Thánh Matthêu NGUYỄN VĂN PHƯỢNG, Trùm Họ (1808 - 1861)

15 Tháng Mười Một 20158:35 SA(Xem: 2411)

Thánh Matthêu NGUYỄN VĂN PHƯỢNG, Trùm Họ (1808 - 1861)

Ngày 26 tháng 05

MattheuNguyenVanPhuong.jpg
Chết Là Vận May

 

Giờ phút xử tử đã điểm. Lý hình chuẩn bị sẵn sàng. Bên ba người con, hai trai, một gái đang quỳ khóc lóc tiễn biệt, thánh Mattêu Phượng vẫn nói những lời tràn đầy tin tưởng. Bởi vì ngài đã được chuẩn bị từ lâu cho biến cố tử đạo này: “Các con của cha ơi, đừng khóc, đừng buồn làm chi. Cha đã gặp vận may mắn. Anh em chúng con hãy sống thuận hòa yêu thương đùm bọc nhau”.

 

Matthêu Nguyễn Văn Phượng chào đời khoảng năm 1808 tại làng Kẻ Lái, tỉnh Quảng Bình, con ông Nguyễn Văn Bường, quân nhân. Cha mẹ đều là người Công Giáo đạo đức. Tên gọi của ông là Đắc, trong sổ là Kế, và sau khi lập gia đình, người ta mới gọi ông là Phượng theo tên người con cả.

 

Tình yêu phục vụ

 

Mồ côi cha từ năm lên mười, hai năm sau lại mồ côi mẹ, cậu Đắc sớm phải lo tự lực mưu sinh. Anh theo học nghề thuốc  với thày lang Nhu, tuy ngoại đạo nhưng tính rất tốt, đã chỉ dẫn cho anh nhiều bài thuốc quý. Dưới thời vua Minh Mạng, anh theo giúp cha Điểm suốt bảy năm liền một cách  tận tụy như người con hiếu thảo. Đổi lại, như người cha ruột, cha Điểm đã mai mối cho anh cưới một thiếu nữ hiền hậu xứ Sáo Bún, năm đó anh 22 tuổi. Từ ngày ấy, anh dọn về ở với bố vợ, tức ông đội Khiêm và hành nghề y sĩ. Được vài năm, anh chuyển sang nghề buôn bán. Nói chung, anh khá thành công trong nghề mới, nên gia đình luôn được sung túc.

 

Thời gian thấm thoát, gia đình ông Phượng sinh hạ được tám người con. Dầu bận rộn với việc buôn bán, ông vẫn chu toàn việc giáo dục con cái, sống trọn vẹn với luật mến Chúa yêu người. Đặc biệt ông dạy bằng gương sáng. Chính ông siêng năng xưng tội rước lễ khi có thể, rồi nhắc nhở các con. Mỗi tuần ông đều thu xết thời giờ đi thăm bệnh nhân, và đến giúp đỡ bà con nghèo ở chung quanh. Cô Thủ, con gái ông, dâng mình cho Chúa trong dòng Mến Thánh Giá. Khi con cái đã trưởng thành, ông tìm nơi đạo hạnh để thông gia, và chia cho các con toàn bộ tài sản của mình, chỉ giữ lại những thứ tối cần thôi.

 

Năm ông 50 tuổi, vợ ông từ trần. Ông cho gọi cô Phượng, con cả, lúc đó chồng cô cũng đã qua đời, đưa các cháu về sống với ông ngoại. Toàn thể giáo hữu Sáo Bún mến phụctài năng nhân đức của ông, nên cử ông làm Trùm họ. Trong hoàn cảnh khó khăn thiếu linh mục, ông Trùm Phượng có nhiều cơ hội phục vụ cho dân Chúa. Nhiều trẻ em được ông rửa tội, nhiều người xin theo đạo do lời khuyên bảo của ông. Đặc biệt, ông rộng rãi tiếp các linh mục và thày giảng đến trú ngụ tại nhà mình. Nghe mọi người dự đoán trước cuộc tử đạo ông sẽ phải lãnh nhận, ông mỉm cười và tiếp tục làm việc bác ái như trước.

