Phong trào Phụng vụ?

Phong trào Phụng vụ nảy sinh từ ước vọng muốn cho hành động phụng vụ được đích thực hơn, và từ nhu cầu lôi cuốn tín hữu tham dự một cách trực tiếp hơn vào việc cử hành phụng vụ, vì cho tới lúc bấy giờ họ thường tham dự một cách thụ động.

Nói về Phong trào Phụng vụ, trước hết phải kể đến Guéranger (1805-1875) vốn là người biên soạn tác phẩm Institutions liturgiques (gồm 3 tập - ra đời trong các năm 1840-1841-1851) nhằm khảo sát lịch sử truyền thống phụng vụ từ Israel cổ cho tới thời đại của Guéranger. Tác phẩm này đã trở thành như tiếng trống khai mào cho Phong trào Phụng vụ diễn ra mà sẽ dẫn đến việc phục hồi và thống nhất phụng vụ Rôma trong tương lai.[1]

Tuy nhiên, hầu hết các nhà lịch sử đều đồng ý rằng chính Dom Lambert Beauduin (1873-1960) mới thực thụ là cha đẻ hay người tiên phong của phong trào này. Năm 1909, Dom Lamber Beauduin đã khai sinh ra Phong trào Phụng vụ tại một hội nghị lao động Công Giáo quốc gia được tổ chức tại Malines với bài diễn văn mang tính lịch sử về chủ đề “Kinh nguyện thật sự của Giáo Hội” (La vraie prière de l’église) như đã từng đệ trình trong Tổng Tu nghị của Dòng Biển Đức 2 tháng trước đó (tức tháng 7 năm 1909). Bài này làm cho phụng vụ có một sức sống mới theo khởi hứng của Dom Guéranger. Trong cuốn sách nhỏ của mình có tựa đề là La Piété de l' Eglise, Beauduin là người đầu tiên nỗ lực phát triển thần học về sự tham dự tích cực vào phụng vụ dựa trên chức tư tế của Chúa Kitô, Giáo Hội là nhiệm thể của Ngài và tất cả mọi tín hữu đều được chia sẻ vào chức vụ tư tế đó. Sức sống mới bắt đầu từ đan viện tại Bỉ của Dom Lamber Beauduin đã lan ra dân chúng trong các giáo xứ ở khắp nơi.
xong-huong
Từ năm 1918, đan viện Maria Laach bên Đức đã trở thành trung tâm thúc đẩy Phong trào Phụng vụ phát tiển với việc đan sĩ J. Herrwegen (1874-1946) cho phát hành tập đầu tiên của Nguyệt san Ecclesia orans (Giáo Hội cầu nguyện), nhờ đó các tín hữu biết cầu nguyện với phụng vụ và nuôi dưỡng đời sống tâm linh của họ nhờ phụng vụ. Ba năm sau, đan viện lại chora đời một trong các ấn hành về khoa học phụng vụ có phẩm chất nhất: đó là Jahrbuch fuer Liturgiewissenschaft (Niên Tập Khoa Học Phụng Vụ), với mục đích xây dựng một nền tảng thần học cho Phong trào Phụng vụ. Trong bối cảnh đó nổi bật lên gương mặt và hoạt động của đan sĩ O. Casel.

Phong trào Phụng vụ còn có một báo cáo liên quan đến chuyển dịch Sách lễ Rôma ra tiếng địa phương, xuất bản Sách lễ dành cho giáo dân, mở các khóa học phụng vụ, xuất bản tạp chí Phụng vụ Những Vấn Nạn Phụng Vụ. Từ năm 1920, tại Pháp, Sách Lễ của Dom Lefebvre dịch những lời nguyện trong Thánh Lễ ra ngôn ngữ của dân chúng nhằm giúp họ tiện dụng trong Thánh Lễ và cho phép họ tham dự nhiều hơn vào phụng vụ. Năm 1943, Trung Tâm Mục Vụ Phụng vụ được thành lập. Trung tâm này xuất bản tạp chí La Maison - Dieu để phổ biến những sáng kiến phụng vụ, huấn luyện về mục vụ phụng vụ và tìm hiểu nguồn gốc phụng vụ. Kể từ năm 1950, dân Pháp liên kết với tạp chí La Maison - Dieu để tổ chức những Hội nghị Quốc tế về Phụng vụ trong đó các tham dự viên bàn về việc dùng tiếng địa phương, đồng tế cũng như khởi sự hình thành và lan rộng những nhóm phụng vụ tại giáo xứ. Các tuần phụng vụ tổ chức tại Mont-César khiến cho Phong trào Phụng vụ lan nhanh ở Pháp và trong các quốc gia tại u châu, rồi từ từ vén mở cho thấy một trong các yếu tố định đoạt nhất của việc canh tân Giáo Hội.

