Danh Xưng Bá Đa Lộc

29 Tháng Bảy 201712:41 SA(Xem: 919)

Danh xưng Bá Đa Lộc

blank

WGPSG/NSTM -- Vào một ngày kia khi tôi đang đi dạo, có người hỏi “Bá Đa Lộc là ai vậy?” Tôi trả lời “Đó là tên thánh Phêrô đọc theo âm Hán Việt.” Người ấy lại hỏi “Tên gọi Phêrô trong cổ ngữ Latinh của Giáo Hội là Petrus, chỉ có hai âm tiết, vậy tại sao lại dịch thành Bá Đa Lộc với ba âm tiết?” Tôi xin mạo muội tìm hiểu ý nghĩa chuyển ngữ của tiền nhân về tên của Vị Tông Đồ Tảng Đá.

Trong lịch sử Việt Nam thời phong kiến, vào những năm giữa thế kỷ thứ XVIII, có một vị giám mục có sức ảnh hưởng lớn trong triều đại của Nguyễn Vương Nguyễn Phúc Ánh giai đoạn từ năm 1776 cho đến năm 1799, đó là Đức cha Pierre Joseph Georges Pigneau de Béhaine, thường viết là Pigneau de Béhaine (Pi-nhô đờ Bê-hen) (sinh 02/02/1741, tạ thế 09/10/1799), tên Hán Việt gọi ngài là Đức cha Bá Đa Lộc hay còn gọi là Cha Cả. “Cha Cả” là tiếng dân miền Nam dùng để gọi Đức cha Bá Đa Lộc cách thân mật.

Trong thời gian ở Pondichéry vùng đông nam Ấn Độ trong vịnh Bengale, ngài trau dồi ngoại ngữ và trở nên thông thạo cả tiếng Việt lẫn tiếng Hoa. Năm 1771, ngài được Đức Giáo hoàng Clêmentê XIV tấn phong làm Giám mục Hiệu toà Adran, nên các sách sử cũng thường gọi ngài là Giám mục Adran, đồng thời ngài được bổ nhiệm làm Giám mục Tông toà, phụ tá cho Đức cha Guillaume Piguel. Năm 1773, ngài đã biên soạn một bộ từ điển là Việt-Latinh “Dictionarium Anamitico-Latinum”, và sau đó được Đức cha Jean Louis Taberd xuất bản năm 1838.

Vào cuối năm 1799, Đức cha Bá Đa Lộc tạ thế, Nguyễn Vương Nguyễn Thế Tổ sắc phong ngài là Thái Tử Thái Phó Bi Nhu Quận Công (太子太傅悲柔郡公), thụy là Trung Ý (忠懿), danh hiệu Bi Nhu

là phiên âm từ “Pigneau” trong tên của ngài, còn Quận Công là chức tước[1].

Trong sách sử có ghi lại rằng các giáo dân bản xứ nước Nam xưng gọi Đức cha Pierre Lambert de la Motte theo tên thánh của ngài là Đức thầy cả Vê-tô-rô[2]. Còn danh nhân Petrus Trương Vĩnh Ký thì gọi Đức cha Bá Đa Lộc là Đức thầy Vê-rô[3].

Người Việt biết đến ngài với tên Bá Đa Lộc (伯多祿[4]) vì tên rửa tội tiếng Pháp của ngài là Pierre, tiếng Latinh là Petrus, tiếng Bồ Đào Nha là Pedro, và tên Bá Đa Lộc được đơn âm hoá từ “Pedro” trong tiếng Bồ Đào Nha. Theo quyển “Lettre edifiantes et curieus écrites Des Missions étrangères: Mémoires de la Chine”, có đoạn lịch sử ghi lại rằng, người Hoa đã đọc từ “Pedro” trong tiếng Bồ Đào Nha thành từ “Pe-to-lo”[5] (đây là cách viết phiên âm ba âm tiết bằng tiếng Pháp của tác giả trong bản văn nêu trên, do ảnh hưởng của tiếng Pháp trên từ Petrus với phụ âm “t” nên phiên âm thành “Pe-to-lo”; vì thế, không dựa vào giá trị này để nghiên cứu, giải thích từ ngữ).

