Thánh Tôma TRẦN VĂN THIỆN, Chủng sinh (1820-1838)

17 Tháng Mười Một 20153:05 SA(Xem: 2503)
Thánh Tôma TRẦN VĂN THIỆN, Chủng sinh (1820-1838)

Ngày 21 tháng 9

  TomaThien.jpg 

Tuổi trẻ hào hùng

 

Trong một phiên tòa năm 1836, viên quan án xúc động trước người tù trẻ tuổi với dáng dấp thư sinh nho nhã, khuân mặt khôi ngô tuấn tú, hứa hẹn một tương lai sán lạn, ông nói với anh thật dịu dàng: “Nếu con bỏ đạo, ta sẽ gả con gái cho, và sẽ lo liệu cho con làm quan”.

 

Chàng thanh niển trẻ tuổi ấy, anh Tôma Trần Văn Thiện đã thẳng thắn trả lời: “Tôi chỉ mong chức quyền trên trời, chứ không màng chi danh vọng trần thế”.

 

Tuy mới 18 xuân xanh, lứa tuổi yêu đời ham sống, chưa nếm mùi khổ đau cuộc đời, cũng chưa được học tập thâm sâu về giáo lý, anh Tôma Thiện mới vừa tới ngưỡng cửa chủng viện, đã ứng phó khéo léo trước bạo lực, đâu thua kém gì bất cứ chiến sĩ đức tin nào khác trên hoàn cầu. Quả thực, anh đã anh đã thấu hiểu lời đức Kitô: “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì có ích gì” (Mt.16,26).

 

Con muốn “ở chú” với cha không?

 

“Chú Thiện” như người đương thời quen gọi các chủng sinh, sinh năm 1820 trong một gia đình đạo hạnh làng Trung Quán, tỉnh Quảng Bình.

 

Nữ tu Madalena Yến, một nhân chứng sống cùng thời thuật lại rằng: “Chú Thiện có một người dì, gọi là dì Nghị, làm bà nhất nhà phước Trung Quán. Chú thường lui tới thăm dì và tỏ ra rất ngoan ngoãn, nhu mì, lễ phép. Khi linh mục đến dâng lễ ở họ nhà, chú quỳ dự lễ cách nghiêm trang. Lên tám, chín tuổi, chú bắt đầu học chữ Nho, tỏ ra thông minh bền chí và tiến bộ rất nhanh.

 

“Có lần chú theo dì Nghị đi lễ ở họ Mỹ Lương, sau lễ vào chào các linh mục. Các cha thấy cậu bé khôi ngô, hiền lành đều hỏi: Con có muốn ở chú (đi tu) với cha không ? Cậu Tôma Thiện không thưa gì. Nhưng, chỉ ít lâu sau, người ta thấy chú thường xuyên ở nhà cha Chính, họ Kẻ Sen. Vị  linh mục này đã dạy tiếng Latinh cho chú nhiều năm”

 

Hãy nhìn xem máu tôi chảy ra kìa

 

Nhờ tính tình tốt lành và trí thông minh, năm 18 tuổi (1838), chú Thiện được cha giám đốc Candalh Kim gọi về chủng viện Di Loan, Quảng Trị. Nhận được tin, chú Thiện cùng với người chị tên Sao hăng hái lên đường. Dọc đường hai chị em gặp nữ tu Yến từ Di Loan về cho biết cha bề trên Candalh Kim đã phải trốn và quân lính đang lùng bắt, rồi khuyên hai chị em đừng đi nữa, nhưng chú Thiện tỏ ra cương quyết: “Dầu không gặp cha Bề Trên, con cũng phải đến tận nơi để biết rõ sự thể. Cha đã gọi, không lẽ chưa đến nơi đã bỏ về”.

 

Tới chủng viện, hai chị em trìh diện với cha Tự. Ngài nói: “Chúng tôi lo trốn chưa xong mà chị còn dẫn em đến, chỉ làm khó khăn thêm cho chúng tôi thôi”. Chị Sao đáp: “Thưa cha, em con nhờ con dẫn đi, vì có giấy cha Bề trên gọi. Chúng con không biết cuộc bắt đạo lại xảy ra bất ngờ như thế”.

 

Hai ngày sau, quân lính bao vây làng Di Loan, lục soát từng nhà. Không tìm thấy cha Kim, nên truyền tra hỏi cặn kẽ để biết cha Bề trên trốn ở đâu. Quan khuyên chú chối đạo, nếu không sẽ bị chết. Chú Thiện thành thật trả lời: “Tôi quê ở Trung Quán, Quảng Bình, đến tìm thày học đạo. Đạo dạy tôi tờ Thiên Chúa là đạo thật, tôi sẵn sàng chịu chết chứ không bỏ đạo”.

