Phụ nữ, sức mạnh của chuyển động và thay đổi trong Giáo hội

12 Tháng Sáu 20194:27 CH(Xem: 444)

Phụ nữ, sức mạnh của chuyển động và thay đổi trong Giáo hội

Theo sử gia Lucetta Scaraffia, từ thời kỳ đầu của đời sống tu viện, các nữ tu đã cổ động cho các cải cách trong xã hội.
blank

Từ các thế kỷ đầu tiên của kitô giáo, các nữ tu được xem như đàn ông, hoặc họ tìm cách để làm như đàn ông, đến mức họ thường được giới thiệu trong y phục đàn ông. Nhưng không vì thế mà các nữ tu không làm cho phụ nữ không có một sự nghiệp mới, một uy tín tương đương với uy tín của đàn ông: đó là thánh thiện. Các nữ tu đưa phụ nữ ra khỏi tình trạng ẩn mình và thu hẹp vào vai trò làm mẹ. Đôi khi họ còn dám thách thức tư tưởng nam giới, thách thức tầm nhìn có phần cứng nhắc của những người viết ra các quy tắc cho tu viện.

Khi Thánh Benoit de Nursie đi thăm tu viện của nữ tu Scholastique, em của cha, cha từ chối không ở lại qua đêm dù ngài biết em mình sắp chết. Theo luật thì ngài phải về tu viện buổi tối. Khi đó nữ tu Scholastique hết lòng cầu nguyện và một cơn bão buộc Thánh Benoit phải ở lại. Như thế, nữ tu dạy cho anh mình, trước mặt Chúa, tình yêu lớn hơn là lề luật.

Một tầm nhìn phê phán

Tính nỗi trội của nam giới được duy trì nhờ một mưu mẹo: đó không phải là tiếng nói của người phụ nữ, nhưng là tiếng nói của chính Chúa, người đã sử dụng qua trung gian khá khiêm tốn để truyền một câu trả lời vô hại của bất cứ một cân nhắc nào cá nhân. Người ta khó hình dung bà Hildegarde de Bingen, nhà trí thức, sáng lập các tu viện, một nhạc sĩ cấp cao lại là một phát ngôn viên của Chúa. Chính kinh nghiệm cá nhân và quá trình nghiên cứu lâu năm của bà đã làm cho bà có một cái nhìn phê phán, đến mức trong thời gian có cuộc khủng hoảng Cathar, cấp cao trong Giáo hội buộc phải dựa trên bà để giải quyết vấn đề. Để đưa các con chiên bị lạc trở về, chính tiếng nói của bà Hildegarde là tiếng nói mạnh nhất trong các nhà thờ chính tòa miền nam nước Đức khi họ bị chấn động bởi cuộc nổi dậy.

Chúng ta hãy nhấn mạnh tiền lệ cách mạng này: một phụ nữ giảng lễ… Cũng vậy với trường hợp của nhà thần nghiệm Catarina Siêna, nữ thánh đã dẫn dắt cuộc chiến bằng miệng và bằng thư từ để đưa Giáo hội bị chia rẽ, mất định hướng và tham nhũng trở về đường ngay nẻo chính. Người phụ nữ đầu tiên lên tiếng trong một thượng hội đồng không biết viết và bà đọc các thư của mình. Một nhân cách như vậy là một tấm gương, dù các giáo sĩ khó khăn chấp nhận.

Nhưng nếu chúng ta đọc lại các lá thư của bà, chúng ta thấy bà có một trí thông minh có khả năng nắm bắt các hệ quả thiêng liêng và chính trị mà các lựa chọn không đúng của các giáo hoàng và các hồng y đã làm. Cũng vậy với Thánh Têrêxa Avila, người hoạt động không ngừng để cải cách và là nhà văn, nữ thánh đã trở thành một nhân vật quan trọng trong sự thay đổi mà vụ nổi dậy luther đã áp đặt lên Giáo hội. Trong một thể chế tham nhũng và thiu thiu ngủ, Thánh Têrêxa đưa vào kinh nghiệm thiêng liêng xác thực của mình. Nữ thánh nhắc nhở, trọng tâm kitô giáo là khả năng của một hành trình thiêng liêng cá nhân, đặt Chúa Giêsu vào trọng tâm đức tin: vai trò của Giáo hội là gìn giữ khó báu này.