Cách phát âm từ “Pedro” chỉ hai âm tiết là “pe” và “dro” với một tổ hợp phụ âm “dr”. Âm tiết “pe” được đọc thành “bó” (âm đọc phiên âm Latinh theo Hán ngữ), còn âm tiết “dro” thì do Hán ngữ không có tổ hợp phụ âm “dr” nên phải tách ra thành hai phụ âm “d” và “r”. Phụ âm “d” được đọc theo nguyên âm “o” của âm tiết “dro” để thành “duō” (âm đọc phiên âm Latinh theo Hán ngữ), và Hán ngữ cũng không có phụ âm “r”, nên phụ âm “r” được chuyển thành phụ âm “l” và cũng được đọc theo nguyên âm “o” của âm tiết “dro” để thành “lù” (âm đọc phiên âm Latinh theo Hán ngữ). Theo nghiên cứu về cách phát âm thực tế của người Hoa cho thấy, họ không thuận lợi phát âm chữ “r” trong bảng chữ cái Latinh của ngoại ngữ.

Như vậy, do âm tiết “dro” phát âm không được, nên họ đã đọc tách thành hai âm tiết là “duō-lù”. Cách đọc từ “Pedro” vốn hai âm tiết thành từ “bó-duō-lù” mang ba âm tiết theo sự hiểu biết và cách lý giải của họ về ngôn ngữ lúc bấy giờ. Và khi chuyển dịch từ “bó-duō-lù” này sang chữ Hán, họ đã đặt chữ theo cách ghi âm đồng thanh tương đương thành chữ 伯多祿 (âm Hán Việt là Bá Đa Lộc) mà Giáo Hội Trung Hoa ngày nay vẫn đang sử dụng khi nói đến Vị Tông Đồ Trưởng Phêrô[6]. Cách đọc theo âm Quan Thoại của ba chữ Hán này là “bó-duō-lù”[7], hay theo âm Quảng Châu bằng tiếng Anh là “paàk-toh-lûk”[8], hoặc theo âm Quảng Đông bằng tiếng Việt là “pak-tó-lục”. Lúc đầu thì tiêu chí đặt những chữ này chủ yếu hướng giá trị về mặt ngữ âm, đọc làm sao cho giống với âm của nguyên ngữ gốc nhất, còn về mặt nghĩa của chữ chỉ là phần phụ.

Tuy nhiên, trong nghĩa của chữ, người chuyển dịch vẫn muốn thể hiện điều ý nghĩa, may mắn tốt lành nhất có thể theo quan niệm về đặt tên trong truyền thống của người Trung Hoa.

Ý nghĩa của chữ BÁ, ĐA và LỘC[9]

Bá (伯): [1] anh cả, anh trưởng; [2] tước bá, trong đời xưa là tước thứ ba trong năm tước: Công, Hầu, Bá, Tử, Nam.

Đa (多): [1] nhiều; [2] khen tốt, dôi ra, thừa ra; [3] ngoài, hơn.

Lộc (祿): [1] phúc, tốt lành; [2] bổng lộc; [3] thiên lộc.

Vậy ta có thể hiểu hàm ý chuyển dịch từ Bá Đa Lộc (伯多祿) cho tên của thánh Phêrô trong tiếng Bồ Đào Nha nhằm nói lên niềm khao khát sự viên mãn (Bá Đa) phúc lành (Lộc), và vị trí hàng đầu của ngài trong vai trò là Vị Tông Đồ Trưởng, được Chúa Giêsu chọn đích danh, làm nền móng dựng xây Hội Thánh của Người, ngài là Vị Tông Đồ nhiều diễm phúc hơn tất cả các Tông Đồ khác trong Nhóm Mười Hai (x. Mt 16,17-18). Nhưng ngài cũng phải gánh vác trọng trách lèo lái Hội Thánh lữ hành và chăn dắt, chăm sóc đoàn chiên của Chúa (x.Ga 21,15).