 

Ngày 02.01.1861, cha Hoan về Sáo Bún giúp mọi người chuẩn bị lễ Hiển Linh, ông trùm Phượng hân hoan mời cha về nhà mình. Không biết có ai tố giác không, mà ngay tối hôm sau, quân lính ùa đến vây làng. Cha Hoan lén ra bờ sông tìm cách trốn nhưng bị bắt. Sau đó, lính kéo đến nhà ông Trùm, rồi chia nhau lục soát khắp nhà. Khi tìm thấy áo lễ, chém lễ và ảnh tượng, lính liền bắt ông Phượng đưa về Đồng Hới cùng với cha Hoan và bảy giáo hữu khác nữa.

 

Tín trung đến cùng.

 

Dù cho quan  quân áp dụng đủ cách thức để tra tấn xét khảo hết ngày này qua ngày khác, ông trùm Phượng và các bạn nhắc nhở nhau không khai điều gì làm hại đến những người còn lại. Ông nhận mình có mời cha Hoan đến nhà vì tang chứng quá rõ rệt, nhưng cương quyết không chịu bỏ đạo và không bước qua Thập Giá.

 

Ở dinh quan án có viên lục sự trẻ trẻ tuổi đem lòng yêu thương con gái ông Trùm, nên nói với ông: “Nếu gả con gái cho tôi, tôi hứa hết sức sẽ lo cho ông được tự do”. Ông đáp: “Không được đâu, trừ phi chính anh theo đạo. Tôi không gả con gái tôi cho người ngoại đạo, dù anh là ông ký hay quan đi nữa, tôi sợ nó không giữ được đức tin. Nếu vì lý do đó mà phải chết, tôi sẵn sàng”.

 

Ngày 25.05, bản án của triều đình đã về đến Đồng Hới. Ông phượng vui vẻ đi chào giã biệt các bạn tù, để sáng sớm hôm sau sẽ theo chân các lý hình ra pháp trường cùng với cha Hoan. Một người cầm bản án đi phía trước: “người này tên Nguyễn Văn Đắc, tức Phượng là tín đồ Gia Tô. Kẻ đã đang tâm bao che cho đạo trưởng Hoan. Vi phạm luật nhà nước là một trọng tội. Phải đem xử trảm tức khắc”.

 

Đến cửa thành, đoàn người dừng lại một lát. Thân nhân bạn hữu của hai chứng nhân đức tin đã được quan cho phép mang đến ít bánh trái để hai vị lót dạ, nhưng quân lính muốn kết thúc việc xử án cho sớm nên đánh đuổi họ. Đoàn người lại tiếp tục lên đường. Đến pháp trường, theo gương cha Hoan, ông Phượng cũng xin khỏi trói, rồi bình tĩnh qùy trên chiếc chiếu của mình, chắp tay lại cầu nguyện. Hai người con trai của chị Thủ,  con gái của ông, tiến đến sát bên, vừa khóc vừa chào vĩnh biệt, nhưng ông can đảm an ủi họ. Sau đó lí hình đuổi tất cả họ ra xa. Ngay khi tiếng chiêng đầu nổi lên, đầu vị tử đạo đã rơi xuống, và linh hồn vị anh hùng đức tin về hưởng nhan Thiên Chúa muôn đời.

 

Đức Thánh Cha Piô X suy tôn ông Trùm Matthêu Nguyễn Văn Phượng lên bậc Chân Phước ngày 02.05.1909. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.


