Giáo dân đặt Mình Thánh Chúa được không?

09 Tháng Bảy 20122:00 CH(Xem: 4722)

Giáo dân đặt Mình Thánh Chúa được không?

Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô, giáo sư phụng vụ tại Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.

blank

Qua việc chúng tôi trả lời về việc cất Mình Thánh Chúa trong các điều kiện nào (xem bài ngày 20-6), một độc giả hỏi: "Khi Mình Thánh Chúa được đặt cho cộng đồng chầu, liệu một giáo dân có xứng đáng để đặt Mình Thánh Chúa vào Hào Quang, và, sau khi chầu xong, lấy Mình Thánh Chúa ra và cất trong nhà tạm không? Tôi thấy việc này đã diễn ra trong nhiều nhà thờ. Đức Giáo Hoàng đồng ý với việc làm này không? Điều giáo luật nào nói về vấn đề này?"

Đáp: Các thừa tác viên có chức thánh là các thừa tác viên thông thường của việc đặt mình Thánh Chúa khi chầu, và cất Mình Thánh Chúa vào nhà tạm. Một thầy giúp lễ là một thừa tác viên ngoại thường theo chức vụ của công việc này, khi hoàn cảnh yêu cầu.

Nhưng chỉ có các thừa tác viên có chức thánh mới có thể cầm Mình Thánh Chúa để ban phép lành.

Trong trường hợp đặc biệt, Giám mục có thể cho phép các thừa tác viên giáo dân đặt và cất Mình Thánh Chúa.

Ví dụ, nếu một giáo xứ thực hành việc chầu Mình Thánh nhiều giờ trong một ngày, nhưng việc chầu Mình Thánh bị gián đoạn trong đêm hoặc trong một thời gian dài trong ngày, Đức Giám mục có thể cho phép một thừa tác viên ngoại thường giáo dân, để đặt và cất Mình Thánh Chúa, nếu không có linh mục hoặc phó tế vào những lúc cần thiết (xem văn kiện "Eucharistiae Sacramentum"năm 1973 của Thánh Bộ Phụng Tự, các số 91-92).

Việc đặt và cất Mình Thánh Chúa bởi một thừa tác viên ngoại thường phải là luôn đơn giản. Mình Thánh Chúa chỉ được đặt vào và cất khỏi Hào quang, và hộp đựng Mình Thánh được cất vào nhà tạm. Không xông hương và không cần người giúp lễ, mặc dầu cộng đoàn có thể hát một bài Thánh Thể thích hợp.

Đức Giáo Hoàng có đồng ý không ư? Vâng, Đức Thánh Cha chắc chắn sẽ mong ước có đủ các thừa tác viên thông thường cho tất cả các giáo xứ trên thế giới.

Tuy nhiên, vì đây chưa phải là một thực tế, tôi nghĩ rằng Ngài chắc chắn sẽ ủng hộ việc nhờ đến các thừa tác viên ngoại thường được chấp thuận, để cổ vũ việc chầu Mình thánh Chúa liên tục ngày này sang ngày khác. (Zenit.org 3-7-2012)