Ngoài ra trong Hoa ngữ còn dùng từ Bá Đạc (伯鐸) để dịch tên thánh Phêrô. Từ Bá (伯) nói lên vai trò Huynh Trưởng của thánh Phêrô trong Tông Đồ đoàn, từ Đạc[10](鐸) có nghĩa là cái chuông, là từ viết tắt của Tư Đạc (司鐸)[11].

Bá Đạc (伯鐸) có nghĩa là cái chuông trưởng (chuông chính) reo lên để cảnh tỉnh mọi người, hãy canh tân bản thân và đón nhận Tin Mừng của Thiên Chúa qua cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa Giêsu Kitô để được ơn cứu độ. Bá Đạc cũng có thể hiểu là người đứng đầu hàng giáo sĩ.

Trong các bản văn Công giáo Việt Nam, hầu hết là phiên âm Latinh, rất ít trường hợp chuyển qua phiên âm Hán ngữ. Do trong Việt ngữ, phụ âm “p” không trực tiếp đi với nguyên âm mà chỉ có tổ hợp phụ âm “ph” nên âm tiết “pe” được chuyển thành “phê”, tổ hợp phụ âm “dr” cũng không có, nên được chuyển thành phụ âm “r”, âm tiết “dro”được chuyển thành “rô”. Vì vậy, từ Pedro được phiên âm Latinh theo Việt ngữ là Phê-rô.

Tại Việt Nam từ Bá Đa Lộc gọi theo cách chuyển dịch Hán Việt không phổ biến để nói đến tên của thánh Phêrô, nên trong cách bản dịch Thánh Kinh hay các ấn bản sách Công giáo đều dịch tên ngài là Phê-rô. Khi nhắc đến từ Bá Đa Lộc, các nhà nghiên cứu lịch sử văn hoá Việt Nam trong hay ngoài Công giáo đều nghĩ ngay đến Đức cha Pierre Joseph Georges Pigneau de Béhaine, và dường như một cách đặc biệt nào đó, danh xưng Bá Đa Lộc đã thuộc về ngài và được các sách sử Việt Nam ghi nhận. Còn ở tất cả các quốc gia Công giáo sử dụng Hoa ngữ, cho đến ngày nay vẫn đang sử dụng thuật từ Bá Đa Lộc (伯多祿) hay Bá Đạc (伯鐸) để gọi tên Vị Tông Đồ Trưởng Phêrô, người được Chúa trao nhiệm vụ Mục Tử đứng đầu toàn thể Hội Thánh lữ hành, và là đấng đang nắm giữ chìa khoá Nước Trời[12].


[1] Theo cha L. CADIÈRE, từ “Bá-Đa-Lộc” tên gọi bằng chữ Hán của Đức cha Pierre Pigneaux có nguồn gốc từ Đại Nam thực lục (大南實錄) là bộ biên niên sử Việt Nam viết về triều đại các chúa Nguyễn và các vua nhà Nguyễn. Bộ sách này do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn bằng chữ Hán gồm có hai phần: (1) Phần đầu gọi là Đại Nam thực lục Tiền biên (gồm 12 quyển) ghi chép các sự kiện lịch sử của 9 chúa Nguyễn Đàng trong từ Nguyễn Hoàng (1558) đến hết đời chúa Nguyễn Phúc Thuần (1777). (2) Phần thứ hai là Đại Nam thực lục Chính biên (gồm 587 quyển, chia thành 8 kỷ), viết về triều đại các vua nhà Nguyễn, nhưng là phần chủ yếu của bộ biên niên sử. Cả hai phần Tiền biên và Chính biên được soạn bắt đầu từ năm 1821 (năm Minh Mạng thứ hai), đến năm 1909 mới cơ bản hoàn thành (còn thiếu 2 kỷ cuối). Đại Nam thực lục Chính biên (Kỷ thứ nhất: Đời Gia Long) có nhắc đến tên Đức cha Bá Đa Lộc (15 lần).

