Tiết Dục Bảo Vệ Phẩm Giá Của Hành Vi Vợ Chồng

23 Tháng Chín 201710:17 CH(Xem: 903)
Thần học về Thân xác của đức Gioan Phaolô II:
CXXIV
TIẾT DỤC BẢO VỆ PHẨM GIÁ CỦA HÀNH VI VỢ CHỒNG

hon_nhan
(Ngày 24 tháng 10 năm 1984)

1. Như đã báo trước, hôm nay chúng ta sẽ phân tích nhân đức tiết dục.

«Tiết dục», thuộc một một nhân đức tổng quát hơn đó là tiết độ, hệ tại ở khả năng làm chủ, kiểm soát và qui hướng các xung năng tính dục (dục vọng xác thịt) và những hệ quả của chúng, vào con người chủ thể tâm-thể-lí. Khả năng ấy, xét như tâm hướng thường xuyên của ý chí ta, xứng đáng được gọi là một nhân đức.

Chúng ta đã biết từ những phân tích trước đây rằng dục vọng xác thịt, và «ước muốn» tính dục liên hệ được khơi dậy từ đó, được biểu lộ bằng một xung động đặc biệt thuộc phản ứng thể xác và hơn nữa bởi một sự kích thích tâm lí – tình cảm của xung năng tình dục.

Con người chủ thể để có thể làm chủ được xung năng và kích động ấy phải dấn mình vào một cuộc tự đào luyện dần dần biết kiểm soát ý chí, tình cảm, cảm xúc của bản thân, những cái đó cần phải được thể hiện ra bắt đầu từ những hành vi đơn sơ nhất, vốn từ đó những quyết định trong lòng rất dễ biến thành hành động. Điều đó, hiển nhiên giả thiết phải có một nhận thức rõ ràng các giá trị biểu lộ ra nơi lề luật, và một sự trưởng thành từ đó trong những xác tín vững chắc, vốn là nguồn gốc phát sinh ra nhân đức tương ứng, nếu có kèm theo một ý chí sẵn sàng hành động phù hợp. Đó chính là nhân đức tiết độ (tự chủ), biểu lộ ra như điều kiện cơ bản, vì để cho ngôn ngữ thân xác hai vợ chồng dùng để trao đổi với nhau được ở mãi trong sự thật, và vì để cho đôi vợ chồng «phục tùng lẫn nhau trong niềm kính sợ Đức Kitô», theo lời Thánh Kinh.[1] «Việc tùng phục lẫn nhau» này có nghĩa là một sự quan tâm chung đến sự thật của «ngôn ngữ thân xác»; trái lại, tùng phục «trong sự kính sợ Đức Kitô» chỉ ơn kính sợ Thiên Chúa (một ơn của Chúa Thánh Thần) đi kèm theo nhân đức tiết độ.

2. Điều này rất quan trọng để hiểu cho đúng nhân đức tiết độ và, cách riêng điều gọi là «sự tiết dục định kì», mà Thông điệp «Humanae Vitae» nói tới. Xác tín rằng nhân đức tiết độ thì «nghịch» cùng dục vọng xác thịt là đúng, nhưng không hoàn toàn đầy đủ. Không đầy đủ, đặc biệt là khi chúng ta xem xét sự kiện nhân đức này không thể hiện cũng không hoạt động một cách trừu tượng và đơn độc, nhưng luôn luôn trong sự kết hợp với các nhân đức khác (nexus virtutum), như khôn ngoan, công bình, dũng cảm, và nhất là với đức bác ái.

Dưới ánh sáng của những khảo sát này, dễ hiểu rằng sự tiết dục không giới hạn chỉ ở chỗ chống lại dục vọng xác thịt, nhưng, qua sự chống chọi này ta cũng mở lòng ra với các giá trị sâu xa hơn, chín chắn hơn, những giá trị gắn liền với ý nghĩa hôn phối của thân xác người nam và người nữ, cũng  như gắn liền với sự tự do thật sự của tặng phẩm dâng hiến giữa hai ngôi vị cho nhau. Dục vọng xác thịt tự nó, vì tìm kiếm trên hết sự thỏa mãn khoái lạc xác thịt dâm đãng, làm cho con người theo nghĩa nào đó mù quáng và dửng dưng với các giá trị sâu xa hơn, vốn xuất phát tự tình yêu và đồng thời cũng cấu thành tình yêu trong sự thật nội tại của nó.

