Vài Nét Về Kinh Cầu Các Thánh

29 Tháng Mười 20198:51 SA(Xem: 934)
Trong Hội Thánh, có tới khoảng 190 Kinh Cầu khác nhau. Tuy vậy, chỉ có 5 Kinh Cầu được sử dụng phổ biến hơn cả. Đó là: Kinh Cầu Loreta (còn gọi là Kinh Cầu Đức Bà); Kinh Cầu Thánh Danh; Kinh Cầu Trái Tim Đức Chúa Giêsu; Kinh Cầu Ông Thánh Giuse; Kinh Cầu Các Thánh. Trong số này, Kinh Cầu Các Thánh được xem là lời kinh cổ xưa nhất, long trọng nhất và là kiểu mẫu cho các kinh cầu khác.

all saint-cacthanh
Trong Hội Thánh, có tới khoảng 190 Kinh Cầu khác nhau. Tuy vậy, chỉ có 5 Kinh Cầu được sử dụng phổ biến hơn cả. Đó là: Kinh Cầu Loreta (còn gọi là Kinh Cầu Đức Bà); Kinh Cầu Thánh Danh; Kinh Cầu Trái Tim Đức Chúa Giêsu; Kinh Cầu Ông Thánh Giuse; Kinh Cầu Các Thánh. Trong số này, Kinh Cầu Các Thánh được xem là lời kinh cổ xưa nhất, long trọng nhất và là kiểu mẫu cho các kinh cầu khác.

Gọi là “Kinh Cầu Các Thánh” bởi vì kinh nguyện này gồm những lời khẩn cầu một số các thánh cũng như Đức Mẹ Maria - Nữ vương các thánh. Thật ra, chúng ta không cầu xin các thánh. Chúng ta chỉ xin các thánh chuyển cầu cho chúng ta trước mặt Chúa. Điều này diễn tả lòng tin cậy của Giáo hội vào sự chuyển cầu của các thánh. Đây là sự hiệp thông vốn kết hợp Giáo hội của Giêrusalem trên trời với Giáo hội lữ hành dưới thế.1

I. LỊCH SỬ

Chúng ta không rõ Kinh Cầu Các Thánh được ai soạn ra và soạn ra khi nào. Chỉ biết rằng, bên Đông phương, Kinh Cầu Các Thánh đã được hát lên ngay từ thế kỷ III (năm 270). Bên Tây phương, năm 590, Đức Giáo Hoàng Grêgôriô Cả (540-604) yêu cầu hát kinh này trong cuộc rước công khai để xin  Thiên Chúa chấm dứt cơn dịch tàn phá Rôma. Ngài cũng quy định hát Kinh Cầu Các Thánh vào ngày 25 tháng Tư trong nghi thức Cầu mùa. Quãng đầu thế kỷ VII, bản văn Kinh Cầu Các Thánh rất ngắn: chỉ vỏn vẹn kêu cầu Đức Kitô, Đức Trinh nữ Maria, 4 Thánh tông đồ (Phêrô, Phaolô, Anrê, Giacôbê) và 2 Thánh tử đạo (Stêphanô và Lôrensô).

blank
Kinh cầu các thánh được cất lên trong thánh lễ truyền chức

Thời gian trước Công đồng Vatican II,  theo sách Nghi thức Rôma và Sách lễ Rôma, Kinh Cầu Các Thánh được sử dụng khi đi rước và trong một số nghi lễ.2

Hiện nay, như được quy định trong Lịch Phụng vụ Rôma (21-03-1969), Bộ Phụng tự duy trì hai phiên bản Kinh Cầu Các Thánh để sử dụng cho những trường hợp khác nhau:

1) Phiên bản dài: sử dụng trong trường hợp cầu khẩn trọng thể và đi rước như hát trong dịp Cầu mùa; cuộc rước kiệu trong mùa Chay; hay khi di chuyển thi thể người quá cố từ nhà tư đến thánh đường.