Nguyễn Trọng Đa
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Lời dẫn nhập: Có người dựa vào lời Thánh Phaolô: ''Do đó, hỡi anh em, tôi muốn nói: Thịt và máu không thể thừa hưởng Nước Thiên Chúa; cái phù du không thừa hưởng được sự trường tồn.'' (1Cor. 15, 50) để nói rằng bà Mari đã chết rồi thì làm sao chúng ta có thể thấy xác bà ấy ở trên Thiên Đàng! Hơn nữa, ''những điều mạc khải'' mà Thiên Chúa đã cho phép Mẹ nói với Nữ Tu đáng kính, Maria Agrêđa, thuộc Đan Viện Thánh Nữ Clara vào thế kỷ 17 (1), bao nhiêu phép lạ của Mẹ ở Lộ Đức, Fatima và rất nhiều nơi khác trên Thế Giới cũng chẳng có tác dụng đối với người không tôn kính Mẹ của Thiên Chúa Cứu Chuộc mặc dầu Thánh Danh Giêsu có nghĩa vừa nêu!
ĐTC Bênêđíctô XVI và vấn đề những người ly hôn lại tái kết hôn. Cần phải hiểu đúng những lời phát biểu quan trọng của Đức Thánh Cha tại Milanô về vấn đề này như thế nào? Qua những dòng sau đây chúng ta cùng tìm hiểu. Thánh Augustinô, thánh Tiến Sĩ của Giáo Hội, đã phát biểu một cách rõ ràng và ngắn gọn nguyên tắc luân lý Công Giáo: „Thương yêu người có tội, nhưng ghét bỏ tội lỗi.“
ại Pháp, một dự luật về hôn nhân đồng tính sẽ được bỏ phiếu vào năm 2013. Nếu được thông qua, thì nước Pháp sẽ là quốc gia Châu Âu thứ chín thông qua luật này. Giáo Hội Công Giáo phản ứng, cách minh nhiên hay mặc nhiên, để bảo vệ những xác tín của mình trong cuộc tranh luận công cộng. Càng ngày càng có những tiếng nói giữa những người Công giáo nhằm đề phòng các tín hữu trước mối nguy chìm đắm trong sự cam chịu trước những lèo lái của truyền thông,
Bài viết này thể hiện mong muốn đáp lại lời Đức Giáo Hoàng Bênêđettô mời gọi các tín hữu gia tăng “suy tư về chính hành vi đức tin” (Porta Fidei, 9). Có nhiều vấn đề cần phải đào sâu để hiểu hơn về đức tin như: đức tin là ân sủng nhưng đồng thời cũng là hành vi nhân linh, đức tin là chắc chắn nhưng cũng gắn liền với “đêm tối”, tính cá vị và tính cộng đoàn của đức tin, diễn tả đức tin bằng ngôn ngữ và bằng hành động, v.v…
Có một thực tế dường như trái ngược, một đàng tại các quốc gia cựu Công Giáo Âu châu như Đức Pháp Ý Tây Ban Nha Ái Nhĩ Lan v.v… đời sống đức tin kể như đã biến mất (Xem xuanbichvietnam – Vấn đề hôm nay: nạn mù đạo, người lớn là những người đầu tiên phải bắt đầu quay lại trường học). Nhưng tại những nước đạo theo như Việt Nam chúng ta chẳng hạn thì phải chăng vẫn cứ bình chân như vại, có nghĩa chẳng có vấn đề gì cần đặt ra cho đức tin?
Sự tranh cãi xung quanh vấn đề tiến hóa đã đụng đến những niềm tin căn bản nhất về con người chúng ta và thế giới. Những học thuyết tiến hóa đã được dùng để giải đáp những vấn nạn liên quan đến nguồn gốc của vũ trụ, sự sống và con người. Những thuyết này chủ yếu dựa vào thuyết tiến hóa của vụ trụ, thuyết tiến hóa về sự sống, thuyết tiến hóa về con người. Ý kiến của một người về một trong những lãnh vực đó không bắt buộc người ta phải tin thế nào về những lãnh vực kia.
Yêu mến một mình Thiên Chúa trên hết mọi sự, có nghĩa là không được tin và kêu cầu đến một thần linh nào khác ngoài Thiên Chúa Ba Ngôi ra. Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, Mẹ của Giáo Hội, cùng các Thánh nam nữ khác trên Thiên Đàng cũng chỉ là những mẫu gương sáng ngời cho ta noi theo để nên thánh và nhờ cậy cầu bầu trước Tòa Chúa mà thôi,
ôi vào Tiểu Chủng Viện Phú Xuân khóa 1959. Khóa tôi 53 người, tôi mang số 53 [1] vì năm ấy tôi được miễn thi vào chủng viện, lý do là vào lúc tổ chức thi tuyển, thi tôi bị bịnh thương hàn. Có thể nói khóa của tôi là khóa cuối theo “chế độ cũ của chủng viện”. Chế độ cũ không có nghĩa là xấu, nhưng sau năm ấy (tức là từ khóa 1960) nhân sự điều hành và giảng huấn cũng như sinh hoạt chung của tiểu chủng viện thay đổi, một sự thay đổi mà linh mục Nguyễn Văn Thuận đóng một vai trò có tính cách quyết định.
Thầy Giảng Vị Tử Đạo Tiên Khởi của Giáo Hội Việt Nam Ngày 5 tháng 3 năm thánh 2000, Đức Gioan Phaolô II tôn phong lên bậc chân phước một thanh niên Việt Nam, tử đạo ngày 26 tháng 7 năm 1644, và được biết dưới tên thánh Anrê, và đồng thời cũng là thầy giảng. Ba thế kỷ rưỡi đã trôi qua kể từ ngày Thầy anh dũng dâng hiến mạng sống vì trung thành với đức tin Kitô và những lời Thầy cam kết với Chúa Kitô trong tư cách là người truyền bá Tin Mừng và giáo lý Kitô
Giáo Hội cống hiến cho người tín hữu Chúa Kitô có trách nhiệm trong lãnh vực chính trị những trợ lực có liên quan đến huấn dụ xã hội, để nhờ đó sự chuyên cần dấn thân chính trị của họ được nuôi dưỡng. Mặc cho đôi khi chúng ta có cảm tưởng mệt mỏi về các hoạt động nhằm đem lại lợi ích cho nhân quyền, tuy nhiên cần nhận biết như ĐTC Gioan Phaolô II rằng động tác chyên cần dấn thân cho nhân quyền đó là phương diện thiết yếu trong sứ mạng mục vụ của Giáo Hội.
Bảo Trợ