Tình Dục Và Văn Hóa

01 Tháng Giêng 20164:45 CH(Xem: 1241)

Tình dục và văn hóa

Tôi cho rằng, không một thế hệ nào trong lịch sử lại cảm nghiệm nhiều thay đổi như chúng ta trong 60 năm qua. Thay đổi này không chỉ trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, y học, du lịch và truyền thông, mà đặc biệt là trong cấu trúc xã hội, trong nền đạo đức chung của chúng ta nữa. Và có lẽ không ở đâu sự thay đổi này lai triệt để cho bằng trong cách chúng ta nhận thức về tình dục. Trong 70 năm qua, chúng ta đã chứng kiến 3 sự đảo chiều lớn trong cách hiểu vị trí của tình dục trong đời.

blank
Trước hết, chúng ta đã tách rời khái niệm tình dục có liên kết luân lý với sinh sản. Với vài ngoại lệ, trước năm 1950, ít nhất là trong các khái niệm luân lý và sống đạo, tình dục được xem là có liên kết cơ cấu với sinh sản. Mối liên kết này không phải lúc nào cũng được tôn trọng, nhưng nó là một phần trong đạo đức chung của chúng ta. Mối liên kết này, trong khi vẫn được các giáo hội gìn giữ, thì lại bị phá vỡ trong nền văn hóa chúng ta, khoảng 60 năm trước rồi.

Và sự tách rời thứ hai còn triệt để hơn nữa. Cho đến thập niên 1960, nền văn hóa chúng ta gắn chặt tình dục với hôn nhân. Khái niệm này nghĩa là nơi hợp luân lý duy nhất cho tình dục là trong hôn nhân. Một lần nữa, tất nhiên không phải lúc nào điều này cũng được tôn trọng và có nhiều người có tình dục ngoài hôn nhân. Nhưng những việc làm như thế không được chấp nhận hay chúc lành về mặt luân lý và sống đạo. Người ta có quan hệ tình dục ngoài hôn nhân, nhưng không một ai đòi cho mình quyền đó. Đây là một điều mà bạn phải thấy làm tiếc. Cuộc cách mạng tình dục trong thập niên 1960 đã cắt lìa mối liên kết này. Tình dục, đã trở thành một bước tiến trong cuộc hẹn hò, và một kết quả từ việc này là ngày càng có nhiều người sống chung không cần kết hôn hoặc trước khi kết hôn, mà không thấy có bất kỳ vấn đề luân lý nào. Điều này càng thịnh hành hơn nữa thời này, khi tình dục ngoài hôn nhân có vẻ bình thường hơn là trong hôn nhân. Ngày càng nhiều người trẻ ngày nay thấy không cần phải thảo luận luân lý về chuyện này với cha mẹ hay giáo hội của mình nữa. Câu trả lời đầu môi của họ là: ‘Chúng con không suy nghĩ như ba mẹ.’ Đúng là không.

Nhưng sự đảo chiều trong đạo đức tình dục không chỉ dừng lại ở đó. Ngày nay, chúng ta ngày càng chứng kiến, ngay cả trong khuôn viên đại học và nhỏ hơn nữa, hiện tượng tình dục ‘qua đường’ khi tình dục tách rời một cách có chủ tâm tính toán khỏi tình yêu, cảm xúc, và gắn kết. Điều này đã tạo nên một sự đảo chiều triệt để nhất. Tình dục bây giờ bị tách rời khỏi tình yêu. Như Donna Freitas ghi nhận trong quyển ‘Mục đích của Tình dục’ [The end of Sex] ngày càng nhiều thanh niên đang có một quyết định có chủ tâm là trì hoãn tìm bạn đời, bởi đang bận lo cho sự nghiệp, và trong thời gian này, khoảng 10 hay 20 năm, họ muốn mình năng động về tình dục, nhưng sự năng động tình dục này không liên quan gì đến tình yêu, cảm xúc và gắn kết (tất cả những sự mà họ thấy ái ngại vì tốn thời gian, rối rắm, và cản đường học hành, công việc, vui chơi, và tự do.) Khái niệm này, đến tận cùng vẫn gắn tình dục với tình yêu và kết ước, nhưng trước đó thì phải tách rời chúng trong một thời gian cái đã. Đáng buồn là đặc nét này đang ăn rễ trong nhiều người trẻ thời nay. Tất nhiên một lần nữa, cũng như với các đảo chiều khác trong nhận thức về tình dục, điều này cũng đã từng có trước kia, với hiện tượng mại dâm và các quán bar độc thân chẳng hạn. Nhưng cho đến trước thời điểm này, không một ai dám nhận nó là lành mạnh.