Những người khởi xướng Phong trào Phụng vụ muốn xoáy sâu vào việc canh tân phụng vụ thánh bằng cách xem xét lại chính các bản văn phụng vụ. Họ tin rằng nếu như thẩm tra lại những bẳn văn này, mỗi tín hữu sẽ có thể hiểu biết một cách sâu xa hơn không những mục tiêu của phụng vụ mà còn cả các phương thế để đạt đến mục tiêu ấy một cách hiệu quả nhất bao nhiêu có thể.

“Hãy nâng tâm hồn lên” trong Phong trào Phụng vụ

Sử dụng chính những lời trong cuộc đối thoại “Hãy nâng tâm hồn lên”, Hellriegel đã nỗ lực mô tả chức năng và mục đích của cuộc đối thoại này tại Tuần Phụng vụ Quốc gia được tổ chức vào năm 1951 ở Dubuquem, bang Iowa (Hoa Kỳ). Theo đó, Hellriegel chỉ ra rằng trong cuộc đối thoại “Hãy nâng tâm hồn lên”, vị tư tế và các tín hữu tham dự Thánh lễ hợp nhất với nhau hầu đi đến Hy tế Thánh Thể sắp diễn ra:

Vị chủ tế khởi sự kinh Tiền tụng lớn, đây là “Kinh nguyện Thánh Thể” cổ xưa mà chính thức khai mở Lễ quy của Thánh lễ. Trong một cách thức rất thực, nó hợp nhất chúng ta, dưới sự chủ tọa của linh mục, cùng với các thiên thần và các thánh trên trời, chung tiếng hát lên bài ca chúc tụng không cùng: “Thật là chính đáng” khi chúng ta hành động như thế, bấy giờ, chúng ta “nâng cả tâm hồn lên” nữa và đôi tay với hiến lễ thánh còn tâm trí thì luôn hướng về gia sản vinh quang của chúng ta nhờ Chúa Kitô, và hướng về vương quốc của Ngài.[2]

Mặc dầu nói đến toàn bộ Kinh nguyện Thánh Thể, thế nhưng Hellriegel muốn diễn tả rằng những lời của cuộc đối thoại “Hãy nâng tâm hồn lên” trình bày một cái nhìn duy nhất về những gì sẽ diễn ra trong chính Lễ quy. Ba lần xướng đáp miêu tả sự việc chẳng bao lâu nữa sẽ diễn ra trong và qua bí tích Thánh Thể: Khi tiến dâng chính mình lên Cha trên trời, các tín hữu hợp nhất trong và qua Hy tế Thánh Thể mà trở nên một phần của hành động tiến dâng vốn dĩ tôn vinh Thiên Chúa cách trọn vẹn và đem đến hiệu quả là thánh hóa nhân loại. 

Một diễn giải khác về cuộc đối thoại “Hãy nâng tâm hồn lên” đến từ Joseph Kreuer, OSB. Vị đan sĩ này sử dụng vừa các công trình của phụng vụ thánh lẫn tác phẩm của các giáo phụ để giải thích phần đặc biệt này của Thánh lễ: 

“Hãy nâng tâm hồn lên” của Thánh lễ nhắc nhớ chúng ta những lời trong bài Thánh Thư của thứ Bảy Tuần Thánh: “Hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới.” Thánh Augustinô viết: “Chúng ta được mời gọi để nâng tâm hồn lên. Đây không phải là bổn phận của các chi thể của Chúa Kitô sao? Anh chị em đã trở thành chi thể của Chúa Kitô, vậy thì đầu của anh chị em ở đâu? Anh chị em nhắc lại những gì trong kinh Tin kính? “Và ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại, Ngài lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng.” Đây là lý do tại sao Hội Thánh mời gọi anh chị em nâng tâm hồn lên với Chúa; và lời đáp của anh chị em là “Chúng con đang hướng tâm hồn mình lên Chúa.[3]

Joseph Kreuer nối kết cuộc đối thoại “Hãy nâng tâm hồn lên” với mục tiêu thứ hai của phụng vụ, tức là thánh hóa nhân loại. Ngài tin rằng những lời trong cuộc đối thoại này tượng trưng cho hành động sắp diễn ra trong linh hồn và lòng tâm trí của các tín hữu đang hiện diện. Vì thế, ngài tiếp tục phát biểu:

Theo những lời của phụng vụ, chúng ta phải được “đổi mới cả thân xác lẫn linh hồn” (Lời Tổng nguyện thứ Bảy Tuần Thánh) và “được thanh tẩy khỏi mọi vết nhơ con người cũ và biến đổi thành thọ tạo mới” (Lời nguyện [sau] Hiệp lễ thứ Tư trong tuần Phục sinh). Để sản sinh ra những hoa trái này, chúng ta phải đem ra thực hành những điều Hội Thánh đã dạy trong bài thánh thư đọc hôm thứ Bảy Tuần Thánh: “Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới” (Col 3, 1-2).[4]