Giải phóng phụ nữ

Một xung năng mới được các nữ tu sáng lập các nhà dòng đưa ra vào thế kỷ 19, trong đó vai trò quyết định là giải phóng phụ nữ. Cuộc Cách mạng Pháp khi buộc đóng cửa tu viện đã vô tình mở một con đường tông đồ hướng về việc dấn thân xã hội. Các nữ sáng lập gia các trường học, các viện mồ côi, các bệnh viện, các sứ mạng đã thay đổi đời sống tu trì. Họ không cần bất cứ một tuyên bố chính thức hay cho phép nào. Họ đơn giản có được tự lập kinh tế. Vì chỉ cần có bằng là được day học hay săn sóc, các nữ tu đơn sơ bắt đầu học và đi đây đi đó như các phụ nữ Comboni đi lạc đà băng qua sa mạc Sahara.

Họ không yêu cầu bất cứ điều gì, họ nhận trách nhiệm của mình, vượt xa những gì mà những người bênh vực cho nữ quyền thời đó mong muốn. Chính mối liên kết cơ bản này giữa phụ nữ và cải cách Giáo hội được làm sáng tỏ ngày nay. Trong khi cuộc khủng hoảng sâu đậm và nhiều vụ tai tiếng làm hư hại hình ảnh của linh mục, thì các nữ tu là những người được đặt đúng chỗ nhất để chống lại nạn giáo quyền.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
DẪN NHẬP Internet và mạng lưới toàn cầu (World Wide Web) là phát minh vĩ đại của nhân loại. Phát minh này có tác động lớn, làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống con người. Giống như điện thoại ở những năm 1920 và truyền hình ở những năm 1950, Internet ngày nay đã trở thành phương tiện truyền thông nổi bật và chủ yếu. Internet có một số tính năng nổi bật như: tức thời, toàn cầu, phân tán, tương tác, tiếp cận không giới hạn, linh hoạt, dễ sửa đổi và dễ thích nghi. Nó mang tính bình đẳng, theo nghĩa bất cứ ai với phương tiện và kỹ năng cơ bản cũng có thể tham gia và hoạt động trên Internet.[1] Internet trở thành trung tâm kết hợp những người cùng khuynh hướng lại với nhau. Nhờ Internet, những người thường xuyên bị loại bỏ hoặc bị tôn giáo khai trừ, đều có thể tìm đến và hội nhập dễ dàng với những cộng đoàn tâm linh trực tuyến.
Hướng về Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội (Lễ Chúa Thăng Thiên), Kitô hữu chúng ta được mời gọi tìm hiểu và suy tư về chủ đề này, hầu có thể sử dụng hợp lý phương tiện truyền thông theo tinh thần Tin Mừng. Bài viết này mang nặng tính ‘đặt móng’, với hy vọng chỉ ra một định hướng nền tảng, dưới nhãn quan Kitô giáo, cho truyền thông xã hội Việt Nam. Cụ thể, bài viết trình bày ba điểm chính: thứ nhất, lược lại bản chất và ý nghĩa truyền thông theo Kitô giáo; thứ hai, nhìn lại thực trạng truyền thông xã hội của Việt Nam hiện nay và những thách đố của nó; thứ ba, nghĩ về một định hướng căn bản để trả lời cho những thách đố đó qua việc suy gẫm về Mẹ Maria như một gương mẫu tuyệt vời của truyền thông theo tinh thần Tin Mừng.
Grentchen R.Crowe Anthony Lai dịch từ simplycatholic.com WHĐ - Dễ dàng nhận thấy rằng người Công Giáo đã quá quen với chuỗi Mân Côi. Chúng ta thường mua các tràng chuỗi làm quà kỉ niệm, hoặc mang chúng theo bên mình, hoặc thậm chí là đeo chuỗi trên người – nhưng chúng ta quên đi sức mạnh to lớn của chuỗi Mân Côi mỗi khi chúng ta thực sự cầu nguyện bằng tràng chuỗi ấy. Điều đó thật đáng buồn, vì những lời cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi có thể mang lại câu trả lời cho rất nhiều vấn đề khó khăn trong thế kỷ XXI này.