Điều đặc biệt khiến chúng ta thấy phiền lòng không phải là bởi tình dục bị đặt ngoài một nền tảng Kitô giáo đã xác định, là hôn nhân. Con người đã đấu tranh với tình dục từ thưở khai thiên lập địa rồi. Điều khiến người ta lo ngại hơn, là việc điều này ngày càng được xem là bình thường, khi con cái chúng ta nhận định và tán dương điều này như một tiến bộ luân lý, một cuộc giải phóng khỏi mông muội, và đi kèm với nó là những phát biểu thiển cận về luân lý, cho rằng bất kỳ ai vẫn còn giữ quan niệm cũ về tình dục thì cần được khai sáng về tâm lý và luân lý. Ai là người phán xét ai đây?

Tôi có một điều muốn nói, và nói không mập mờ, rằng trong nền văn hóa của chúng ta, sự khắc nghiệt trong mối dây không thể khoan nhượng giữa tình dục và hôn nhân, đơn giản là một sai lầm. Nó cũng ngây thơ nữa.

Tôi từng dự một hội nghị về tình dục, nơi diễn giả chính, một thần học gia cho rằng giáo hội luôn luôn quá cứng nhắc về tình dục. Cô đúng về chuyện này. Chúng ta vẫn còn một quãng đường rất xa để tới được sự hòa hợp lành mạnh giữa tình dục và linh đạo. Tuy nhiên, cô hỏi tiếp: ‘Tại sao lại có tất cả những lo lắng này về tình dục? Có ai bị tổn thưởng vì nó chăng?’ Một thấu suốt nhẹ nhàng hơn sẽ nói lại câu trên rằng: ‘Ai chưa từng bị tổn thương vì nó?’ Lịch sử đầy những trái tim tan vỡ, gia đình tan vỡ, cuộc đời tan vỡ, cay đắng cả đời, giết người, và tự vẫn vì tình dục.

Phải thừa nhận rằng, Giáo hội của chúng ta, chưa bao giờ có được một thần học và linh đạo đủ thiết thực và lành mạnh cho tình dục, và tất cả mọi người khác, dù là thế tục hay tôn giáo cũng vậy. Tuy nhiên, những gì Giáo hội đem lại, là luân lý và đạo đức của mình, cho nền văn hóa chúng ta một lời cảnh báo quan trọng và đúng đắn: Đừng ngây thơ về sinh lực tình dục. Nó không phải lúc nào cũng thân thiện và nhẹ nhàng như bạn nghĩ đâu!