3. Bằng cách đó, đặc tính cốt yếu của đức khiết tịnh vợ chồng còn được bộc lộ trong mối liên kết của nó với «sức mạnh» của tình yêu được đổ tràn vào lòng đôi vợ chồng nhờ việc «thánh hiến» của bí tích hôn nhân. Hơn nữa, cũng hiển nhiên, lời mời gọi hướng đến đôi vợ chồng hãy «phục tùng lẫn nhau trong niềm kính sợ Chúa Kitô»,[2] dường như mở ra không gian nội tâm trong đó cả hai người mỗi ngày một nhạy cảm hơn với các giá trị sâu xa hơn và chín chắn hơn, những giá trị vốn được nối kết với ý nghĩa hôn phối của thân xác và sự tự do thật của tặng phẩm dâng hiến.

Nếu đức khiết tịnh vợ chồng (và khiết tịnh nói chung)  bộc lộ trước hết như là khả năng kháng cự lại dục vọng xác thịt, thì sau đó dần dần tỏ lộ như là một khả năng riêng về nhận thức, yêu mến và thực hiện các ý nghĩa ấy của «ngôn ngữ thân xác», những ý nghĩa ấy dục vọng vẫn còn hoàn toàn chưa biết đến và chúng dần dà làm phong phú thêm cho cuộc đối thoại vợ chồng, bằng cách thanh luyện cuộc đối thoại, làm cho nó đi vào chiều sâu và đồng thời biến nó nên đơn sơ hơn.

Bởi thế, sự khổ chế qua tiết dục, mà Thông điệp[3] nói đến, không làm nghèo nàn đi «những biểu lộ tình cảm», mà đúng hơn làm cho những biểu lộ ấy đậm đà tâm linh hơn, và vì thế mà làm phong phúchúng hơn.

4. Phân tích sự tiết độ theo cách thức đó, trong cái năng động riêng của nhân đức này (về mặt nhân học, đạo đức học và thần học), chúng ta nhận thấy không còn xuất hiện «sự mâu thuẫn» bên ngoài nữa, sự mâu thuẫn mà Thông điệp «Humanae Vitae» và đạo lí của Hội Thánh về luân lí hôn nhân thường hay bị đả kích. Theo những người phản đối thì có «mâu thuẫn» giữa hai ý nghĩa (kết hợp và sinh sản) của hành vi vợ chồng[4], vì nếu tách biệt chúng ra hai vợ chồng sẽ không có quyền giao hợp nữa khi họ không thể sinh sản một cách có trách nhiệm được nữa.

Về vẻ «mâu thuẫn» này, nếu ta nghiên cứu sâu, Thông điệp «Humanae Vitae» có nêu lên câu trả lời.Đức Giáo hoàng Phaolô VI, quả thật, xác nhận không có «mâu thuẫn» mà chỉ có một «khó khăn» gắn liền với toàn thể tình trạng nội tâm của «con người của dục vọng». Ngược lại, chính vì lí do của nỗi «khó khăn» ấy, mà đời sống chung của đôi vợ chồng, với ý chí kiên trì sống tiết độ, có được an ổn là nhờ cậy đến ân sủng của bí tích hôn phối vốn «thêm sức và gần như là thánh hiến»[5] đôi bạn.

5. Hơn nữa hôn nhân an ổn có nghĩa là có một sự hòa hợp chủ quan giữa việc làm cha làm mẹ (có trách nhiệm) và sự hiệp thông các ngôi vị, một hiệp thông được xây dựng bởi đức khiết tịnh hôn nhân. Quả thật, trong đức khiết tịnh hoa quả của sự tiết độ chín muồi dần trong tâm hồn. Nhờ sự chín muồi những hoa quả trong tâm hồn đó mà chính hành vi vợ chồng đạt được tính cách quan trọng và phẩm giá của nó trong ý nghĩa hướng tới sinh sản; đồng thời tất cả «những biểu lộ tình yêu»[6], vốn được dùng để bày tỏ sự hiệp thông nhân vị giữa vợ chồng tương ứng với sự dị biệt phong phú giữa người nam và người nữ của từng đôi bạn, mới có được ý nghĩa thích đáng.

