Thánh Phêrô ALMATÔ BÌNH, Linh mục dòng Đaminh (1831-1861)

15 Tháng Mười Một 20159:51 SA(Xem: 2400)
Thánh Phêrô ALMATÔ BÌNH, Linh mục dòng Đaminh (1831-1861)

Ngày 01 Tháng 11

 ALMATO-BINH.jpg

Xâu chuỗi và thanh gươm

 

Chân dung của thánh Almatô Bình được phác họa dưới hình một tu sĩ Đaminh có vầng trán rộng của sự thông minh, với bộ râu của người nghị lực. Cặp mắt ngài đăm đăm nhìn xuống đôi tay: tay phải cầm ngành lá vạn tuế, một chuỗi mân côi và một thanh đao to bản, tay trái khẽ nâng cao mũi dao, với ngón tay cái đang chạm vào lưỡi, như muốn thử nó sắc cỡ nào, trên môi hé nở một nụ cười.

 

Bức chân dung ấy nói lên hai đặc điểm của vị thánh: Tín nhiệm các vào Đức Maria và suốt đời trân trọng vào phúc tử đạo, không đâm đầu tìm cái chết, nhưng vui tươi đón nhận nó.

 

Nụ hoa kết trái

 

Phêrô Almatô chào đời vào lễ Các Thánh 01.11.1831 tại làng Santo Felice Saserra, xứ Vich, miền Cataluna nước Tây Ban Nha. Thân phụ cậu là ông Salvio Almatô làm nghề y sĩ và thân mẫu là bà Antinia. Cậu có một người bác là linh mục kinh sĩ phụ trách giải tội cho khắp giáo phận và người em gái sau cũng đi tu.

 

Từ thơ ấu, cậu Almatô đã có những dấu hiệu hâm mộ đời tu trì. Khi ngồi một mình, cậu thích xếp hình các nhà thờ hoặc bắt trước các linh mục dâng lễ. Thỉnh thoảng cậu tập họp các trẻ nhỏ tuổi hơn để cùng đọc kinh Mân Côi, hoặc kể chuyện giáo lý cho chúng nghe.

 

Năm 15 tuổi, gia đình cho cậu vào chủng viện. Tại đây, Almatô có cơ hội đọc các bản tin về truyền giáo của tỉnh dòng Đaminh Mân Côi tại Viễn Đông. Từ đó, khát vọng truyền giáo luôn sục sôi trong lòng anh. Khi được Giám mục Claret khuyến khích, anh quyết định giã từ bạn bè và gia đình để đến Ocanã xin vào dòng Đaminh. Sau thời gian thử thách, ngày 25.09.1847, anh được lãnh tu phục vào tập viện, và ngày 26.09.1848, thày tuyên khấn.

 

Tháng 09.1849, thày Almatô đến Manila tiếp tục học thần học. Ngoài những giờ miệt mài học tập, thày thích tìm nơi thanh vắng để cầu nguyện và đọc sách thiêng liêng. Năm 1854, thày được thụ phong linh mục và năm sau được phái đến phục vụ tại Việt Nam. Ngày 04.08.1855, cha Almatô đến giáo phận Đông Đàng Ngoài.

 

Khó khăn và nghị lực

 

Khi mới đến Việt Nam, cha Almatô nhận tên là Bình, ở lại Nam Am và Đông Xuyên. Sau đó cha về chủng viện Kẻ Mốt để học tiếng Việt với cha Gaspar Nghĩa, rồi được cử đi phụ trách xứ Thiết Nham hơn một năm. Tình trạng sức khỏe của cha Almatô Bình thật yếu kém, cha bị bệnh thường xuyên. Nhưng bên trong thân xác yếu đuối đó là một khối nghị lực tưởng chừng như vô tận, đủ sức đưa cha vượt mọi khó khăn thử thách của môi trường truyền giáo.

 

Từ năm 1857, cuộc bách hại ngày càng khốc liệt, cha Bình bó buộc phải nay đây mai đó, ít khi được yên ổn. Ban ngày phải trốn trong hầm ẩm thấp, ban đêm mới ra ngoài, đi thuyền lẻn đến phục vụ giáo hữu hai bên sông. Những hôm nào bị bao vây bất ngờ, cha phải ngủ trong bụi rậm, bụi tre hoặc phải băng sông lội suối dưới trời mưa lạnh giá. Bệnh hoạn, đói rách và nguy cơ bị bắt, như ba tai họa thường xuyên của cha, nhưng vị tông đồ của Chúa đã thắng vượt được tất cả nhờ chí khí can trường và tinh thần hăng say của tuổi trẻ. Khi tình hình cấm đạo trở lên gay gắt hơn, các thừa sai Đaminh quyết định chia một nửa tạm lánh sang Macao, cha Bình tình nguyện xin ở lại Việt Nam.