J.B. Thái Hòa chuyển dịch từ Sex and our Culture |Ronrolheiser.com
(Nguồn: Phanxicô - VN)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
– Vào thứ Ba 8-12-2020, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã công bố Năm Thánh Giuse, để kỷ niệm 150 năm ngày thánh nhân được công bố là người bảo trợ Giáo hội hoàn vũ. Đức Giáo hoàng Phanxicô cho biết ngài thiết lập Năm Thánh này để “mọi tín hữu theo gương Thánh Giuse, củng cố đời sống đức tin bằng cách hằng ngày thực hiện trọn vẹn ý muốn của Chúa.” Dưới đây là những điều bạn cần biết về Năm Thánh Giuse: Tại sao lại có những năm được mang các chủ đề cụ thể (từ Giáo hội)? Giáo hội cử hành diễn trình của thời gian qua lịch phụng vụ - bao gồm các lễ như Phục sinh và Giáng sinh, và các mùa như Mùa Chay và Mùa Vọng. Ngoài ra, các vị Giáo hoàng còn có thể dành riêng những khoảng thời gian nào đó để Giáo hội suy ngẫm sâu sắc hơn về một khía cạnh cụ thể của giáo huấn hoặc niềm tin Công giáo. Một số năm trước đây đã được các vị giáo hoàng gần đây chọn lựa như thế, bao gồm Năm Đức Tin, Năm Thánh Thể và Năm Thánh Lòng Thương Xót.
Tại Việt Nam, ít ai biết được rằng 150 năm trước khi thi hào Nguyễn Du qua đời (1820), văn chương Công giáo đã có một tác phẩm lục bát bằng chữ Nôm đạt mức tuyệt tác: Tác phẩm Sấm Truyền Ca (1670), diễn ca 5 quyển đầu của Cựu Ước, do cha Lữ Y Đoan, một trong những linh mục thế hệ đầu của địa phận Đàng Trong. Cũng chính năm 1820 tác phẩm được phiên âm sang chữ quốc ngữ. Sau một vận mệnh hẩm hiu suốt hơn ba trăm năm, cuối thế kỷ XX chỉ còn hơn 1/5 tác phẩm sống sót: Sách Sáng Thế Ký (Tạo đoan kinh) và 21 chương đầu của sách Xuất Hành (Lập quốc kinh). Năm 1993 một số trí thức Công giáo đã thực hiện hồ sơ “Về các tác giả Công giáo thế kỷ XVII-XIX”, do Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Tp HCM ấn hành. Quyển sách đã giới thiệu tác phẩm Sấm Truyền Ca đến công chúng.
Từ ngữ: tuyên thánh đúng hơn là phong thánh: Từ phong thánh quen dùng trong tiếng Việt, nguyên ngữ từ tiếng Hy Lạp “Kanon” có nghĩa là thước đo hay tiêu chuẩn hay được nhìn nhận là có giá trị. Ý nghĩa nầy được tìm thấy trong động từ canonizare của tiếng La tinh, rồi canoniser trong tiếng Pháp và Canonize trong tiếng Anh. DHYThuan-ChaDiep.jpg Những tín hữu trong thế kỷ đầu đã phong thánh cho các Tông Đồ khi gọi các Ngài là Thánh. Những vị tử đạo cũng được gọi là thánh. Rồi những thế kỷ kế tiếp, những giáo dân có đời sống thánh thiện, nêu gương sáng và thành mực thước cho người đời cũng được tuyên bố “đang ở trên thiên đàng” tức là thánh. Như vậy theo từ Kanon và theo truyền thống, Giáo Hội không hề phong thánh hay không hề làm cho ai thành thánh cả. Giáo Hội, qua thời gian cầu nguyện lâu dài và qua những phép lạ được thực hiện nhờ lời chuyển cầu của ...
I. Nữ vương các thánh tử đạo 1) Tại sao Đức Maria được gọi là Nữ vương các thánh tử đạo? 2) Tại sao chọn Nữ vương các thánh tử đạo làm bổn mạng tỉnh dòng? 3) Tỉnh dòng có tình cảm gì đối với Nữ vương các thánh tử đạo? II. Nữ vương các chứng nhân 1) Tân ước có nền tảng cho tước hiệu Đức Maria “Nữ vương các chứng nhân” không? 2) Đức Maria đã sống đời chứng nhân đức tin như thế nào? 3) Tước hiệu “Nữ vương các chứng nhân” có ý nghĩa gì đối với chúng ta? ————- Đây không phải là lần đầu tiên tôi được mời chia sẻ với anh em nhân dịp bổn mạng tỉnh dòng. Vì không muốn lặp lại những điều đã trình bày cho nên năm nay tôi muốn tìm một lối tiếp cận mới liên quan đến danh hiệu bổn mạng tỉnh dòng, qua tựa đề: “Nữ Vương các tử đạo hay Nữ vương các chứng nhân?” Xin anh em hãy kiên nhẫn chịu tử đạo khi nghe bài suy niệm hơi dài, và có thể gây nhiều cú sốc.