[2] A. LAUNAY, Histoire de la Mission de Cochinchine, t.I, Paris, 1923, tr. 195-196: Ngày 25/12/1676, ba linh mục cùng với 100 kẻ giảng, trùm trưởng, biện, câu đương, tất cả là người Đàng Trong, đệ lên Đức Thánh Cha Clément X tờ biểu bằng chữ Nôm, tố cáo “Các thầy Dòng ông thánh I-nha-xu chẳng vâng phép Đức Thầy Cả Vê-tô-rô [Pedro: Pierre Lambert de la Motte] cùng cãi nhiều lẽ trái” (Bản Nôm gốc tại kho lưu trữ Hội Thừa Sai Paris).

[3] P. TRƯƠNG VĨNH KÝ, Sơ-Học-Dẫn, cuốn thứ nhứt, tr. 280: “... cũng trong tháng ấy Đức-thầy Vê-rô (Bá-Đa-Lộc) đau bệnh chết, chở xác về Gia-Định tống-táng trọng thể. Vua tặng phong là Thái-Tử Thái-Phó Pi-Nho Quận-Công...”.

[4] Từ伯多祿 (Bá Đa Lộc) này được viết trong điếu văn Đức cha của vua Gia Long năm ngài tạ thế 1799.

[5] Charles le GOBIEN et Jean-Baptiste du HALDE, Lettre edifiantes et curieus écrites des Missions étrangères: Mémoires de la Chine, Lyon: J. Venarel, 1819, tr. 451.

[6] Học giả Léopold CADIÈRE (1869-1955, MEP) bắt đầu cho đăng từ năm 1917 đến năm 1926, trên tập san Đô Thành Hiếu Cổ loạt bài tên là “Les Français au service de Gia Long” (Những người Pháp giúp Gia Long) (chủ yếu do cha Cadière viết, có thêm vài bài của Cosserat và Salles). Trong phần III: Leurs noms, titres et appelations annamites (Tên, chức vụ và tên Việt), năm 1920, trang 138, nói về Đức cha Pierre Pigneaux, tác giả chỉ ra nguồn gốc tên vị giám mục ghi trong Đại Nam Thực Lục (大南實錄) (là bộ biên niên sử Việt Nam viết về triều đại các chúa Nguyễn và các vua nhà Nguyễn) là Bách-Đa-Lộc (có thể đọc là ) và ông giải thích như sau: “Chúng ta thấy ở đây tên của Giám mục Adran viết sang chữ Hán. Ba chữ được dùng, bằng từ Hán Việt là Bách-Đa-Lộc, đọc sang tiếng Tầu là Pe-to-lou, những chữ này được người Tầu dùng để phiên âm chữ Pierre, dưới dạng Latinh là Pétrus, đọc là Petrous, hoặc dưới dạng Bồ Đào Nha là Pedro (...). Vậy Đức Giám mục Adran được người Việt gọi dưới tên rửa tội là Pierre. Trong nhà dòng ngoài Bắc, tên Pierre được gọi là Phê-rô, trong Nam gọi là Vê-rô (...). Nhưng Vê-rô là tiếng bình dân, không đủ sang trọng, không thể viết trong văn bản chính thức, thường dùng chữ Hán, cho nên người ta dùng từ Bách-Đa-Lộc.

[7] Pinyin Latin = Phiên âm Latinh tiếng Quan Thoại.

[8] Việt Âm Vận Vị (粤音韻彙), A Chinese Syllabary Index Pronounced To The Cantonese Dialect By S. L. Wong, 1938. Chu âm theo The student’s Cantonese – English Dictionary by B. F. Meyer and Theodore F. Wempe of Maryknoll, 3rd edition, 1947, và Quảng Châu Âm Tự Điển của Trường Đại Học Sư Phạm Hoa Nam, 1985.