2) Phiên bản ngắn: sử dụng trong các trường hợp làm phép trọng thể và thánh hiến diễn ra trong thánh lễ: nghi thức làm phép nước Thánh Tẩy trong đêm Vọng Phục Sinh; nghi thức phong chức giám mục, linh mục và phó tế;3 nghi thức chúc phong viện phụ hay viện mẫu;4 nghi thức khấn dòng, thánh hiến trinh nữ;5

blank

Ngoài ra, chúng ta còn có phiên bản cực ngắn, nghĩa là bản văn được bỏ đi nhiều phần cho thật đơn giản nhằm mục đích sử dụng khi: cử hành Bí tích Thánh Tẩy cho trẻ em;6 phó linh hồn cho người mới qua đời;7

Kinh Cầu Các Thánh còn được hát đang khi đoàn rước các ĐHY tiến vào nhà nguyện Sistine tham dự mật nghị Hồng y bầu Đức Giáo Hoàng; trong nghi lễ phong thánh; khi nhập lễ mừng kính Các Thánh Nam Nữ (01 tháng 11). Vào ngày 20 tháng Hai năm 1988, Bộ Phụng tự Thánh đề nghị sử dụng Kinh Cầu Các Thánh khi bắt đầu thánh lễ Chúa nhật thứ I mùa Chay nhằm tạo thêm một dấu khác biệt cho mùa này.8

II. CẤU TRÚC

Cấu trúc của Kinh Cầu Các Thánh như sau (theo bản Kinh Cầu Các Thánh mới):

1) Khẩn cầu Thiên Chúa Ba Ngôi (cộng đoàn đáp: Xin Chúa thương xót chúng con)

2) Khẩn cầu các Thánh (cộng đoàn đáp: Xin cầu cho chúng con)

3) Kêu cầu Đức Kitô. Phần này chia thành hai nhóm: i] Nhóm I: cầu xin được giải thoát khỏi những điều tiêu cực như: sự dữ; tội lỗi; án chết đời đời (cộng đoàn đáp: “Xin Chúa cứu chữa chúng con”), ii] Nhóm II: nài xin được giải thoát nhờ những biến cố trong cuộc đời cứu độ của Chúa Giêsu: giáng sinh, chịu chết và sống lại; đổ ơn Chúa Thánh Thần xuống (cộng đoàn đáp: “Xin Chúa cứu chữa chúng con” hoặc là “Xin Chúa giải thoát chúng con”)

blank

4) Những lời chuyển cầu cho những nhu cầu khác nhau (cộng đoàn đáp: “Xin Chúa nghe lời chúng con” hoặc “Xin Chúa nghe cho chúng con”)

5) Những lời nguyện kết thúc.

III. THÊM BỚT - THAY ĐỔI TRONG KINH CẦU CÁC THÁNH?

1. Lý do và nguyên tắc

Không những chúng ta được phép thêm bớt số các thánh mà còn là việc hết sức nên làm bởi những lý do sau: i] Thứ nhất, các tài liệu phụng vụ của Giáo hội đều nhắc nhở và đề nghị thêm bớt danh sách các thánh vào chỗ thích hợp cũng như cho phép thêm một vài lời thỉnh nguyện nữa thích hợp hơn với từng hoàn cảnh;9 ii] Thứ hai, Sổ bộ các thánh hiện nay (năm 2005) gồm đến 7000 vị thánh và chân phước.10

Với số lượng đông đảo các thánh và chân phước ở khắp hoàn vũ như vậy, cho nên trong những hoàn cảnh riêng biệt khi cử hành, chúng ta nên uyển chuyển thêm bớt danh sách các thánh cho phù hợp với thực tế.

blank

Điều quan trọng khi thêm bớt con số các thánh, chúng ta phải tuân thủ một số nguyên tắc:

1) Thứ nhất, chỉ thêm các thánh và chân phước được liệt kê trong Sổ bộ các thánh của Giáo hội;11

2) Thứ hai, tên của vị thánh được thêm vào phải nằm đúng hàng ngũ của ngài. Hàng ngũ các thánh được chia làm 7 nhóm và được xếp theo thứ tự sau: i] Đức Mẹ và thánh thiên thần; ii] Các thánh tổ phụ cùng các thánh tiên tri; iii] Các thánh tông đồ cùng các thánh môn đệ Đức Giêsu; iv] Các thánh tử đạo; v] Các thánh giám mục cùng các thánh tiến sĩ; vi] Các thánh linh mục và tu sĩ; vii] Các thánh giáo dân. Như vậy, chiếu theo nguyên tắc này, đúng ra các Thánh Tử đạo Việt Nam phải được xếp vào hàng ngũ các thánh tử đạo hơn là ở cuối sổ.12

3) Thứ ba, ngay trong một hàng ngũ, cần tuân thủ tập tục này: i] thánh nam được xếp trước thánh nữ; ii] thánh nào được Chúa gọi về trước thì xếp trước. Ví dụ, Thánh Faustina (qua đời năm 1938) phải được xếp sau Thánh Rosa Lima (ly trần năm 1617); Thánh Bernadette Soubirous (qua đời năm 1879) phải được xếp sau Thánh Rosa Lima (qua đời năm 1617) nhưng trước Thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu (ly trần năm 1897). Tuy nhiên, đôi khi tập tục này cũng có thay đổi. Chẳng hạn, trong hàng ngũ các thánh linh mục và tu sĩ, mặc dầu Thánh Ignatiô ( - 1556) chết sau Thánh Phanxicô Xaviê (-1552) tới 4 năm, nhưng vẫn được xếp trước vì tôn trọng ngài là vị sáng lập Dòng Tên trong khi vị thánh quan thầy truyền giáo chỉ là thành viên của hội dòng này.

