Những người tôn sùng Đức Mẹ một cách sai lệch

25 Tháng Năm 20194:16 CH(Xem: 1160)

Những người tôn sùng Đức Mẹ một cách sai lệch 

***

blankTôi thấy có bảy loại người tôn sùng Đức Mẹ một cách sai lệch, đó là:

1. Những người phê phán,

2. Những người tính toán,

3. Những người bề ngoài,

4. Những người hợm mình,

5. những người thiếu ổn định,

6. những người giả hình,

7. những người vụ lợi.

1. Những người phê phán thường là những nhà học thức kiêu ngạo, đầu óc mạnh mẽ và tự mãn. Họ chấp nhận tôn sùng Đức Mẹ, nhưng họ lại phê phán mọi hình thức đạo đức mà những người bình dân bày tỏ một cách đơn sơ và thánh thiện lên Đức Mẹ, bởi vì những hình thức đạo đức đó không phải họ tự ý bày ra.

Loại người sùng kính sai lệch này và những người kiêu căng thật đáng sợ. Họ gây thiệt hại vô cùng cho việc sùng kính Đức Mẹ, và thúc đẫy người ta tránh xa Mẹ, với lý do là muốn diệt trừ những lạm dụng.

2. Những người tính toán là những người sợ rằng mình xem thường Chúa Con khi tôn sùng người Mẹ, là hạ Đấng này xuống khi nâng Đấng kia lên. Họ không chấp nhận cho ai dâng lên Đức Mẹ những lời ca tụng chính đáng, mà các giáo phụ đã truyền lại. Họ không chịu đựng nỗi khi thấy trước bàn thờ Đức Mẹ lại đông người hơn trước bàn thờ Thánh Thể, cứ như thể là bàn thờ này là đối thủ của bàn thờ kia, cứ như thể là ai cầu nguyện với Đức Mẹ thì không cầu nguyện với Chúa Giêsu qua Mẹ! Họ không muốn ai nhắc đến Nữ Vương trên trời, và chạy đến với Người quá thường xuyên…

3. Những người bề ngoài là những người xem toàn bộ việc tôn sùng Đức Mẹ là những việc mình chứng tỏ ra bên ngoài. Họ chỉ cảm nhận được bên ngoài việc sùng kính Đức Mẹ, vì họ không có gì trong nội tâm. Họ đọc rất nhanh và rất nhiều chuỗi mân côi, đi xem nhiều lễ mà không cần cầm trí, đi mọi cuộc rước kiệu mà không cần sốt sắng, gia nhập mọi hội đoàn mà không dấn thân hy sinh sự sống của mình, không chống trả lại mọi đam mê và không noi gương Đức Mẹ chí thánh. Họ chỉ ưa thích những gì làm cảm động trong công việc sùng kính, mà không cảm nếm cái cốt lõi; nếu họ không cảm thấy gì trong khi làm việc đạo đức, họ cho rằng mình không làm gì cả, họ rút lui, họ buông xuôi và làm việc chiếu lệ. Thế giới này đầy dẫy những người tôn sùng Đức Mẹ một cách hời hợt bên ngoài như thế.

4. Những người hợm mình là những người tội lỗi buông mình theo đam mê, hoặc những người yêu mến thế gian, những người nấp dưới danh nghĩa công giáo và sùng kính Đức Mẹ che dấu tính kiêu ngạo, hay hà tiện, hay dâm ô, hay say sưa, hay nóng giận chửi bới, hay nói hành, hay bất công, v.v. Họ ngủ yên trong thói quen xấu xa của mình, mà không cố gắng sửa sai, lấy cớ rằng mình đã tôn sùng Đức Mẹ. Họ tự nhủ rằng Chúa sẽ tha thứ cho họ, họ sẽ không chết bất đắc kỳ tử mà chưa kịp xưng tội, và họ sẽ không bị án phạt đời đời; vì họ lần hạt đều đặn, vì họ ăn chay ngày thứ bảy; vì họ thuộc hội đoàn Mân Côi hay Áo Đức Bà, hay một hội đoàn nào khác; vì họ mặc áo Đức Bà hay một ảnh vảy Đức Mẹ, v.v. Khi ta bảo rằng lối sùng đạo của họ chỉ là một ảo tưởng do ma quỷ vẽ ra và một sự hợm mình sai lệch có thể làm cho họ mất sự sống đời đời, họ không muốn tin ta nữa: Họ bảo rằng Thiên Chúa thì nhân lành và đầy lòng thương xót, rằng Người không sinh ra ta để phạt ta đời đời, rằng không ai là không có tội, rằng mình không thể nào chết đi mà không kịp xưng tội.