6. Phù hợp với kinh nghiệm và truyền thống, Thông điệp mạc khải hành vi vợ chồng cũng là một «biểu lộ tình yêu»,[7] nhưng là một «biểu lộ tình yêu» đặc biệt, bởi lẽ, nó đồng thời còn có ý nghĩa hướng tới sinh sản. Do đó, hành vi vợ chồng hướng đến biểu lộ sự hợp nhất ngôi vị, nhưng không chỉ duy có như thế. Mà đồng thời Thông điệp còn chỉ, dù cách gián tiếp, nhiều thứ «biểu lộ tình yêu», sinh hiệu quả chỉ để diễn tả sự kết hợp nhân vị của vợ chồng.

Nhiệm vụ của đức khiết tịnh hôn nhân, hay nói chính xác hơn, nhiệm vụ của đức tiết độ không chỉ hệ tại ở việc bảo vệ tính cách quan trọng và phẩm giá của hành vi vợ chồng trong tương quan với ý nghĩa hướng tới sinh sản của nó, mà còn bảo vệ tính cách quan trọng và phẩm giá vốn có của hành vi này xét như là nó diễn tả sự kết hợp liên vị, bằng cách tỏ lộ cho tâm thức và kinh nghiệm của các đôi vợ chồng tất cả những thứ «biểu lộ tình yêu» khác có thể có muốn diễn tả sự hiệp thông sâu xa đó giữa họ.

Thật ra, vấn đề ở đây là không làm tổn hại đến sự hiệp thông của vợ chồng cả trong trường hợp khi vì những lí do đúng đắn họ phải kiêng hành vi giao hợp vợ chồng. Và, hơn nữa, sự hiệp thông ấy được xây dựng không ngừng, ngày này qua ngày khác, qua những «biểu lộ tình yêu» thích hợp, phải tạo thành một mảnh đất lớn, trên đó khi có điều kiện phù hợp chín muồi quyết định làm hành vi giao hợp vợ chồng hợp luân lí.

 



[1] Ep 5,21.

[2] Ibid.

[3] Cfr. Pauli VI, Humanae Vitae, 21.

[4] Cfr. ibid. 12.

[5] Cfr. Pauli VI, Humanae Vitae, 25.

[6] Ibid. 21.

[7] Ibid. 16.