4) Thứ bốn, tên của vị thánh được thêm vào không quá xa lạ đối với cộng đoàn cử hành.

2. Áp dụng cụ thể 13

a) Con số các thánh

- Trong thánh lễ an táng Đức Giáo Hoàng, thêm vào Kinh Cầu Các Thánh các thánh giáo hoàng và các thánh của giáo phận Roma.

- Trong nghi thức tấn phong giám mục, nêu danh tánh tất cả các thánh tông đồ theo thứ tự: Phêrô, Phaolô, Anrê, Giacôbê, Tôma, Giacôbê, Philipphê, Bartôlômêô, Simon, Tađêô, Matthia.

Trong lễ phong chức linh mục, không thêm vị nào khác;

Trong lễ phong chức phó tế, thêm hai Thánh Vincentê [-304] (sau Thánh Lorensô [-258]) và Thánh Ephrem [-373] (trước Thánh Basiliô [-379]).

Trong lễ thánh hiến trinh nữ, thêm các Thánh trinh nữ Macrina (-340), Scholastica (-543), Clara (-1253), Rosa Lima (-1617), Louise Marillac (-1660), Margaret Maria Alacoque (-1690), Têrêsa Hài đồng Giêsu (-1897), Maria Goretti (-1902), Genoveva (-1956).

Trong lễ khấn trọn đời của các tu sĩ: Bỏ tên các Thánh Inhaxiô Antiôkia, Grêgôriô, Atanasiô, Martinô, Phanxicô Xaviê, Gioan Maria Vianney. Ngoài việc có thể thêm tên các thánh riêng của dòng thì đối với dòng nam, thêm các Thánh  Bênađô (-1153), Ignaxiô Loyola (-1556), Vinh Sơn Phaolô (-1660), Gioan Boscô (-1888) và đối với dòng nữ, thêm các Thánh nữ Macrina (-340), Clara (-1253), Catarina Siena (-1380), Rosa Lima (-1617), Gioanna Francisca de Chantal (-1641), Louise Marillac (-1660).

Trong nghi lễ chúc phong viện phụ: bỏ tên Thánh Catarina Siena nhưng thêm các Thánh: Columbanô (-615), Bêđa (-735), Rômualđô (-1027), Brunô (-1101), Bênađô (-1153), hai Thánh nữ Scolastica (-543) và Clara (-1253).

b) Các lời khẩn nguyện cho các nhu cầu trong các dịp truyền chức, khấn dòng được thích nghi theo hoàn cảnh:

Trong lễ truyền chức, thêm ba lời khấn nguyện, mỗi lần tăng thêm một động từ: i] Xin Chúa đoái thương chúc lành cho vị thụ phong này; ii] Xin Chúa đoái thương chúc lành và thánh hóa vị thụ phong này; iii] Xin Chúa đoái thương chúc lành, thánh hóa và thánh hiến vị thụ phong này.

c) Nếu sử dụng Kinh Cầu Các Thánh trong nghi thức an táng một tín hữu đã qua đời, chúng ta có thể thay câu đáp “Xin cầu cho chúng con” bằng câu “Xin cầu cho tín hữu này”.

d) Nếu sử dụng Kinh Cầu Các Thánh khi đi viếng đất thánh vào ngày lễ cầu cho các tín hữu đã qua đời (2/11), chúng ta có thể thay câu đáp “Xin cầu cho chúng con” bằng câu “Xin cầu cho các tín hữu này”.