5. Những người thiếu ổn định là những người tôn sùng Đức Mẹ một cách chập chờn: lúc thì sốt sắng lúc thì nguội lạnh, lúc thì họ có vẻ sẵn sàng làm mọi việc để phục vụ Mẹ, rồi chẳng bao lâu sau, họ trở thành dửng dưng. Họ khởi sự bằng cách thực thi mọi việc đạo đức tôn sùng Đức Mẹ; họ gia nhập các hội đoàn; thế rồi họ bỏ cuộc giữa chừng; họ thay đổi xoành xoạch, và Đức Mẹ sẽ đặt họ dưới chân Người, như Mẹ từng đạp lên nửa vầng trăng, vì họ hay thay đổi và không xứng được xếp vào hàng ngũ những tôi tớ của Đấng Trinh Nữ muôn đời trung tín, những người trung thành và bền đổ để xứng đáng được chia sẻ.

6. Có một hạng tôn sùng sai lệch khác là những kẻ giả hình.Họ che lập tội lỗi và thói quen xấu của mình dưới lớp áo của Đức Mẹ, hầu cho mọi người nghĩ rằng mình mình tốt lành trong khi thật sự thì không.

7. Còn một hạng tôn sùng sai lệch nữa là những kẻ vụ lợi. Họ chỉ chạy đến với Đức Mẹ để xin thắng một vụ kiện, để tránh khỏi một hiểm nguy, để được lành một căn bệnh, hoặc để được đáp ứng một nhu cầu đại loại như thế. Và nếu không cần đến Mẹ thì họ quên Người mất.

Những người kể trên là những người tôn sùng giả hiệu, và họ không xứng đáng trước mặt Chúa cũng như trước mặt Mẹ Người.

