Ai Đã Sáng Tạo Ra Các Chặng Đàng Thánh Giá?

25 Tháng Ba 20194:27 CH(Xem: 551)

Ai đã sáng tạo ra Các Chặng đàng Thánh giá?

# GNsP 16.03.2019 – Ai đã sáng tạo ra Các Chặng đàng Thánh giá?

Có một vị thánh nào đó đã bắt đầu? Hay nhiều người?

Trải qua nhiều thế kỷ, một trong những cách sùng kính phổ biến nhất đứng vững với thời gian là Chặng đàng Thánh Giá (cũng còn gọi là Chặng đàng, và tiếng Latinh là Via Crucis). Nó bao gồm một số “chặng” tại đó con người hồi tưởng lại những bước chân của Chúa Giê-su Ki-tô trong cuộc Thương Khó và cái chết của Người.
dangthanhgia

Theo truyền thống cổ xưa, Mẹ Maria Đồng Trinh đến viếng những địa điểm chịu nạn, chịu chết, và phục sinh hàng ngày sau khi Người về Trời. Nhiều truyền thống cũng cho rằng Mẹ Maria theo dấu chân Chúa Giê-su lên đồi Can-vê.

Tuy nhiên, khi thực hiện việc này, Mẹ Diễm Phúc không tạo ra cách sùng kính phổ biến bằng những lời kinh và các “chặng đàng” cụ thể để đi. Mẹ chỉ đơn thuần muốn sống lại những biến cố trọng đại của cuộc thương khó của Chúa Giê-su và ghi nhớ tất cả “trong lòng Mẹ,” chiêm niệm sự hy sinh vĩ đại Người đã làm.

Theo Bách khoa Toàn thư Công giáo, mãi đến một vài thế kỷ sau thì “một cụm các nhà nguyện liên kết được xây dựng đầu thế kỷ thứ năm bởi Thánh Petronius, Giám mục thành Bologna, với mục đích miêu tả những đền thờ Giê-ru-sa-lem quan trọng hơn … Đây có thể được xem là nguồn gốc để các Chặng Đàng được phát triển sau đó, tuy nhiên một điều khá chắc chắn là chẳng điều gì chúng ta có trước thế kỷ có trước hoặc vào khoảng thế kỷ thứ năm có thể được gọi cụ thể là Chặng đàng Thánh giá theo ý nghĩa hiện đại.”

Vào thời Trung Cổ, Đất Thánh trở thành một vùng đất đầy biến động và người hành hương không thể dễ dàng tiếp cận các đền thờ Cuộc Thương Khó của Chúa Giê-su, do đó các cha Dòng Phan sinh và các Dòng khác trên khắp Châu Âu bắt đầu xây các nhà nguyện và đền thờ tái tạo lại các thánh địa này ở Giê-ru-sa-lem. Đặc biệt linh mục Chân phước Dòng Đaminh Álvaro thành Córdoba làm lan tỏa sự sùng kính này trên khắp Châu Âu, bắt đầu từ Cordoba, tại đây ngài dựng lên các nhà nguyện nhỏ tương tự như kiểu cách của các chặng đàng hiện đại ngày nay.

Theo Cha William Saunders, “William Wey, một người hành hương người Anh, đến thăm Đất Thánh năm 1462, và được cho là đã đặt ra tên ‘chặng đàng.’ Ông mô tả cách thức một người hành hương đi theo những bước chân của Đức Ki-tô.” Tên gọi này trở thành phổ biến trong tiếng Anh và cuối cùng được dùng để đặt cho những cảnh dựng trong các nhà thờ.

Vào thế kỷ thứ 17 các cha Dòng Phan sinh muốn bắt đầu dựng lên các “chặng đàng” này phía bên trong các bức tường nhà thờ và xin phép Roma. Ngoài ra, các ngài muốn tín hữu cũng được ban ân xá giống như ân xá ban cho những người đi đến Giê-ru-sa-lem. Đức Giáo hoàng Innocent XI nhận thấy nhu cầu và ban phép theo yêu cầu, mở ra con đường cho các Chặng đàng Thánh giá chúng ta biết ngày nay.

Do đó, các sử gia không thể nói rằng chỉ có một người cụ thể khởi đầu các Chặng đàng Thánh giá. Rất nhiều người thánh thiện qua nhiều thế kỷ, bắt đầu từ Mẹ Maria Đồng trinh Diễm phúc, đã đi theo các bước chân của Chúa Giê-su Ki-tô, chiêm ngắm Cuộc Thương khó và cái chết của Người. Đó là một truyền thống đẹp, một truyền thống đã phát triển có kết cấu theo năm tháng.