Lm. Giuse Phạm Đình Ái, Dòng Thánh Thể

_________________________________________________

1 Xc. Hội đồng Giám mục Việt Nam - Ủy ban Văn hóa, Hướng dẫn về Lòng Đạo đức Bình dân và Phụng vụ, số 235.

2 Cầu mùa; thời kỳ khó khăn; các dịp thống hối; các cuộc rước di tích các thánh; trừ quỷ long trọng; tôn thờ Thánh Thể 40 giờ; cung hiến thánh đường và bàn thờ; tấn phong giám mục; chúc phong viện phụ và viện mẫu; thánh hiến trinh nữ ; thánh lễ thứ Bảy Tuần Thánh và thánh lễ Vọng Chúa Thánh Thần Hiện xuống…

3 Nghi thức Phong chức, số 78. 127. 203. 231. 273; Lễ nghi Giám mục, số 507. 529. 580.

4 Nghi thức Chúc phong Viện phụ, số 21; Nghi thức Chúc phong Viện mẫu, số 16.

5 Nghi thức Khấn dòng cho nam tu, số 62; Nghi thức Khấn dòng cho nữ tu, số 67; Lễ nghi Giám mục, số 730. 746. 758. 779.

6 Nghi thức Rửa tội cho Trẻ em, số 48. 85.

7 Nghi thức Xức dầu và Chăm sóc Mục vụ cho Bệnh nhận, số 145.

8 Circular Letter Concerning the Preparation and Celebration of the Easter Feasts, số 23.

Xc. Hướng dẫn về Lòng Đạo đức Bình dân và Phụng vụ, số 235; Nghi thức Phong chức, số 78. 127. 203. 231. 273; Lễ nghi Giám mục, số 507. 529. 580; Nghi thức Chúc phong Viện phụ, số 21; Nghi thức Chúc phong Viện mẫu, số 16; Nghi thức Khấn dòng cho nam tu, số 62; Nghi thức Khấn dòng cho nữ tu, số 67.