[9] THIỀU CHỬU, Hán Việt Tự Điển, Nxb. Tổng Hợp Tp.HCM, 2008, tr. 120, 338; và TRẦN VĂN CHÁNH, Từ Điển Hán Việt, Hán ngữ cổ đại và hiện đại, Nxb. Trẻ Tp.HCM, 1999, tr. 138, 493, 1475.

[10] Thuật từ này có nguồn gốc từ sách Luận Ngữ, Bát Dật Đệ Tam“Thiên tư dĩ phu tử vị mộc đạc”, nghĩa là “Trời sẽ dùng Khổng Tử như cái chuông lắc”, hàm ý cảnh tỉnh người đời bằng lời dạy và đời sống đạo đức, x. Tìm Hiểu Từ Vựng Công Giáo, Lm Huỳnh Trụ, 2012, tr 375.

[11] Những người chủ trì việc giáo hoá, nay gọi cho Linh Mục.

[12] Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, bản dịch của Uỷ Ban Giáo Lý Đức Tin, HĐGMVN, số 880-881.
Theo Tgpsaigon.net

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Năm nay kỷ niệm 25 năm đức thánh cha Gioan Phaolô II tôn phong hiển thánh cho 117 vị tử đạo tại Việt Nam (ngày 19 tháng 6 năm 1988). Xếp theo thứ tự niên tuế, đứng đầu danh sách là bốn linh mục dòng Đaminh: Francisco Gil de Federich, Mateo Alonso Leciniana (1745), Jacinto Castaneda, Vicentê Lê Quang Liêm (1773). Đặc biệt là hai vị sau cùng đã được gán làm tác giả của một tác phẩm nổi tiếng “Hội đồng tứ giáo” (hoặc đôi khi mang tựa đề dài hơn: “Hội đồng tứ giáo danh sư”).
Sách báo thời nay nói nhiều đến “tuổi trẻ” (X. Thời sự thần học số 80). Y học tìm cách giúp cho con người cứ trẻ mãi (vì người ta sợ già). Các sách Tâm linh đề cao “linh đạo thơ ấu”: Nước Trời chỉ dành cho người trẻ (chứ không cho người già). Thượng hội đồng giám mục sắp tới sẽ họp để bàn về tuổi trẻ (có lẽ sẽ không bao giờ bàn về tuổi già), mặc dù phần lớn các nghị phụ đều tóc bạc. Có thể nói đến “linh đạo tuổi già” không?
Emmanuel Gobilliard: Linh mục phải xử lý tính dục của mình qua sự quân bình chung của cuộc sống 07/06/2018 Emmanuel Gobilliard: Linh mục phải xử lý tính dục của mình qua sự quân bình chung của cuộc sống - Đứng trước các vụ tai tiếng lặp đi lặp lại, Giáo hội bị bủa vây bởi vấn đề tình cảm và tình dục. Với quyển sách “Yêu, những gì bạn muốn làm hãy làm!” (nxb. Albin Michel), qua đó bà Thérèse Hargot, nhà tính dục học và Giám mục Emmanuel Gobilliard, Giám mục Phụ tá giáo phận Lyon đề cập một cách không cấm kỵ vấn đề tính dục của các tu sĩ độc thân thánh hiến.
THẦN HỌC VỀ TỬ ĐẠO TRONG GIÁO HUẤN CỦA ĐỨC GIOAN PHAOLÔ II Kottacka Chacko Lilly Dẫn nhập Nhân dịp kỷ niệm 30 năm Thánh Gioan Phaolô II phong hiển thánh cho 117 vị tử đạo Việt Nam (19 tháng 6 năm 1988), thật là cơ hội thuận tiện để tìm hiểu ý nghĩa thần học về sự tử đạo theo quan niệm của vị đại giáo hoàng đã ghi 1032 vị tử đạo vào hàng chân phước và 402 vị tử đạo vào sổ các thánh. Bài này do Vũ An Tôn tóm lược luận văn tiến sĩ thần học của nữ tu Lilly Kottacka Chacko FCC (“Theological perspectives on the link between martyrdom and consecrated life”, PUST Roma 2009), được đăng trên Thời sự thần học số 54 (2011), trang 187-219. Trong thời gian gần đây, vấn đề “tử vì đạo” đã được đặt lại từ phía những người ngoài Công giáo cũng như từ phía Giáo Hội. Một đàng, chắc chắn các cảm tử quân của Hồi giáo được truy phong như người chết vì đạo, đang khi mà dư luận đặt tên là quân khủng bố. Phải chăng mọi phê phán trong lãnh vực này đều mang tính chủ quan, theo như cha Felix Wilfred