 

Quan tỏ ra khoan nhượng khuyên dụ chú Thiện nhiều lần: nào là tuổi còn nhỏ, tương lai còn nhiều triển vọng, nào là sẽ thăng quan tiến chức nếu bỏ đạo. Hơn thế nũa, quan còn muốn nhận chú làm con rể mình, và sẽ đứng ra lo liệu cưới xin. Nhưng chú Thiện đã từ chối: “Tôi chỉ mong chức quyền trên trời, chứ không màng đến quyền chức trần thế.

 

Lời khẳng khái ấy không phải ai cũng thốt ra được. Trong số những người bị bắt, nhiều người tỏ vẻ luyến tiếc cho chú đã bỏ lỡ một “cơ hội ngàn vàng”. Chàng trai có dáng vóc thư sinh nhưng chí khí thật kiên cường, khiến quan phải ngạc nhiên. Từ ngạc nhiên đến tức giận, vì dám xúc phạm đến sự “bao dung” và lòng “ưu ái” của mình, thế là ông truyền đánh đòn chàng. 40 roi đòn quất trên thân thể gầy yếu, máu chảy thấm qua y phục, nhưng vị chứng nhân không lay chuyển, vẫn gan dạ mỉm cười nói: “Hãy nhìn xem máu tôi chảy ra kìa”.

 

Thấy chú cam đảm hơn người, quan truyền đóng gông xiềng giam chú Thiện vào ngục.

 

Trong ngục thất, Tôma Thiện không có bà con thân thích nào đến chăm nom tiếp tế. Các giáo hữu Di Loan cũng bị bắt, lúc đầu con chia sẻ cho chú đôi chút lương thực, nhưng sau họ không cho gì nữa. Họ đã nghe quan dụ dỗ để mong trở về với gia đình. Tuy thế quan vẫn chưa thả họ ngay. Vì muốn chú Thiện cũng phải khuất phục, quan dùng những kẻ nhẹ này gây áp lực, nhưng Tôma Thiện trước sau vẫn một mực trung thành với đức tin.

 

Chú Thiện tiếp tục bị thẩm vấn và bị đánh đòn hai lần nữa, nhưng chú vẫn vui vẻ lãnh nhận. Mỗi lần roi quất xuống, chú lại cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin thêm sức cho con chịu đau khổ vì Chúa”. Ngoài ra chú còn bị phơi nắng và bị kìm kẹp, nhưng vị anh hùng trẻ tuổi vẫn không sờn lòng, chứng tỏ một nghị lực phi thường và một đức tin hiếm có.

 

Đồng khổ, đồng vinh

 

Sau khi bất lực trước ý trí sắt đá của Tôma Thiện, quan truyền giam chú chung với cha Jaccard Phan. Hai cha con gặp nhau vui mừng hết sức. Chú Thiện được cha an ủi, khích lệ và ban bí tích hòa giải. Riêng cha Phan thì sung sướng hãnh diện có một người con tinh thần dũng cảm trong đức tin. Hai cha con cùng nhau cầu nguyện, nâng đỡ trợ gíup lẫn nhau và quyết chí trung thành với đạo đến cùng.

 

Trước tinh thần bất khuất của hai chứng nhân Chúa Kitô, quan quyết định lên án xử trảm cả hai. Bản án chú Thiện như sau: “Tên Thiện bị mê hoặc theo Gia Tô, dầu bị tra tấn cũng không bỏ đạo, nên  nó phải chết giống như đạo trưởng của nó”.

 

Bản án gởi về kinh đô. Gần một tháng sau vua Minh Mạng mới châu phê và đổi thành án xử giảo. Có lúc nóng lòng trờ đợi, chú Thiện thưa với cha Phan: “Thưa cha, người ta cứ để cha con ta sống lâu mãi, sao không sớm cho cha con ta được tử đạo, để được kết hiệp cùng Chúa muôn đời”. Chú cũng viết thư về gia đình vĩnh biệt cha mẹ, họ hàng, và khuyên mọi người trung thành giữ vững đức tin.

 

Sáng ngày 21.9.1838, hai cha con chứng nhân Chúa Kitô cùng được dẫn ra pháp trường ở làng Nhan Biều gần Quảng trị. Khi đi qua một quán ăn, viên đội chỉ huy cho hai vị dừng chân, ăn uống theo thói quen dành cho tử tội. Cha Phan không dùng gì cả, chú Thiện thưa với cha: “Con cũng không ăn, để về dự tiệc Thiên Đường vĩnh phúc, phải không cha?” Tới nơi xử, chú Tôma Thiện quỳ xuống trước mặt cha, lính tháo gông, tròng dây vào cổ. Lệnh xử ban hành, họ kéo hai dầu dây thật mạnh, dầu vị tử đạo 18 xuân xanh gục xuống. Sau đó, đến lượt cha Phan cũng bị xử như vậy.

