhà văn, nữ thánh đã trở thành một nhân vật quan trọng trong sự thay đổi mà vụ nổi dậy luther đã áp đặt lên Giáo hội. Trong một thể chế tham nhũng và thiu thiu ngủ, Thánh Têrêxa đưa vào kinh nghiệm thiêng liêng xác thực của mình. Nữ thánh nhắc nhở, trọng tâm kitô giáo là khả năng của một hành trình thiêng liêng cá nhân, đặt Chúa Giêsu vào trọng tâm đức tin: vai trò của Giáo hội là gìn giữ khó báu này.

Giải phóng phụ nữ

Một xung năng mới được các nữ tu sáng lập các nhà dòng đưa ra vào thế kỷ 19, trong đó vai trò quyết định là giải phóng phụ nữ. Cuộc Cách mạng Pháp khi buộc đóng cửa tu viện đã vô tình mở một con đường tông đồ hướng về việc dấn thân xã hội. Các nữ sáng lập gia các trường học, các viện mồ côi, các bệnh viện, các sứ mạng đã thay đổi đời sống tu trì. Họ không cần bất cứ một tuyên bố chính thức hay cho phép nào. Họ đơn giản có được tự lập kinh tế. Vì chỉ cần có bằng là được day học hay săn sóc, các nữ tu đơn sơ bắt đầu học và đi đây đi đó như các phụ nữ Comboni đi lạc đà băng qua sa mạc Sahara.