1. Thánh Mátthêu chịu tử đạo ở Êthiôpia. Người ta đã dùng gươm để giết chết ngài. 2. Thánh Máccô chết ở Alexandria, Ai cập. Người ta đã dùng những con ngựa để kéo bừa ngài qua các đường phố cho đến chết. 3. Thánh Luca bị treo cổ ở Hy Lạp vì ngài đã giảng rất hùng hồn về sự lầm lạc, hư mất. 4. Thánh Gioan chịu tử đạo bởi hình phạt bị thiêu sống trong cái bồn khổng lồ chứa đầy dầu đang sôi, trong cuộc tàn sát ở Rôma. Tuy nhiên, Ngài đã đựơc cứu sống một cách nhiệm lạ. Rồi ngài bị kết án đi đày trong các hầm mỏ ở nhà tù trên đảo Pátmô. Thánh Gioan đã viết Sách Khải Huyền tại đảo này. Sau này, Tông đồ Gioan đựơc trả tự do và trở về thi hành sứ vụ giám mục của Edessa, Thổ Nhĩ Kỳ. Ngài qua đời trong lúc tuổi già. Ngài là vị tông đồ duy nhất qua đời một cách bình an.
Phan Tấn Thành Từ lễ Phục sinh đến lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống, Kinh Truyền tin được thay thể bằng Kinh Lạy Nữ Vương Thiên đàng. Kinh này phát xuất từ đâu? Thật là một câu hỏi được đặt ra đúng thời nhân mùa đại dịch. Theo một lưu truyền, kinh này được sáng tác từ trời nhân mùa đại dịch năm 590 tại Rôma, thời đức giáo hoàng Grêgôriô Cả.
Lúc 11h ngày 12/04, ĐTC Phanxicô dâng Thánh Lễ Chúa Nhật Phục Sinh. Sau Thánh Lễ, Đức Thánh Cha đọc sứ điệp Phục Sinh và ban phép lành toàn xá urbi et orbi (cho Roma và toàn thế giới). Vatican News Tiếng Việt xin gởi đến quý độc giả toàn văn sứ điệp. Chuyển ngữ: Mai Kha, SJ - CTV Vatican News
Adalberto Sisti OFM Tóm tắt. I. Đẹp và tốt: 1. Từ ngữ; 2. Vẻ đẹp theo Kinh thánh; 3. Nguồn gốc cái đẹp. II. Phản ánh của vẻ đẹp trên thế giới: 1. Bầu trời, mặt trời và mặt trăng; 2. Thảo mộc và động vật. III. Vẻ đẹp của con người: 1. Những nhân vật và nhân tố của vẻ đẹp; 2. Hương thơm và trang điểm; 3. Những giá trị và giới hạn. IV. Vẻ đẹp những công trình của con người: 1. Nghệ thuật; 2. Đời sống. (Nguồn: Nuovo Dizionario di Teologia Biblica, Ed. Paoline, Cinisello Balsamo, 1988, 161-168. Các chú thích của người dịch) ————————
Chuyển ngữ: Phêrô Bùi Huy Ngọc Nguồn: Righetti M., “La Domenica de Passione o Domenica in Palmis”, in Storia Liturgica 2, Ancora, Milano 1969, 184-195. Chúa nhật thương khó hay Chúa nhật lễ lá. Như chúng ta đã biết, tên gọi và nguồn gốc của Chúa nhật này trong nghi lễ Roma là "Cuộc Thương Khó của Chúa", được các giáo phụ Latinh thế kỷ IV-V nhắc đến và trong một số sách phụng vụ cổ đại[1]. Sau này nó được kết hợp với những cành cọ ở đông phương, nên gọi là Dominica palmarum o in palmis - Chúa nhật Lễ lá, như chúng ta thấy trong sách lễ Gelasiano (Reg. 316), đều có cả hai cách gọi. Sau đó, nghi thức làm phép lá ở các quốc gia bên kia dãy núi Alpi đã mang đến sự nổi bật khác thường cho tên gọi này, và từ đó không có tên gọi nào khác ngoài tên này.
Trong Phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh năm nay, Tòa Thánh đã yêu cầu các linh mục trên khắp thế giới đọc thêm một lời cầu nguyện mới vào các Lời Cầu Long Trọng, và kêu gọi các ngài dâng các thánh lễ cầu nguyện cho đại dịch coronavirus sớm chấm dứt. Trước đại dịch coronavirus quá kinh hoàng đã cướp mất mạng sống của gần 50,000 người và làm gần 1 triệu người bị nhiễm bệnh, Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích đã đưa ra một ý cầu nguyện mới trong Những Lời Cầu Long Trọng.
Bên trong nhà thờ San Marcello ở Rôma có cây thánh giá bằng gỗ cổ kính được tôn kính từ thế kỷ 15 và được các học giả xem là hiện thực nhất Rôma, cây thánh giá đã sống còn sau một trận hỏa hoạn và đã cứu Rôma khỏi nạn dịch hạch và Đức Gioan Phaolô II đã ôm hôn trong một sự kiện nổi bật đánh dấu Ngày Tha thứ năm 2000. Từ con đường Corso ở Quảng trường Venezia, trên quảng trường nhỏ phía bên phải là mặt tiền ngôi nhà thờ cổ San Marcello có từ thế kỷ thứ 4, thứ 5. Nhà thờ được nhắc đến lần đầu tiên năm 418 sau khi Giáo hoàng Zosime qua đời trong một thư của Rôma gửi hoàng đế Honorius. Năm 1368 các tu sĩ Dòng kính Đức Mẹ đến đó ở và vẫn còn ở đây.
Bảo Trợ