Lm. Luy Nguyễn Anh Tuấn chuyển dịch

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Đặng Tự Do - Một giám mục ở tiểu bang New Mexico đã đưa ra một bản báo cáo cập nhật về cuộc điều tra của giáo phận liên quan đến một bức tượng Đức Mẹ dường như tiếp tục chảy nước mắt trong nhiều tháng qua.
TRUYỀN THÔNG KITÔ GIÁO TRONG VIỆC QUẢNG BÁ VÀ THỰC HÀNH HỌC THUYẾT XÃ HỘI CÔNG GIÁO Thuyết trình viên: Lm. Phêrô Tạ Anh Vũ 1. Những Khái Niệm Cơ Bản 1.1 Truyền Thông Để giải quyết một vấn đề chúng ta trước hết phải biết gọi tên vấn đề đó, sau đó chúng ta phải có khả năng hiểu được vấn đề. Với cách thức này chúng ta tiếp cận vấn đề được đặt ra và tìm tòi những phương cách để giải quyết nó. Vì thế, trước hết chúng ta cần có một định nghĩa về truyền thông. Trên phương diện xã hội học, có rất nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những định nghĩa khác nhau về truyền thông tùy thuộc vào bối cảnh và góc độ các nhà nghiên cứu đó
Đức Phanxicô dành một phần lớn trong triều giáo hoàng của mình để tố cáo nạn giáo quyền trong Giáo hội. Nhưng chính xác chủ nghĩa giáo quyền là gì? Sau các vụ lạm dụng của các giáo sĩ bị tai tiếng nặng nề, chúng ta thấy rất nhiều câu trả lời cũng như suy nghĩ của giáo sĩ cũng như giáo dân, kể cả của Đức Giáo hoàng. Trong thư gởi Dân Chúa về cơn khủng hoảng hiện nay, thêm một lần nữa, Đức Phanxicô tố cáo một trong các yếu tố chính của cơn khủng hoảng này: nạn chủ nghĩa giáo quyền. Đây là một trong những từ mà trong các câu chuyện ở nhà thờ người ta hay nhắc đến.
DÀN BÀI - Phá thai chọn lọc [avortement sélectif]: một tai họa ngày càng phổ biến tại Việt Nam - Thế tục hóa xã hội Việt Nam và việc đẩy lùi những giá trị truyền thống - Sự phân định (discernement) về trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm tập thể - Đức Gioan-Phaolô II: Phá thai hay việc kẻ mạnh thống trị người yếu - Lời chất vấn của Đức Gioan-Phaolô II đối với nạn phá thai chọn lọc - Cuộc tranh luận về tế bào gốc phôi : Phôi, biểu tượng của những gì dễ bị tổn thương nhất - Phôi đã trở thành biểu tượng của những điều dễ bị thương tổn nhất - Những phân biệt phải có trước khi đề cập đến đề tài nghiên cứu về tế bào phôi? - Những lưu ý về phương pháp của nhà thần học luân lý công giáo - Đâu là những giá trị chúng ta sẽ cùng chia sẻ để thực hiện những phân biệt đó ?
Giáo hội cần đón tiếp các đôi chuẩn bị hôn nhân và đồng thời trình bày quan điểm rõ ràng về bí tích này. ĐHY Vicent Nichols, Giám mục Westminster, Anh quốc, đã nhấn mạnh điều này trong bài thuyết trình tại đại hội các gia đình thế giới.
Chân phước Anna Maria Taigi người bảo trợ các bà mẹ và gia đình là bằng chứng cho thấy hôn nhân là một con đường dẫn đến sự thánh thiện. Anna Maria Taigi tin rằng hôn nhân là một trong những nhiệm vụ vĩ đại nhất đến từ Thiên Chúa
Công đồng Vaticanô II, được gọi là Công Đồng của Chúa Thánh Thần. Công đồng được Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII triệu tập trong bối cảnh Giáo Hội đang ở trong sự “an toàn” của một cơ cấu phẩm trật “cứng nhắc”; trong khi thế giới thì đang xảy ra những cuộc chiến tranh tàn khốc, cũng như con người chưa được nhìn nhận đúng với nhân phẩm của mình…
Peter N.V. Hai Tóm tắt: Bài này khảo sát khuôn mẫu của các mô hình Giáo hội học được Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu (FABC) đề nghị như một cách thức hiện diện mới mẻ cho Giáo hội tại Á Châu. Nó cũng khảo cứu những nền tảng thần học và những nét đặc trưng đáng lưu ý của Giáo hội học của Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu, và đưa ra lượng định về những điểm mạnh cũng như các giới hạn của nó. Nguồn: “Models of the Asian Church”. Australian ejournal of Theology 18.1 (April 2011). Nguyễn Hoàng Vinh dịch.
Lập trường luân lý của thánh Tôma Aquinô được đặc biệt khuyến khích bởi huấn quyền của Giáo hội, đặc biệt cho việc đào tạo trở thành linh mục. Những nguyên lý chính yếu của nền luân lý này cũng đã được hội nhập vào giáo huấn chung của đức tin, như từng thấy ngày nay trong sách Giáo Lý của Giáo hội Cong giáo. Mới đây người ta còn tái khám phá trong các môi trường đại học của giáo dân mối quan tâm về một nền luân lý các nhân đức làm cân bằng lại nền đạo đức vụ luật như kiểu luân lý của triết gia Kant[1].
Trong thời gian gần đây, khi nói về việc sống đạo hay nói một cách khác việc thực hành đạo của các Kitô hữu ở châu Âu chúng ta thường nghe nói về con số người Kitô hữu đến nhà thờ giảm sút; tình trạng những người đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội nhưng không bao giờ tham gia vào các nghi lễ phụng vụ, không thuộc những lời kinh đơn giản, nội dung giáo lý căn bản của đạo, nói chung là họ chỉ mang danh là Kitô hữu trên giấy tờ, chỉ ở mặt hình thức
Bảo Trợ