10 Adoremus Bulletin (Online Edition) February 2005, Vol. X, No. 10.

11 Xc. Hướng dẫn về Lòng Đạo đức Bình dân và Phụng vụ, số 235.

12 Xc. Phan Tấn Thành, Nghi thức Phong chức Linh mục và Phó tế: Diễn giải (Học viện Đaminh, 2014), tr. 112.

13 Sđd, tr. 113-114.

Nguồn tin: Báo Công giáo và Dân tộc

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Cùng với lời kinh cầu nguyện với Đức Mẹ đã được Đức Thánh Cha đọc trong video trong Thánh lễ do Đức Hồng y Giám quản Roma cử hành tại đền thánh Đức Mẹ Tình yêu Chúa ngày 11/03 vừa qua, Đức Thánh Cha đề nghị thêm một kinh nguyện để các tín hữu cầu nguyện vào cuối buổi đọc kinh Mân Côi, xin Đức Mẹ bảo vệ thế giới khỏi đại dịch. Hồng Thủy - Vatican
Đây là lời nguyện chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam để cầu nguyện trong cơn dịch bệnh Covid-19. Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi toàn năng chúng con đang họp nhau cầu nguyện, tha thiết nài xin cho cơn dịch bệnh mau chấm dứt. Lạy Chúa Cha giàu lòng thương xót xin nhìn đến nỗi thống khổ của đoàn con trên khắp thế giới, đặc biệt tại những nơi dịch bệnh đang hoành hành. Xin củng cố đức tin của chúng con, cho chúng con hoàn toàn tín thác vào tình yêu quan phòng của Cha. Lạy Chúa Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất, là vị lương y đầy quyền năng và lòng thương xót, xin thương cho các bệnh nhân sớm được chữa lành, và an ủi các gia đình đang gặp khó khăn thử thách. Xin cho lời chúng con khiêm tốn cầu nguyện, được chạm tới trái tim nhân lành của Chúa, xin giảm bớt gánh nặng khổ đau, và cho chúng con cảm nhận được bàn tay Chúa đang ân cần nâng đỡ chúng con.
Những ngày này, cả thế giới hồi hộp với sự lây lan nhanh chóng của virus Corona. Tại Trung Quốc, nhiều thành phố nội bất xuất, ngoại bất nhập. Bầu không khí u ám, chết chóc bao trùm nhiều nơi. Tại Việt Nam cũng như nhiều nước, nhà chức trách ráo riết vào cuộc để ngăn chặn cơn dịch nguy hiểm này. Là người Công Giáo, chúng ta không thể làm gì khác hơn là cầu nguyện trong cơn đại dịch này. Vì virus Corona xuất hiện đầu tiên tại thành phố Vũ Hán bên Trung Quốc, nên virus này được đặt tên là corona/coronavirus Vũ Hán,
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ và thần học Bí tích, Giám đốc Viện Sacerdos tại Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma. Hỏi: Con rất muốn cha làm sáng tỏ một vấn đề liên quan đến việc rửa tội trong Thánh lễ. Con là phó tế trong một giáo xứ nhỏ. Con chưa rửa tội nhiều người - thường là cháu của con hoặc nếu ai đó xin con rửa tội cho con của họ. Con luôn tin rằng việc rửa tội trong Thánh lễ là thích hợp nhất. Cha xứ hiện tại của con tin rằng một phó tế rửa tội trong Thánh lễ sẽ tạo thành một sự thay đổi vị chủ tế. Con không thể tìm thấy gì để hỗ trợ cho quan điểm này. Xin cha giúp làm sáng tỏ cho con - R. D., Grand Rapids, Michigan, Hoa Kỳ.
Chúng ta không biết gì nhiều về thánh Giuse, cha nuôi của Đức Giêsu, trong Tin Mừng. Ngài chỉ được mô tả cách vắn gọn là “chồng bà Maria”, “người công chính” (x.Mt 1,19), một “bác thợ” (x.Mt 13,55). Chẳng thấy đề cập gì đến tuổi cũng như cái chết của ngài. Tuy nhiên, vài truyền thống cổ xưa cho chúng ta một chút thông tin cá nhân về ngài. Giáo Hội Chính Thống tin rằng thánh Giuse đã lớn tuổi khi thành hôn với Đức Trinh Nữ Maria. Khi trước hai người thành hôn với nhau, vợ trước của Giuse đã qua đời (Giuse đã có với vợ trước vài đứa con). Đó là lý do vì sao chúng ta thấy trong Tin Mừng có nhắc đến “anh em” của Đức Giêsu. (x.Mt 13,55-56) và chúng ta thường thấy người ta sẽ hình thánh Giuse như một ông lão.
Sinh ra trong một gia đình có truyền thống Phật Giáo, tuy nhiên, em thú nhận rằng mình chưa hiểu nhiều về giáo lý nhà Phật. Vì nhiều lý do khác nhau, em cứ để cuộc sống nổi trôi theo học tập và công việc. Trong dòng đời ấy, rất nhiều lần em được tiếp xúc với môi trường bên Kitô Giáo[1]. Em nói như thế vì không chỉ bên đạo Tin Lành thu hút em, nhưng đạo Công Giáo cũng là một con đường mời gọi em bước vào.
Có người sợ vào Luyện Hình, có người mong được vào đó; có người coi đó là bằng chứng về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, có người lại coi đó là hình phạt của Thiên Chúa. Nhiều người không biết gì về Luyện Hình, nhiều người lại quên chính mình đã từng biết.
Việc các tín hữu Công giáo sử dụng hình thập giá là đi theo một truyền thống cổ xưa vốn tôn kính hiến tế tối cao của Đức Giêsu. Trong khi thập giá đơn thuần là một biểu tượng chung của Kitô giáo được sử dụng bởi tất cả các giáo hội Kitô thì Công giáo lại thường xuyên sử dụng thập giá, một thập giá có thân thể bị tra tấn của Đức Giêsu Kitô. Tại sao vậy?
chúng ta thật khó để thoát ra lối suy nghĩ rằng Thiên Chúa hẹp hòi, ích kỷ và hay trả thù. Chẳng hạn, những người làm điều ác, xúc phạm đến Thiên Chúa, Ngài có trừng trị họ không? Thật khó để trả lời rốt ráo! Nhiều trường hợp chúng ta thấy họ gặp tai ương và đối diện với cái chết. Phải chăng đó chỉ là sự trùng hợp, hay “lưới trời lồng lộng”? Hoặc ít ra đó là lời cảnh giác, nhắn nhủ cho những ai xúc phạm đến Thiên Chúa hoặc làm điều dữ. Những gì chúng ta thấy, chỉ là suy diễn của con người.
Chúng tôi xin trình bày bốn điểm: 1/ Khái niệm, xét theo ngôn ngữ thông thường và trong lịch sử đời tu. 2/ Kinh thánh. 3/ Giá trị. 4/ Thực hành. I. Ý nghĩa Có người định nghĩa “khó nghèo” là “khó mà nghèo”. Thiết tưởng điều khó khăn không chỉ nằm ở chỗ thực hành, mà ngay từ quan niệm: Nghèo là gì ? Thế nào là nghèo ? Tại sao phải sống nghèo ? Trước hết, chúng ta hãy điểm qua vài ý niệm sơ đẳng về cái nghèo. Kế đó, chúng ta sẽ rảo qua những quan niệm khác nhau của các Dòng tu về lời khuyên nghèo khó.
Bảo Trợ