 

Trong một thư gửi cho gia đình cha viết: "Con và một linh mục nữa đã ẩn mình bẩy, tám tháng nay trong một nhà có sẵn hang ở dưới lòng đất để núp khi quan quân vây bắt. Nhưng nay mai nếu cha mẹ có nghe tin con bị bắt thì xin cha mẹ đừng khóc làm chi. Hãy vui mừng con được phúc trọng dường ấy".

 

Từ tháng 08.1861, dưới ảnh hưởng của chiếu chỉ phân sáp, hàng giáo sĩ dường như không thể tìm được chỗ nào an toàn để ẩn náu. Cha Almatô Bình trước đã rời Thiết Nham sang Kẻ Nê rồi ẩn ở Thọ Ninh, nay lại xuống thuyền đi với Đức cha Valentino Vinh xuôi theo dòng sông Thái Bình. Đến Hải dương, hai vị gặp Đức cha Hermosilla Liêm và thày giảng Giuse Khang. Ngày 20.10.1861, khi Đức cha Liêm và thày giảng Giuse Khang bị bắt, thì cha Bình và Đức cha Vinh cũng đang ở trên một thuyền khác, nhưng may mắn đã chạy thoát được.

 

Sau biến cố đó, hai vị thấy trốn trên thuyền không yên ổn nữa, nên khi một giáo hữu là ông Cựu Trọng giới thiệu hai vị tới trọ tại một người ngoại giáo là ông lang Thửa, hai vị đã đến đó và được tiếp đón niềm nở. Tuy nhiên người cháu của ông lang là Khán Cáp, khi biết tin này, liền báo với quan để lãnh thưởng. Để khỏi mang tiếng xấu, anh ta mời các vị thừa sai đi ẩn chỗ khác, rồi dẫn hai vị ra đồng ruộng cho quan huyện Thanh Hà đến bắt. Hôm đó là ngày 25.10.1861.

 

Phúc trường sinh

 

Quan Tổng đốc Hải Dương là Nguyễn Quốc Cẩm thấy các giáo sĩ Tây có dáng vẻ hiền lành nên không đành tâm đối xử tàn nhẫn. Ông chỉ điều tra qua loa về tên tuổi và việc giảng đạo. Cha Bình trả lời: "Tôi là linh mục, tên tôi là Bình, người Y Pha Nho, sang An Nam giảng đạo được bảy năm tại nhiều nơi". Nhưng cha không nói rõ địa điểm nào cả.

 

Tuy quan Tổng đốc cho giam mỗi vị vào một cũi, nhưng ông ra lệnh cho viên cai ngục phải đối xử tử tế và nghiêm cấm ăn nói lỗ mãng. Thái độ "nương tay" trên đã được đồn đại đến tai Tổng đốc Nam Định Nguyễn Đình Tân, ông đích thân ra Hải Dương và dùng quyền ép viên Tổng đốc ở đây phải lên án trảm quyết. Ngày 01.11.1861, đúng ngày cha Almatô tròn 30 tuổi, từ nay trở thành ngày sinh nhật trên trời của cha cùng hai vị Giám mục Hermosilla Liêm và Berrio Ochoa Vinh.

 

Ngày xử án, ba chiếc cũi được khiêng đi sau toán lính đông đảo. Cha Bình trong cũi đầu tiên, tay cầm chuỗi Mân Côi bình thản cầu nguyện khiến mọi người hiện diện phải bỡ ngỡ. Tại pháp trường Năm Mẫu, sau ít phút cầu nguyện, lý hình đã chém đầu các ngài trong tiếng chiêng đổ dồn. Thi thể ba vị được chôn cất ngay tại nơi xử án, sau dời về Thọ Ninh. Hiện nay, thủ cấp cha Almatô Bình được tôn kính ở quê hương Tây Ban Nha, còn hài cốt của cha được an táng trong thánh đường kính bốn thánh tử đạo Hải Dương.

 

Ngày 20.05.1906, Đức Thánh cha Piô X đã suy tôn cha Phêrô Almatô Bình, dòng Đaminh lên bậc Chân Phước. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.