Để giúp độc giả hiểu về bản chất và nguồn gốc của Giáo Hội, chúng tôi giới thiệu một bài viết của đức giáo hoàng Bênêđictô XVI, thuở ngài còn là hồng y Tổng trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin. Tác giả dựa trên một số chứng từ Tân Ước, phân tích tương quan giữa Đức Giêsu và Giáo Hội, diễn giải ý nghĩa thuật ngữ “ecclesia” và hình ảnh “Thân Mình Chúa Kitô”, giúp chúng ta lĩnh hội những yếu tố nền tảng và quan trọng nhất về Giáo Hội. xc. Joseph Cardinal Ratzinger, Called To Communion, Understanding The Church Today [Adrian Walker (English trans.), San Francisco, Ignatius Press, 1996], p. 21-45.
Trong phụng vụ ngày xưa, những người chưa rửa tội chỉ được tham dự phần đầu của thánh lễ, gọi là phần Tiền thánh lễ hay Lễ dự tòng. Khi phần công bố Tin Mừng và bài giảng kết thúc, anh chị em dự tòng được mời ra về. Bấy giờ, toàn thể cộng đoàn mới đứng lên dâng lời cầu nguyện. Vì thế, những lời nguyện này được mệnh danh là “Lời nguyện tín hữu”
Đời sống thánh hiến là một lối sống của người tu sĩ được “Thiên Chúa yêu thương, tuyển lựa và thánh hiến” (Cl3,12), họ “lội ngược dòng đời” để đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa, làm chứng tình yêu Ngài cho con người trong thế giới. Do đó, khi nói về bản tính và tầm quan trọng của bậc tu trì, Công đồng Vaticanô II viết: “Dân Thiên Chúa không đặt thành trì vĩnh viễn ở đời này, nhưng đi tìm một thành trì mai sau, nên bậc tu trì giải thoát người tu sĩ bớt những lo lắng trần tục, tỏ lộ một cách hoàn hảo hơn cho người tín hữu thấy Nước Trời ngay dưới trần gian này và làm chứng rằng ơn cứu chuộc của Chúa Kitô đã đem lại một đời sống mới vĩnh cửu”[2].
Lần trước chúng ta đã bàn về việc phân định các vụ hiện ra và các mạc khải tư và đi tới kết luận rằng thật đáng cầu mong là không có một sự căng thẳng giữa quyền bính cơ cấu và các đặc sủng như đã quá thường xảy ra trong quá khứ. Sau đây là một số luật lệ và tiêu chuẩn giúp phân định các vụ hiện ra và các mạc khải tư một cách đúng đắn hơn.
Trong chiều hướng duy trí (intellectualism) và duy ngã (egoism) của thời hiện đại, ồn ào nhất là nhóm muốn phục hồi tín l‎ý‎ của Ngộ Giáo (Gnosticsm); tín l‎‎ý này cho rằng khi trí huệ của một người nào đó đạt tới mức thượng trí, người ấy có thể tự cứu độ cho mình. Định hướng đề cao trí thức và năng lực cá nhân của mô thức sống đạo này có sức hút rất mạnh nơi giới thanh niên.
Tôn Giáo và Bạo Động - Trên đây là tựa đề của một văn kiện do Uỷ Ban Thần học Quốc tế soạn thảo được công bố ngày 16-1-2014. Văn kiện dài 40 trang, chia làm 5 chương (và 100 đoạn), viết bằng tiếng Ý[1] và cho đến nay chưa được dịch ra tiếng Anh.
Bảo Trợ