Lm. Đào Trung Hiệu, OP 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Phong trào mệnh danh là “Sứ điệp từ trời” đã xuất hiện từ tháng 11 năm 2010 tại Châu Âu, và cho đến nay đã được quảng bá hầu như rộng khắp trên toàn thế giới. Chắc hẳn nhiều người trong chúng ta đã nghe nói hoặc đã từng đọc qua các “Sứ điệp từ trời”. Điều đó ít nhất cũng cho thấy tầm ảnh hưởng và tính chất thu hút của phong trào mới này./20 Tháng Năm 2015(Xem: 1618) Lm Giuse Lâm Văn Sỹ OP./
RVA (11.1.2021) – Đức Thánh Cha Phanxicô đã ban hành Tự sắc “Spiritus Domini”, Thần Trí của Chúa, thay đổi khoản Giáo luật, số 230 triệt 1 để cho phụ nữ được lãnh nhận thừa tác vụ đọc sách và giúp lễ. Thánh lễ tại nhà nguyện thánh Marta | Ảnh: Vatican News Khoản này cho đến nay qui định rằng: “Các giáo dân thuộc nam giới có đủ tuổi và điều kiện do nghị định của Hội đồng Giám mục ấn định, có thể lãnh tác vụ đọc sách hoặc giúp lễ, qua một nghi lễ phụng vụ đã qui định. Tuy nhiên, việc trao tác vụ này không cho họ quyền được Giáo Hội trợ cấp hoặc trả lương”. Nay, trong tự sắc “Thần Trí của Chúa”, Đức Thánh Cha thay đổi khoản 230 triệt 1 như sau:
1. Ghi nhận lịch sử - Phụng Vụ Lễ trọng kính Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, được cử hành vào ngày 01 tháng 01, trùng với ngày bát nhật Giáng Sinh, nhớ đến việc cắt bì và đặt tên cho Chúa Giêsu, khởi đầu năm mới, và cũng là ngày cầu cho hòa bình thế giới. Trước khi canh tân Phụng Vụ, lễ trọng này được phổ biến trên khắp thế giới và được Đức Giáo Hoàng Piô XI xác định vào ngày 11.10.1931, nhân dịp kỷ niệm 1500 năm Công đồng Êphêsô. Trong niên lịch mới, lễ này gợi lại ngày thứ tám sau Giáng Sinh. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI viết: “Ngày lễ trọng ấy nay được đặt vào mồng một tháng giêng theo như tập tục xa xưa của Phụng Vụ Rôma. Lễ này được dành riêng ca tụng việc Đức Maria góp phần vào mầu nhiệm cứu độ và tán dương tước vị cao quí đặc biệt do phần đóng góp ấy đem lại cho Người Mẹ rất thánh, Đấng có công giúp chúng ta đón tiếp Tác Giả của sự sống” (Marialis Cultus 5).
Mỗi năm Giáng Sinh về, hình ảnh Ông Già Noel xuất hiện khắp mọi nơi. Ông Già Noel thân thương gần gũi vui vẻ trao quà cho trẻ em. Ông Già Noel thăm viếng và chia sẻ cho những người kém may mắn. Ông Già Noel làm MC trong các chương trình ca nhạc mừng Giáng Sinh… /22 Tháng Mười Hai 2014 (Xem: 2075)/
Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích đã ra một Thông Tư vào hôm thứ Bảy 19 tháng 12, khuyến khích các giáo xứ Công Giáo trên khắp thế giới cử hành Chúa Nhật Lời Chúa với sức sống mới. Thông Tư đã gợi ý những cách thức mà người Công Giáo nên chuẩn bị cho ngày dành cho Kinh Thánh. Đức Thánh Cha Phanxicô đã thiết lập Chúa Nhật Lời Chúa qua tông thư “Aperuit illis” (Người mở trí cho các ông) vào ngày 30 tháng 9 năm 2019, nhân kỷ niệm 1,600 năm ngày mất của Thánh Giêrônimô. Chúa Nhật Lời Chúa diễn ra vào Chúa Nhật thứ ba Mùa Quanh Năm, tức là sẽ rơi vào ngày 24 tháng Giêng năm 2021.