Lm. Đào Trung Hiệu, OP 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
RVA (11.1.2021) – Đức Thánh Cha Phanxicô đã ban hành Tự sắc “Spiritus Domini”, Thần Trí của Chúa, thay đổi khoản Giáo luật, số 230 triệt 1 để cho phụ nữ được lãnh nhận thừa tác vụ đọc sách và giúp lễ. Thánh lễ tại nhà nguyện thánh Marta | Ảnh: Vatican News Khoản này cho đến nay qui định rằng: “Các giáo dân thuộc nam giới có đủ tuổi và điều kiện do nghị định của Hội đồng Giám mục ấn định, có thể lãnh tác vụ đọc sách hoặc giúp lễ, qua một nghi lễ phụng vụ đã qui định. Tuy nhiên, việc trao tác vụ này không cho họ quyền được Giáo Hội trợ cấp hoặc trả lương”. Nay, trong tự sắc “Thần Trí của Chúa”, Đức Thánh Cha thay đổi khoản 230 triệt 1 như sau:
1. Ghi nhận lịch sử - Phụng Vụ Lễ trọng kính Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, được cử hành vào ngày 01 tháng 01, trùng với ngày bát nhật Giáng Sinh, nhớ đến việc cắt bì và đặt tên cho Chúa Giêsu, khởi đầu năm mới, và cũng là ngày cầu cho hòa bình thế giới. Trước khi canh tân Phụng Vụ, lễ trọng này được phổ biến trên khắp thế giới và được Đức Giáo Hoàng Piô XI xác định vào ngày 11.10.1931, nhân dịp kỷ niệm 1500 năm Công đồng Êphêsô. Trong niên lịch mới, lễ này gợi lại ngày thứ tám sau Giáng Sinh. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI viết: “Ngày lễ trọng ấy nay được đặt vào mồng một tháng giêng theo như tập tục xa xưa của Phụng Vụ Rôma. Lễ này được dành riêng ca tụng việc Đức Maria góp phần vào mầu nhiệm cứu độ và tán dương tước vị cao quí đặc biệt do phần đóng góp ấy đem lại cho Người Mẹ rất thánh, Đấng có công giúp chúng ta đón tiếp Tác Giả của sự sống” (Marialis Cultus 5).
Mỗi năm Giáng Sinh về, hình ảnh Ông Già Noel xuất hiện khắp mọi nơi. Ông Già Noel thân thương gần gũi vui vẻ trao quà cho trẻ em. Ông Già Noel thăm viếng và chia sẻ cho những người kém may mắn. Ông Già Noel làm MC trong các chương trình ca nhạc mừng Giáng Sinh… /22 Tháng Mười Hai 2014 (Xem: 2075)/
Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích đã ra một Thông Tư vào hôm thứ Bảy 19 tháng 12, khuyến khích các giáo xứ Công Giáo trên khắp thế giới cử hành Chúa Nhật Lời Chúa với sức sống mới. Thông Tư đã gợi ý những cách thức mà người Công Giáo nên chuẩn bị cho ngày dành cho Kinh Thánh. Đức Thánh Cha Phanxicô đã thiết lập Chúa Nhật Lời Chúa qua tông thư “Aperuit illis” (Người mở trí cho các ông) vào ngày 30 tháng 9 năm 2019, nhân kỷ niệm 1,600 năm ngày mất của Thánh Giêrônimô. Chúa Nhật Lời Chúa diễn ra vào Chúa Nhật thứ ba Mùa Quanh Năm, tức là sẽ rơi vào ngày 24 tháng Giêng năm 2021.
Lễ Giáng Sinh ngày nay có thể nói chính xác là ngày lễ nghỉ của toàn thể nhân loại. Đây là mùa của đèn nến và kim tuyến, thánh ca và ca đoàn, hương vị của cây thông và hạt dẻ nướng. Giáng Sinh đến với chúng ta với những bữa ăn ngon, những tiếng cười vui vẻ, và những nụ hôn dưới cây tầm gửi./post20 Tháng Mười Hai 2015(Xem: 1063) Trầm Thiên Thu/
Cách đây không lâu, tôi nhận được điện thơ của một ca trưởng cho biết giáo xứ của anh có Ban thánh nhạc để tuyển chọn các bài hát cho phụng vụ, nhất là cho thánh lễ các ngày Chúa nhật và lễ trọng. Theo tôi, đây là sáng kiến hay vì quyết định những bài hát dùng trong phụng vụ nên có sự đóng góp ý kiến của nhiều người, không nên tùy thuộc vào quyết định cá nhân của một ca trưởng. Vì như chúng ta đều biết, mục đích của thánh nhạc là 'Tôn vinh Thiên Chúa và thánh hóa tín hữu' nên việc lựa chọn bài hát cho phụng vụ, nhất là cho thánh lễ, có một tầm mức quan trọng trong việc thực hiện mục đích của thánh nhạc.