Nguồn: aleteia
TMCNN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Việc các tín hữu Công giáo sử dụng hình thập giá là đi theo một truyền thống cổ xưa vốn tôn kính hiến tế tối cao của Đức Giêsu. Trong khi thập giá đơn thuần là một biểu tượng chung của Kitô giáo được sử dụng bởi tất cả các giáo hội Kitô thì Công giáo lại thường xuyên sử dụng thập giá, một thập giá có thân thể bị tra tấn của Đức Giêsu Kitô. Tại sao vậy?
chúng ta thật khó để thoát ra lối suy nghĩ rằng Thiên Chúa hẹp hòi, ích kỷ và hay trả thù. Chẳng hạn, những người làm điều ác, xúc phạm đến Thiên Chúa, Ngài có trừng trị họ không? Thật khó để trả lời rốt ráo! Nhiều trường hợp chúng ta thấy họ gặp tai ương và đối diện với cái chết. Phải chăng đó chỉ là sự trùng hợp, hay “lưới trời lồng lộng”? Hoặc ít ra đó là lời cảnh giác, nhắn nhủ cho những ai xúc phạm đến Thiên Chúa hoặc làm điều dữ. Những gì chúng ta thấy, chỉ là suy diễn của con người.
Chúng tôi xin trình bày bốn điểm: 1/ Khái niệm, xét theo ngôn ngữ thông thường và trong lịch sử đời tu. 2/ Kinh thánh. 3/ Giá trị. 4/ Thực hành. I. Ý nghĩa Có người định nghĩa “khó nghèo” là “khó mà nghèo”. Thiết tưởng điều khó khăn không chỉ nằm ở chỗ thực hành, mà ngay từ quan niệm: Nghèo là gì ? Thế nào là nghèo ? Tại sao phải sống nghèo ? Trước hết, chúng ta hãy điểm qua vài ý niệm sơ đẳng về cái nghèo. Kế đó, chúng ta sẽ rảo qua những quan niệm khác nhau của các Dòng tu về lời khuyên nghèo khó.
Trải qua lịch sử tu trì trong Giáo hội, ta thấy có rất nhiều hình thức thực hiện việc cầu nguyện, sự khó nghèo, sự tuân phục, đời sống cộng đồng. Tuy nhiên, tính cách đa dạng xem ra không áp dụng cho vấn đề khiết tịnh: thực vậy, phàm ai đã đi tu thì phải khước từ hôn nhân. Nghĩa vụ tối thiểu này bó buộc tất cả các tu sĩ thuộc bất cứ Dòng nào. Tuy nhiên, nếu nhìn dưới nghĩa vụ pháp lý thì lời khuyên khiết tịnh quả là bất biến trải qua giòng lịch sử; nhưng nếu xét tới các động lực và lý thuyết thì nói được là khá đa dạng.
Chúng ta đã điểm qua những văn kiện của Giáo hội về đời sống tu trì. Lý tưởng đời tu được định nghĩa qua ba thuật ngữ: đi theo Đức Kitô, thánh hiến, đặc sủng. Ba thuật ngữ này dựa trên căn bản của Tân ước, nhắm nêu bật mối tương quan giữa đời tu trì với Thiên Chúa Ba ngôi: Thiên Chúa kêu gọi con người hãy theo gương Đức Kitô dâng hiến trót đời để phụng sự Nước Trời; con người ý thức ơn gọi ấy và đáp trả nhờ đặc sủng của Thánh Linh. Lý tưởng tổng quát được diễn tả cụ thể qua việc tuyên giữ ba lời khuyên Phúc âm. Đây là đặc trưng của sự thánh hiến của các tu sĩ, khác với những sự thánh hiến khác trong Giáo hội, như tông huấn Vita consecrata đã trình bày ở số 30. Nói khác đi, ba lời khuyên Phúc âm là yếu tố cốt yếu của đời thánh hiến.
Cầu nguyện hay cầu xin là hai động tác mới nghe qua tưởng như giống nhau, nhưng trong thực tế, hai hành động này hoàn toàn khác nhau về ý nghĩa tu đức và thần học. Tuy nhiên, có thể nói cho đến nay, phần đông giáo dân Việt Nam vẫn cho rằng cầu nguyện là đọc các kinh và xin ơn.
WGPSG-- Ngày nay, dường như người ta có thể mất lòng tin ở bất cứ nơi nào, dù nơi đó có thể gọi là nhà thương hay trường học. Đơn giản là vì ngay cả những nơi cần có lòng nhân hay là nơi đào tạo con người trở thành nhân lại là nơi sát nhân.-28/4/2018
Trong nghi thức mặc áo và khấn dòng của Anh em Giảng thuyết, vị chủ sự hỏi thỉnh sinh nằm giang tay phủ phục dưới đất: “Anh xin gì?” (Quid petis?). Thỉnh sinh đáp lại: “Lòng lân tuất của Chúa và của anh em” (Misericordiam Dei et vestram). Chúng ta đã nhiều lần được nghe giải thích ý nghĩa của cuộc đối đáp này, vì thế tôi xin miễn lặp lại, nhưng tôi chỉ xin mạn phép vạch ra một kẽ hở, đó là câu trả lời quá khái quát, và nhà dòng không có cơ hội để điều tra ý định của thỉnh sinh cách thấu đáo hơn.
Nhật báo L’Osservatore Romano ngày 27/4/2019 cho biết Ủy ban thần học quốc tế vừa công bố văn kiện về “Tự do tín ngưỡng” được Đức Thánh Cha Phanxicô phê chuẩn ngày 21 tháng 3 vừa qua. Có lẽ vì là văn kiện của một “cơ quan nghiên cứu” (chứ không phải “cơ quan quản trị”) của Tòa Thánh[1], cho nên không có buổi họp báo để ra mắt với báo giới. Trong số báo vừa nói, chỉ có một bài giới thiệu vắn tắt của cha Serge-Thomas Bonino O.P., Thư ký của ủy ban.
Đức ông (Monsignor) là một tước vị danh dự do Đức Thánh Cha ban theo đề nghị của các giám mục địa phương cho một số linh mục có công trạng trong việc phục vụ Giáo hội tại các giáo phận trên toàn thế giới, hoặc cho các linh mục nhân viên của Tòa Thánh làm việc trong các cơ quan trung ương tại Giáo triều Rôma hoặc trong các phái bộ ngoại giao của Tòa Thánh ở các quốc gia trên thế giới.
Bảo Trợ