Phan Tấn Thành Tại một số nhà thờ mới cất bên Việt Nam, người ta thấy trên Thập giá thay vì tượng Chúa chịu nạn lại có tượng Chúa Phục sinh hay Linh mục Thượng phẩm. Tại sao lại có sự thay đổi ấy? Từ sau công đồng Vaticanô II, người ta chứng kiến một số thay đổi trong lãnh vực phụng vụ. Thoạt tiên xem ra có vẻ mới, và khiến cho có người băn khoăn: phải chăng công đồng Vaticanô II đã thay đổi đức tin của Giáo hội? Thế nhưng nếu xét kỹ ra, thì nhiều sự thay đổi không hoàn toàn mới nhưng lấy lại truyền thống từ lâu đời của Giáo hội mà thôi. Tỉ như ngôn ngữ dùng trong phụng vụ: vào những thế kỷ đầu, phụng vụ được cử hành bằng tiếng địa phương, và thậm chí tại Rôma ngôn ngữ của phụng vụ là tiếng Hy-lạp, tức là tiếng giao thông thương mại thời đó, chứ không phải là tiếng La-tinh. Ta cũng có thể nói một cách tương tự như vậy về việc thay đổi tượng Chúa chịu nạn bằng tượng Chúa Phục sinh: đây không phải là sự canh tân, song là trở về nguồn.
Trả lời: Vâng, quả thật hộp sọ xuất hiện rất thường xuyên trong nghệ thuật Ki-tô Giáo và ngay cả ngày nay. Tôi có thể hiểu câu hỏi của bạn về thực hành này; bởi vì việc đặt hộp sọ ở khắp mọi nơi có vẻ như là một cái gì đó không lành mạnh – đặc biệt đối với những người đang sống trong một xã hội tiêu dùng và thế tục, nơi người ta thường lảng tránh suy nghĩ về những điều sâu sắc chẳng hạn như cái chết và những gì xảy ra sau đó. Một hộp sọ lành mạnh Khi nghệ thuật Ki-tô Giáo miêu tả những hộp sọ ở gần các vị thánh, nó tượng trưng cho sự khôn ngoan và thận trọng của các ngài. Hộp sọ là hình ảnh đại diện một cách sống động và hấp dẫn về cái chết của con người.
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma. Hỏi: Thưa cha, liệu Thánh lễ cầu cho người khi còn sống là hiệu lực hơn (mạnh hơn) so với Thánh lễ cầu nguyện sau khi đã chết không? Thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV đã nói Thánh lễ cầu cho khi còn sống là hiệu lực hơn. Xin cha bình luận việc này cho nhiểu người biết. - S. T., Chicago, Hoa Kỳ Đáp: Trong khi bạn đọc trên không cung cấp nguồn của các ý kiến này của thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV, tôi vẫn cho đó là ý riêng của bạn ấy.Bằng cách nào chúng ta có thể nói rằng Thánh Lễ này là "mạnh hơn" (hiệu lực hơn) so với Thánh lễ kia?
Phụng vụ mừng lễ Các Thánh vào ngày đầu tháng 11, và ngày hôm sau, tưởng nhớ các người qua đời. Xét theo nguồn gốc lịch sử, lễ kính nào ra đời trước: việc kính nhớ các người qua đời có trước, hay lễ các thánh có trước? Linh mục Phan Tấn Thành trả lời. Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải phân biệt nhiều vấn đề. Việc kính nhớ các linh hồn qua đời là một chuyện, còn việc dành ra một ngày trong năm để tưởng nhớ tất cả các linh hồn là chuyện khác. Một cách tương tự như vậy, kính nhớ các thánh là một chuyện, còn dành ra một ngày để kính nhớ tất cả các thánh là một chuyện khác. Chúng ta sẽ cố gắng đi từng bước một: chúng ta hãy khởi hành với thực tại ngày nay, rồi chúng ta sẽ đi lùi ngược lại dòng lịch sử. Ngày nay lễ tưởng nhớ các người qua đời diễn ra vào ngày hôm sau lễ các thánh. Từ khi nào lịch phụng vụ ấn định việc cử hành hai ngày lễ đó?
Cùng với lời kinh cầu nguyện với Đức Mẹ đã được Đức Thánh Cha đọc trong video trong Thánh lễ do Đức Hồng y Giám quản Roma cử hành tại đền thánh Đức Mẹ Tình yêu Chúa ngày 11/03 vừa qua, Đức Thánh Cha đề nghị thêm một kinh nguyện để các tín hữu cầu nguyện vào cuối buổi đọc kinh Mân Côi, xin Đức Mẹ bảo vệ thế giới khỏi đại dịch. Hồng Thủy - Vatican
Đây là lời nguyện chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam để cầu nguyện trong cơn dịch bệnh Covid-19. Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi toàn năng chúng con đang họp nhau cầu nguyện, tha thiết nài xin cho cơn dịch bệnh mau chấm dứt. Lạy Chúa Cha giàu lòng thương xót xin nhìn đến nỗi thống khổ của đoàn con trên khắp thế giới, đặc biệt tại những nơi dịch bệnh đang hoành hành. Xin củng cố đức tin của chúng con, cho chúng con hoàn toàn tín thác vào tình yêu quan phòng của Cha. Lạy Chúa Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất, là vị lương y đầy quyền năng và lòng thương xót, xin thương cho các bệnh nhân sớm được chữa lành, và an ủi các gia đình đang gặp khó khăn thử thách. Xin cho lời chúng con khiêm tốn cầu nguyện, được chạm tới trái tim nhân lành của Chúa, xin giảm bớt gánh nặng khổ đau, và cho chúng con cảm nhận được bàn tay Chúa đang ân cần nâng đỡ chúng con.
Bảo Trợ