WGPQN (11.12.2020) – Có sự lo sợ và run rẩy khi ta mạo hiểm thêm lời của mình vào vô số những bản văn nói về Đức Maria. Vì thế, đây không phải là những tìm kiếm về thân thế của người phụ nữ ngoại thường này, mà đơn thuần chỉ để ta được dẫn dắt bởi những bản văn nói về Mẹ. Suốt bài viết, chúng ta khám phá nhiều khuôn mặt của Đức Maria mà không tìm cách làm chúng ăn khớp với nhau. Ta cứ để cho mỗi người tìm thấy sự hài hòa của riêng mình. Một sự hiện diện ngấm ngầm Chúng ta hãy lướt nhanh qua những đề cập cổ xưa nhất về Mẹ của Đức Giêsu. Thật vậy Thánh Phaolô, chỉ nói ít oi bằng câu “người sinh bởi một người nữ” (Gl 4, 4) mà từ nay đưa Con Thiên Chúa đi vào trong nhân loại. Chúng ta cũng đi nhanh về Đức Maria của Tin Mừng Marcô. Trong Tin Mừng thinh lặng về thời thơ ấu của Đức Giêsu này, Mẹ của Ngài hoàn toàn ở về phía nhân loại.
Gọi Giáo hội như là gia đình của Chúa thì đó là chuyện nghe quen tai; gọi giáo xứ như là gia đình của Chúa thì có vẻ ít nghe hơn nhưng cũng có lý. Còn gọi Giáo xứ là gia đình của Chúa… thì có vẻ “khẳng quyết hơn”, nhưng vẫn có lý và rất có tình. Vì “giáo xứ chủ yếu không phải là một cơ cấu, một địa giới hay một toà nhà, nhưng đúng hơn đó là “gia đình của Chúa...”[1], bài viết Giáo xứ là gia đình của Chúa… muốn được trình bày ít nhiều về mối tương quan giữa giáo dân và giáo sĩ, với một số hướng dẫn của Giáo hội, trong khung cảnh của một xứ đạo thấm đượm sự sống nhiệm mầu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Một vài ý tưởng dẫn vào… Các tín hữu chuyên cần nghe các tông đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng.[2]
Thuật ngữ communio sanctorum đã được đưa vào “Tín biểu các thánh tông đồ”, và dịch sang tiếng Việt là “các thánh thông công”. Trong việc giải thích tín điều này, các tác giả cổ điển nói sự thông hiệp giữa ba “tình trạng của Giáo hội” (tres status Ecclesiae): Giáo hội chiến đấu, Giáo hội đau khổ, Giáo hội khải hoàn. Công đồng Vaticanô II (LG 48) đã đổi danh xưng thành “Giáo hội lữ hành – thanh luyện – hiển vinh”. Đây không phải là ba Giáo hội nhưng là ba chặng của một Giáo hội duy nhất, với Chúa Kitô là nguyên thủ. Cả ba đều chung một niềm mong đợi, đó là sự quang lâm của Chúa Kitô. Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo (số 954) viết như sau (trích lại LG 49):
Do đại dịch Covid-19, để đảm bảo các điều kiện an toàn sức khoẻ, Toà Ân giải Tối cao đã ban hành một sắc lệch cho phép việc lãnh nhận Ơn Toàn Xá cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời có thể được thực hiện trong suốt tháng 11. - Sắc lệnh giải thích, Toà Ân giải Tối cao đã nhận được nhiều thỉnh nguyện của các mục tử xin cho việc thực hành đạo đức “cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời” được thực hiện phù hợp với bối cảnh đại dịch, Toà Ân giải Tối cao đã quyết định: “Ơn Toàn Xá được ban cho những ai viếng nghĩa trang và cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời, thông thường chỉ trong những ngày từ 1-8/11, có thể chuyển sang các ngày khác đến hết tháng 11. Những ngày này, do mỗi tín hữu tự chọn, có thể tách biệt nhau” (không cần các ngày liên tiếp).
Bảo Trợ