Họ không yêu cầu bất cứ điều gì, họ nhận trách nhiệm của mình, vượt xa những gì mà những người bênh vực cho nữ quyền thời đó mong muốn. Chính mối liên kết cơ bản này giữa phụ nữ và cải cách Giáo hội được làm sáng tỏ ngày nay. Trong khi cuộc khủng hoảng sâu đậm và nhiều vụ tai tiếng làm hư hại hình ảnh của linh mục, thì các nữ tu là những người được đặt đúng chỗ nhất để chống lại nạn giáo quyền.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Cuối tháng 5, 2019 vừa qua, thượng viện California đã thông qua dự luật SB 360 (gọi tắt là SB 360) do TNS Jerry Hill soạn thảo. Dự luật buộc các linh mục phải khai báo với cảnh sát về kẻ xâm phạm tình dục trẻ em, mà linh mục biết được qua lời xưng tội của người đó trong tòa giải tội. Chúng ta có thể hiểu, đây là phản ứng về vụ khủng hoảng xâm phạm tình dục trẻ em của một số giáo sĩ trong vài năm trước. California trở thành tiểu bang đầu tiên của Mỹ đã đưa ra một dự luật xen vào nội bộ của tôn giáo.
ĐTC yêu cầu họ phải nghiêm khắc trong công việc và khách quan để tường thuật một cách chuyên nghiệp. Ngài đưa ra một ví dụ: đừng phát ngôn như những kẻ lớn tiếng nhất, nhưng hãy lên tiếng như những người nói sự thật.
Sở dĩ phải nói đến vấn đề này là vì mấy năm gần đây Hồng Y, giám mục, linh mục thường được đưa lên mạng với những cáo buộc về các tội danh như ấu dâm, xa hoa, hèn nhát không dám lên tiếng bênh vực những người bị đàn áp hay yên lặng trước những bất công trong xã hội. Chắc hẳn nhiểu người trong giói linh mục chúng ta buồn và lấy làm tiếc về những sự việc đó. Nhưng xét cho cùng theo quan điểm đức tin thì âu đó cũng là một điều trong chương rình của Chúa, để thanh luyện Hội Thánh và báo động cho mỗi người chúng ta phải lo bảo toàn phẩm chất và giá trị của đời linh mục.
Giáo dân Công Giáo California: Xin Hãy Nhập Cuộc - Vài tuần nay chúng ta chắc ai cũng mừng khi thấy người Công Giáo trong tiếu bang California, từ trên xuống dưới, từ tu sĩ đến giáo dân cùng nhau lên tiếng chống lại dự luật (DL) SB-360, dự luật buộc các linh mục phải vi phạm ấn tòa giải tội chẳng những chống Công Giáo mà còn chống lại những quyền tự do căn bản và thiêng liêng của con người. Đạo luật bá đạo kiểu này chưa một nước nào, dù phát xít hay độc tài, dám ban hành.
1- Theo giáo luật (điều 767, 1), việc giảng lễ chỉ dành riêng cho tư tế hoặc phó tế. Vậy, một linh mục có được phép đưa những người làm chứng lên chia sẻ trong phần bài giảng của mình không? Thực hành đưa những người làm chứng lên chia sẻ trong phần bài giảng thuộc về phạm trù “giáo dân thuyết giảng”. Đúng là theo giáo luật (điều 767, 1) và được Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma [2002] (số 66) cũng như Huấn thị Bí tích Cứu độ [2004] (các số 64-66; 161) nhắc lại, việc giảng lễ chỉ dành riêng cho tư tế hoặc phó tế và không bao giờ trao cho một giáo dân.
Anh Chị Em thân mến, Trong Hội nghị thường niên kỳ I-2019 của Hội đồng Giám mục Việt Nam, chúng tôi đã nhận được những thông tin, thắc mắc, kể cả những lời than phiền và phê phán về một số sự việc liên quan đến cử hành Phụng vụ và các thực hành đạo đức tại nơi này, nơi khác. Nay, với trách nhiệm mục tử, chúng tôi gửi thư này đến anh chị em, để đồng hành và giúp anh chị em sống đức tin một cách đúng đắn theo giáo huấn của Hội Thánh.
Tác giả, giáo sư tại Chủng viện Thánh Tâm (giáo phận Detroit), tóm tắt các ý kiến của các nhà thần học Công giáo về ý nghĩa của “phép rửa trong Thánh Thần” thành ba nhóm chính: 1/ Đây là một sự phát triển của những ơn huệ đã tiềm tàng trong các bí tích khai tâm. 2/ Đây là một sự phái cử mới của Thánh Thần nhằm thi hành một ơn gọi hay sứ vụ mới. 3/ Đây là một hiện tượng mới do Thánh Thần ban cho thời đại chúng ta để đương đầu với những thách đố tương tự như hồi các thế kỷ đầu của Giáo hội. Nguồn: A New Pentecost?: Catholic Theology and “Baptism in the Spirit” in: Logos A Journal of Catholic Thought and Culture 14(3):17-43 · June 2011 . Người dịch: TS Giusee Nguyễn Trị An O.P. Tuy nhiên, có một điều chắc chắn: diện mạo của Giáo hội trong ngàn năm thứ ba tuỳ vào khả năng c
Sống trong cộng đoàn là một yếu tố thiết yếu của đời tu, và “các tu sĩ phải cư ngụ tại nhà dòng của mình, giữ đời sống chung và không được vắng nhà nếu không có phép của Bề Trên” (Bộ Giáo Luật GHCG, 1983, Điều 665 § 1). Thế nhưng, kinh nghiệm những năm gần đây đã cho thấy, có xảy ra những tình trạng liên quan đến việc vắng khỏi nhà dòng một cách bất hợp pháp, trong suốt những lần vắng nhà ấy các tu sĩ đã tự mình thoát ra khỏi thẩm quyền của vị Bề Trên hợp pháp, và đôi khi họ không bị lần ra dấu vết.
San Jose 28/5/2019.- Trong Thánh lễ Chúa Nhật vừa qua (26 tháng 5, 2019) tại nhà thờ Saint Maria Goretti. cha phó Lương Đạt đã báo một tin buồn khiến cả cộng đoàn giáo dân sửng sốt: Thượng viện tiểu bang California vừa thông qua một đạo luật buộc các linh mục phải thông báo với chính quyền những điều nghe được trong tòa giải tội, nếu điều đó liên quan đến việc xâm phạm tình dục trẻ em. Tờ báo địa phương San Jose Mercury News cùng ngày cũng cho đăng trên trang nhất tựa đề “Tiểu Bang California có nên buộc các linh mục phải khai báo lời xưng tội lạm dụng tình dục trẻ em” (Should California force priests to report child-molestation confessions?). Tờ SJMN cũng cho biết Thượng viện tiểu bang CA hôm thứ Sáu (24 tháng 5, 2019) đã thông qua dự luật SB 360 buộc các linh mục phải làm việc này (với đa số đáng ngại 30-4). Đây quả thực là một sự vi phạm thô bạo của tiểu bang CA vào những quyền tự do căn bản
“Cơn bão toàn diện ” (A perfect storm), thành ngữ tiếng Anh mô tả cuộc khủng hoảng tác hại trên Giáo Hội Công giáo. Trận cuồng phong làm rung chuyển Giáo Hội tích tụ nhiều yếu tố nặng nề làm tăng thêm sức mạnh của nó. Ở đây chữ “perfect” của tiếng Anh không có nghĩa là “hoàn hảo” nhưng là “toàn diện”, “trọn vẹn”. Đó là cơn bão toàn diện. Các lý do của cơn bão không phải do gần đây cũng không phải ở bề mặt. Các lời giải thích muốn làm giảm cơn choáng của Giáo Hội Công giáo thành âm mưu xoàng xĩnh của những người “bảo thủ” muốn chống một Giáo hoàng cải cách, các lời giải thích này quá đơn giản. Đúng là Giáo hoàng người Argentina này đã thay đổi phong cách và tầm nhìn của giáo hoàng. Điều đáng kể là sóng thần đã nổ ra năm năm sau cuộc bầu chọn Đức Phanxicô ngày 13 tháng 3 năm 2013.
Bảo Trợ