 

Khác với các tử đạo trước, cuộc hành quyết này không có giáo hữu đi theo để xin an táng. Những người ngoại đã chôn cất hai vị ngay ở pháp trường. Năm 1847 thi hài vị tử đạo được cải táng về tôn vinh tại chủng viện Hội Thừa Sai Paris.

 

Ngày 27.05.1900 Đức Giáo Hoàng Lêo XIII đã suy tôn chủng sinh Tôma Trần Văn Thiện lên bậc Chân Phước. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.


Lm. Đào Trung Hiệu, OP 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Phong trào mệnh danh là “Sứ điệp từ trời” đã xuất hiện từ tháng 11 năm 2010 tại Châu Âu, và cho đến nay đã được quảng bá hầu như rộng khắp trên toàn thế giới. Chắc hẳn nhiều người trong chúng ta đã nghe nói hoặc đã từng đọc qua các “Sứ điệp từ trời”. Điều đó ít nhất cũng cho thấy tầm ảnh hưởng và tính chất thu hút của phong trào mới này./20 Tháng Năm 2015(Xem: 1618) Lm Giuse Lâm Văn Sỹ OP./
RVA (11.1.2021) – Đức Thánh Cha Phanxicô đã ban hành Tự sắc “Spiritus Domini”, Thần Trí của Chúa, thay đổi khoản Giáo luật, số 230 triệt 1 để cho phụ nữ được lãnh nhận thừa tác vụ đọc sách và giúp lễ. Thánh lễ tại nhà nguyện thánh Marta | Ảnh: Vatican News Khoản này cho đến nay qui định rằng: “Các giáo dân thuộc nam giới có đủ tuổi và điều kiện do nghị định của Hội đồng Giám mục ấn định, có thể lãnh tác vụ đọc sách hoặc giúp lễ, qua một nghi lễ phụng vụ đã qui định. Tuy nhiên, việc trao tác vụ này không cho họ quyền được Giáo Hội trợ cấp hoặc trả lương”. Nay, trong tự sắc “Thần Trí của Chúa”, Đức Thánh Cha thay đổi khoản 230 triệt 1 như sau:
1. Ghi nhận lịch sử - Phụng Vụ Lễ trọng kính Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, được cử hành vào ngày 01 tháng 01, trùng với ngày bát nhật Giáng Sinh, nhớ đến việc cắt bì và đặt tên cho Chúa Giêsu, khởi đầu năm mới, và cũng là ngày cầu cho hòa bình thế giới. Trước khi canh tân Phụng Vụ, lễ trọng này được phổ biến trên khắp thế giới và được Đức Giáo Hoàng Piô XI xác định vào ngày 11.10.1931, nhân dịp kỷ niệm 1500 năm Công đồng Êphêsô. Trong niên lịch mới, lễ này gợi lại ngày thứ tám sau Giáng Sinh. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI viết: “Ngày lễ trọng ấy nay được đặt vào mồng một tháng giêng theo như tập tục xa xưa của Phụng Vụ Rôma. Lễ này được dành riêng ca tụng việc Đức Maria góp phần vào mầu nhiệm cứu độ và tán dương tước vị cao quí đặc biệt do phần đóng góp ấy đem lại cho Người Mẹ rất thánh, Đấng có công giúp chúng ta đón tiếp Tác Giả của sự sống” (Marialis Cultus 5).
Mỗi năm Giáng Sinh về, hình ảnh Ông Già Noel xuất hiện khắp mọi nơi. Ông Già Noel thân thương gần gũi vui vẻ trao quà cho trẻ em. Ông Già Noel thăm viếng và chia sẻ cho những người kém may mắn. Ông Già Noel làm MC trong các chương trình ca nhạc mừng Giáng Sinh… /22 Tháng Mười Hai 2014 (Xem: 2075)/
Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích đã ra một Thông Tư vào hôm thứ Bảy 19 tháng 12, khuyến khích các giáo xứ Công Giáo trên khắp thế giới cử hành Chúa Nhật Lời Chúa với sức sống mới. Thông Tư đã gợi ý những cách thức mà người Công Giáo nên chuẩn bị cho ngày dành cho Kinh Thánh. Đức Thánh Cha Phanxicô đã thiết lập Chúa Nhật Lời Chúa qua tông thư “Aperuit illis” (Người mở trí cho các ông) vào ngày 30 tháng 9 năm 2019, nhân kỷ niệm 1,600 năm ngày mất của Thánh Giêrônimô. Chúa Nhật Lời Chúa diễn ra vào Chúa Nhật thứ ba Mùa Quanh Năm, tức là sẽ rơi vào ngày 24 tháng Giêng năm 2021.