Thánh Louis-Marie Grignion de Montfort

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Người Việt Nam chúng ta có truyền thống nhớ về tổ tiên rất tốt đẹp. Riêng với người Công giáo, truyền thống này lại được thể hiện cách đặc biệt trong Tháng Mười Một, tháng Giáo Hội hướng về việc cầu nguyện cho các linh hồn đã qua đời. Nhưng nhiều người hiện nay, nhất là người trẻ, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa duy lý, có thể đặt câu hỏi: tại sao tôi phải làm vậy? Liệu có ích gì khi phải thực hành một truyền thống nào đó? Vì thế, thiết tưởng việc suy tư về ý nghĩa và giá trị của hành vi kính nhớ tổ tiên là điều cần thiết. Ở đây, tôi chỉ giới hạn phần suy tư này vào một khía cạnh, với câu hỏi sau: liệu chúng ta có thể tương tác với tổ tiên đã qua đời của mình hay không? Khắc Bá, SJ
Ngày nay, việc đề cập tới sự hiện diện của các tín hữu Công giáo trên internet vô cùng quan trọng. Vài năm trước, truyền hình và đài phát thanh đã là những phương tiện phổ biến của truyền thông. Nhưng hiện nay, nó không còn tách biệt mà đã hoà thành một: internet.
Quý vị và anh chị em đang theo dõi Lễ Tuyên Thánh cho 5 vị Chân Phước diễn ra tại quảng trường Thánh Phêrô vào sáng Chúa Nhật 13 tháng 10, tức là Chúa Nhật thứ 28 mùa Thường Niên trong khuôn khổ Thượng Hội Đồng Toàn Vùng Amazon. Bây giờ là gần 10h sáng. Chúng tôi ghi nhận hàng trăm ngàn tín hữu đang đứng chật quảng trường Thánh Phêrô để tham dự thánh lễ long trọng này.
Nhiều tập tài liệu do Hội Giáo hoàng Truyền giáo gửi đến các giáo phận và giáo xứ để cổ động cho “tháng 10 truyền giáo”? Tại sao tháng 10 gọi là tháng “truyền giáo”? Tháng 10 không phải là tháng dành kính Đức Mẹ Mân côi hay sao? Việc dành tháng 10 làm “tháng truyền giáo” là một sáng kiến của Hội Truyền bá đức tin ở Italia, và có lẽ chỉ mới được quảng bá trong một vài quốc gia mà thôi. Nói chung, tại nhiều nơi trên thế giới, tháng 10 được dành kính Đức Mẹ Mân côi. Tuy lúc đầu là một sáng kiến cá nhân, nhưng kể từ năm 1883 (thông điệp Supremi apostolatus) đức thánh cha Lêô XIII đã chính thức phê chuẩn tập tục dâng kính tháng 10 để đọc kinh Mân côi. Nhiều vị giáo hoàng cũng xác nhận tập tục đó.
PGS.TS. Nguyễn Tấn Hùng, Đại học Đà Nẵng Tạp chí Triết học số 01 tháng 01 -2010 - Bài viết của tôi “Về một số thuật ngữ triết học, chính trị-xã hội có nguồn gốc từ tiếng nước ngoài” đăng trên Tạp chí Triết học, số 4, 4-2009 đã được một số trang web đăng lại. Bài viết đã nhận được nhiều ý kiến nhận xét của độc giả, khen nhiều nhưng chê thì cũng có. Nhìn chung các độc giả hoan nghênh và khuyến khích tôi tiếp tục nghiên cứu vấn đề này. Trong bài viết này tôi đi sâu hơn về các thuật ngữ chỉ tên và hình thức nhà nước; cách đặt tên của các học thuyết, trường phái, qua đó làm rõ nguồn gốc của chúng, chỉ ra một số bất cập trong việc phiên dịch các thuật ngữ này trong tiếng Việt. Tuy biết rằng không thể thay đổi những thuật ngữ đã quá quen thuộc trong tiếng Việt, nhưng việc tìm hiểu nguồn gốc,
Để kết thúc những những bài thuyết trình của khóa bồi dưỡng lần trước, một người Pháp được mời để nói về Việt Nam. Việc làm này thật là tham vọng và có vẻ như là không phù hợp. Đáng lẽ ra, nên mời một người Việt, vì chỉ người này mới biết rõ tình trạng xã hội địa phương và có khả năng ngôn từ diễn tả tốt hơn.
Chúng tôi xin trình bày bốn điểm: 1/ Khái niệm, xét theo ngôn ngữ thông thường và trong lịch sử đời tu. 2/ Kinh thánh. 3/ Giá trị. 4/ Thực hành. I. Ý nghĩa Có người định nghĩa “khó nghèo” là “khó mà nghèo”. Thiết tưởng điều khó khăn không chỉ nằm ở chỗ thực hành, mà ngay từ quan niệm: Nghèo là gì ? Thế nào là nghèo ? Tại sao phải sống nghèo ? Trước hết, chúng ta hãy điểm qua vài ý niệm sơ đẳng về cái nghèo. Kế đó, chúng ta sẽ rảo qua những quan niệm khác nhau của các Dòng tu về lời khuyên nghèo khó.
Trải qua lịch sử tu trì trong Giáo hội, ta thấy có rất nhiều hình thức thực hiện việc cầu nguyện, sự khó nghèo, sự tuân phục, đời sống cộng đồng. Tuy nhiên, tính cách đa dạng xem ra không áp dụng cho vấn đề khiết tịnh: thực vậy, phàm ai đã đi tu thì phải khước từ hôn nhân. Nghĩa vụ tối thiểu này bó buộc tất cả các tu sĩ thuộc bất cứ Dòng nào. Tuy nhiên, nếu nhìn dưới nghĩa vụ pháp lý thì lời khuyên khiết tịnh quả là bất biến trải qua giòng lịch sử; nhưng nếu xét tới các động lực và lý thuyết thì nói được là khá đa dạng.
Chúng ta đã điểm qua những văn kiện của Giáo hội về đời sống tu trì. Lý tưởng đời tu được định nghĩa qua ba thuật ngữ: đi theo Đức Kitô, thánh hiến, đặc sủng. Ba thuật ngữ này dựa trên căn bản của Tân ước, nhắm nêu bật mối tương quan giữa đời tu trì với Thiên Chúa Ba ngôi: Thiên Chúa kêu gọi con người hãy theo gương Đức Kitô dâng hiến trót đời để phụng sự Nước Trời; con người ý thức ơn gọi ấy và đáp trả nhờ đặc sủng của Thánh Linh. Lý tưởng tổng quát được diễn tả cụ thể qua việc tuyên giữ ba lời khuyên Phúc âm. Đây là đặc trưng của sự thánh hiến của các tu sĩ, khác với những sự thánh hiến khác trong Giáo hội, như tông huấn Vita consecrata đã trình bày ở số 30. Nói khác đi, ba lời khuyên Phúc âm là yếu tố cốt yếu của đời thánh hiến.
L.M. Gustavo Gutierrez O.P. (Trích Thời sự Thần học, số 56, tháng 5/2012) Trong bài này, cha Gustavo Gutierrez phân tích quan điểm “lựa chọn người nghèo” từ ba khía cạnh: tâm linh, thần học và loan báo Tin mừng. Nguồn: “The option for the poor arises from faith in Christ” in: Theological studies, 70(2009) 317-326. Bản dịch tiếng Việt của Phêny Ngân Giang. Những chú thích của tác giả được đặt ở cuối bài (endnote), những chú thích của dịch giả được đặt ở cuối trang (footnote). ————————– Vào tháng 5 năm 2007 đã diễn ra Hội nghị các Giám mục Châu Mỹ Latinh và Caribê lần thứ năm tại Aparecida, Brazil. Đại hội này đã nhiều lần khẳng định tiếp tục đường hướng mục vụ và thần học đã được mở ra trong những năm của Công đồng Vaticanô II và Hội nghị các Giám mục lần thứ hai họp tại Medellín, Colombia (1968).
Bảo Trợ