Lễ Giáng Sinh ngày nay có thể nói chính xác là ngày lễ nghỉ của toàn thể nhân loại. Đây là mùa của đèn nến và kim tuyến, thánh ca và ca đoàn, hương vị của cây thông và hạt dẻ nướng. Giáng Sinh đến với chúng ta với những bữa ăn ngon, những tiếng cười vui vẻ, và những nụ hôn dưới cây tầm gửi./post20 Tháng Mười Hai 2015(Xem: 1063) Trầm Thiên Thu/
Cách đây không lâu, tôi nhận được điện thơ của một ca trưởng cho biết giáo xứ của anh có Ban thánh nhạc để tuyển chọn các bài hát cho phụng vụ, nhất là cho thánh lễ các ngày Chúa nhật và lễ trọng. Theo tôi, đây là sáng kiến hay vì quyết định những bài hát dùng trong phụng vụ nên có sự đóng góp ý kiến của nhiều người, không nên tùy thuộc vào quyết định cá nhân của một ca trưởng. Vì như chúng ta đều biết, mục đích của thánh nhạc là 'Tôn vinh Thiên Chúa và thánh hóa tín hữu' nên việc lựa chọn bài hát cho phụng vụ, nhất là cho thánh lễ, có một tầm mức quan trọng trong việc thực hiện mục đích của thánh nhạc.
WGPQN (11.12.2020) – Có sự lo sợ và run rẩy khi ta mạo hiểm thêm lời của mình vào vô số những bản văn nói về Đức Maria. Vì thế, đây không phải là những tìm kiếm về thân thế của người phụ nữ ngoại thường này, mà đơn thuần chỉ để ta được dẫn dắt bởi những bản văn nói về Mẹ. Suốt bài viết, chúng ta khám phá nhiều khuôn mặt của Đức Maria mà không tìm cách làm chúng ăn khớp với nhau. Ta cứ để cho mỗi người tìm thấy sự hài hòa của riêng mình. Một sự hiện diện ngấm ngầm Chúng ta hãy lướt nhanh qua những đề cập cổ xưa nhất về Mẹ của Đức Giêsu. Thật vậy Thánh Phaolô, chỉ nói ít oi bằng câu “người sinh bởi một người nữ” (Gl 4, 4) mà từ nay đưa Con Thiên Chúa đi vào trong nhân loại. Chúng ta cũng đi nhanh về Đức Maria của Tin Mừng Marcô. Trong Tin Mừng thinh lặng về thời thơ ấu của Đức Giêsu này, Mẹ của Ngài hoàn toàn ở về phía nhân loại.
Gọi Giáo hội như là gia đình của Chúa thì đó là chuyện nghe quen tai; gọi giáo xứ như là gia đình của Chúa thì có vẻ ít nghe hơn nhưng cũng có lý. Còn gọi Giáo xứ là gia đình của Chúa… thì có vẻ “khẳng quyết hơn”, nhưng vẫn có lý và rất có tình. Vì “giáo xứ chủ yếu không phải là một cơ cấu, một địa giới hay một toà nhà, nhưng đúng hơn đó là “gia đình của Chúa...”[1], bài viết Giáo xứ là gia đình của Chúa… muốn được trình bày ít nhiều về mối tương quan giữa giáo dân và giáo sĩ, với một số hướng dẫn của Giáo hội, trong khung cảnh của một xứ đạo thấm đượm sự sống nhiệm mầu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Một vài ý tưởng dẫn vào… Các tín hữu chuyên cần nghe các tông đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng.[2]
Thuật ngữ communio sanctorum đã được đưa vào “Tín biểu các thánh tông đồ”, và dịch sang tiếng Việt là “các thánh thông công”. Trong việc giải thích tín điều này, các tác giả cổ điển nói sự thông hiệp giữa ba “tình trạng của Giáo hội” (tres status Ecclesiae): Giáo hội chiến đấu, Giáo hội đau khổ, Giáo hội khải hoàn. Công đồng Vaticanô II (LG 48) đã đổi danh xưng thành “Giáo hội lữ hành – thanh luyện – hiển vinh”. Đây không phải là ba Giáo hội nhưng là ba chặng của một Giáo hội duy nhất, với Chúa Kitô là nguyên thủ. Cả ba đều chung một niềm mong đợi, đó là sự quang lâm của Chúa Kitô. Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo (số 954) viết như sau (trích lại LG 49):
Bảo Trợ