Lễ Giáng Sinh ngày nay có thể nói chính xác là ngày lễ nghỉ của toàn thể nhân loại. Đây là mùa của đèn nến và kim tuyến, thánh ca và ca đoàn, hương vị của cây thông và hạt dẻ nướng. Giáng Sinh đến với chúng ta với những bữa ăn ngon, những tiếng cười vui vẻ, và những nụ hôn dưới cây tầm gửi./post20 Tháng Mười Hai 2015(Xem: 1063) Trầm Thiên Thu/
Cách đây không lâu, tôi nhận được điện thơ của một ca trưởng cho biết giáo xứ của anh có Ban thánh nhạc để tuyển chọn các bài hát cho phụng vụ, nhất là cho thánh lễ các ngày Chúa nhật và lễ trọng. Theo tôi, đây là sáng kiến hay vì quyết định những bài hát dùng trong phụng vụ nên có sự đóng góp ý kiến của nhiều người, không nên tùy thuộc vào quyết định cá nhân của một ca trưởng. Vì như chúng ta đều biết, mục đích của thánh nhạc là 'Tôn vinh Thiên Chúa và thánh hóa tín hữu' nên việc lựa chọn bài hát cho phụng vụ, nhất là cho thánh lễ, có một tầm mức quan trọng trong việc thực hiện mục đích của thánh nhạc.
WGPQN (11.12.2020) – Có sự lo sợ và run rẩy khi ta mạo hiểm thêm lời của mình vào vô số những bản văn nói về Đức Maria. Vì thế, đây không phải là những tìm kiếm về thân thế của người phụ nữ ngoại thường này, mà đơn thuần chỉ để ta được dẫn dắt bởi những bản văn nói về Mẹ. Suốt bài viết, chúng ta khám phá nhiều khuôn mặt của Đức Maria mà không tìm cách làm chúng ăn khớp với nhau. Ta cứ để cho mỗi người tìm thấy sự hài hòa của riêng mình. Một sự hiện diện ngấm ngầm Chúng ta hãy lướt nhanh qua những đề cập cổ xưa nhất về Mẹ của Đức Giêsu. Thật vậy Thánh Phaolô, chỉ nói ít oi bằng câu “người sinh bởi một người nữ” (Gl 4, 4) mà từ nay đưa Con Thiên Chúa đi vào trong nhân loại. Chúng ta cũng đi nhanh về Đức Maria của Tin Mừng Marcô. Trong Tin Mừng thinh lặng về thời thơ ấu của Đức Giêsu này, Mẹ của Ngài hoàn toàn ở về phía nhân loại.
Gọi Giáo hội như là gia đình của Chúa thì đó là chuyện nghe quen tai; gọi giáo xứ như là gia đình của Chúa thì có vẻ ít nghe hơn nhưng cũng có lý. Còn gọi Giáo xứ là gia đình của Chúa… thì có vẻ “khẳng quyết hơn”, nhưng vẫn có lý và rất có tình. Vì “giáo xứ chủ yếu không phải là một cơ cấu, một địa giới hay một toà nhà, nhưng đúng hơn đó là “gia đình của Chúa...”[1], bài viết Giáo xứ là gia đình của Chúa… muốn được trình bày ít nhiều về mối tương quan giữa giáo dân và giáo sĩ, với một số hướng dẫn của Giáo hội, trong khung cảnh của một xứ đạo thấm đượm sự sống nhiệm mầu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Một vài ý tưởng dẫn vào… Các tín hữu chuyên cần nghe các tông đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng.[2]
Thuật ngữ communio sanctorum đã được đưa vào “Tín biểu các thánh tông đồ”, và dịch sang tiếng Việt là “các thánh thông công”. Trong việc giải thích tín điều này, các tác giả cổ điển nói sự thông hiệp giữa ba “tình trạng của Giáo hội” (tres status Ecclesiae): Giáo hội chiến đấu, Giáo hội đau khổ, Giáo hội khải hoàn. Công đồng Vaticanô II (LG 48) đã đổi danh xưng thành “Giáo hội lữ hành – thanh luyện – hiển vinh”. Đây không phải là ba Giáo hội nhưng là ba chặng của một Giáo hội duy nhất, với Chúa Kitô là nguyên thủ. Cả ba đều chung một niềm mong đợi, đó là sự quang lâm của Chúa Kitô. Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo (số 954) viết như sau (trích lại LG 49):
Bảo Trợ