Joseph Kreuer giải thích rằng cuộc đối thoại “Hãy nâng tâm hồn lên” là sự diễn tả ra bên ngoài một cách trọn vẹn thái độ cầu nguyện nội tâm mà tất cả các tín hữu được mời gọi đi tới. Vì tín hữu là chi thể của Thân mình Chúa Kitô, cho nên phải bắt chước gương mẫu của Ngài – không thể chỉ theo Ngài vào thiên đàng với thân xác, nhưng các tín hữu còn phải nỗ lực để đi theo Ngài với cả lòng trí của mình nữa. Điều chúng ta có thể học được từ ví dụ này là cuộc đối thoại “Hãy nâng tâm hồn lên” không chỉ được diễn dịch như một phần lõi của chính Kinh nguyện Thánh Thể, như đã thấy ở trên, mà còn diễn tả thái độ cần thiết cho toàn bộ đời sống của người Kitô hữu nữa.

Joseph Kreuer tiếp tục thắt nối cuộc đối thoại “Hãy nâng tâm hồn lên” với không chỉ đời sống của Kitô hữu trên trần gian, mà còn chứng tỏ cuộc đối thoại này tượng trưng cho sự toàn vẹn của đời sống Kitô hữu, cùng với các thiên thần và các thánh. Thái độ này trong kinh nguyện của người Kitô hữu là cần thiết để tôn vinh Thiên Chúa.

“Hãy nâng tâm hồn lên” là sự kết hợp của Hội Thánh trên trời với Hội Thánh dưới trần; “Hãy nâng tâm hồn lên” ghi dấu chiến thắng trên sự chết, trên sự chia rẽ. Cùng với tất cả các thiên thần, chúng ta công bố lòng thương xót và sự vĩ đại của Thiên Chúa. Do vậy, thực thi và hoạt động như những công dân nước trời, chúng ta hòa nhập tiếng nói của mình với tiếng hát của ca đoàn thiên thần mà reo lên: Thánh! Thánh!Chí Thánh! trời đất đầy vinh quang Chúa.[5]

Xem xét những gì các giáo phụ đã nói, chúng ta nhận ra rằng một số các vị khởi xướng Phong trào Phụng vụ có lẽ chỉ là lặp lại ý tưởng của giáo phụ mà thôi: cuộc đối thoại “Hãy nâng tâm hồn lên” là sự tán đồng của các tín hữu đang quy tụ đối với những gì sắp xảy ra (Hy tế của Chúa Kitô).

Do đó, đúng như vậy, từ những ngày xa xưa nhất, vị chủ tế đã luôn luôn mời gọi cộng đoàn: “Hãy tạ ơn Chúa là Thiên Chúa chúng ta”: chúng ta hãy cùng nhau tiến dâng nghi thức tạ ơn này, Hy lễ Tạ ơn này. Và khi kinh nguyện vĩ đại - hành vi tạ ơn này hoàn tất, tất cả dân chúng phải làm chứng cho sự tham gia của mình bằng việc thưa “Amen” – điều này hẳn muốn diễn tả rằng: “Ngài đã nói và hành động thay cho chúng tôi.[6]

Chúng ta có thể nhận ra trong các nguồn tài liệu của Phong trào Phụng vụ cũng chứa đựng những chủ đề tương tự như các giáo phụ thời xưa. Theo đó, cuộc đối thoại “Hãy nâng tâm hồn lên” là một sự biểu hiện của Nhiệm Thể Chúa Kitô; nhờ được lôi kéo vào trong Nhiệm Thể Chúa Kitô, các tín hữu được tháp nhập vào trong Hy tế Thánh Thể của Ngài. Hơn nữa, đó cũng là phương thế mà các tín hữu, vừa một cách cộng thể vừa một cách đơn độc, tiến dâng hy lễ của họ lên Cha 
trên trời. Hậu nhiên, cuộc đối thoại này là một sự thể hiện lý tưởng của thái độ mà mọi Ki tô hữu phải có khi cầu nguyện. 
Lm. Giuse Phạm Đình Ái, SSS

[1] Xc. Robert L. Tuzik, Leaders of the Liturgical Movement (Chicago: Liturgy Training Publications, 1990), 17-22.

[2] Martin B. Hellrigel, “A Demonstration of Low Mass”, National Liturgical Week held at Loras College, Duquque, Iowa, August 20-23, 1951 (Conception, MO: The Liturgical Conference, 1951), 10.

[3]Joseph Kreuer, OSB, “Resurrection”, Orate Fratres 5 (April 1931): 252.

[4]Joseph Kreuer, OSB, “Resurrection”, 251.

[5]Joseph Kreuer, OSB, “Resurrection”, 252.

[6] Godfrey Diekmann, OSB, “With Christ in the Mass”, National Liturgical heldin Porland, Oregon, August 18-21, 1947 (Boston, MA: The Liturgical Conference, 1948), 46.