Phụng vụ Lời Chúa: Lễ các Thánh tử đạo Việt Nam

16 Tháng Mười Một 20181:11 SA(Xem: 1792)

Phụng vụ Lời Chúa: Lễ các Thánh tử đạo Việt Nam

blank

CHÚA NHẬT 33 THƯỜNG NIÊN NĂM B
LỄ KÍNH TRỌNG THỂ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM
2 Mcb 7,1.20-23.27b-29; Rm 8, 31b-39; Lc 9,23-26

CHÍNH LÚC CHẾT ĐI LÀ KHI VUI SỐNG MUÔN ĐỜI

“Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (Lc 9,24)

Con người luôn lo âu khắc khoải trước đau khổ và cái chết, nhưng đau khổ và sự chết không thể làm gì được những người công chính vì họ biết linh hồn họ luôn ở trong tay Chúa. Đối với họ, đau khổ có khi là cơ hội thử thách giúp họ thanh luyện đức tin và biểu lộ lòng trung thành và tình yêu với Chúa và cái chết vì sự công chính là bước vào cõi sống muôn đời.

I. CÁC BÀI ĐỌC

1. Bài đọc I: 2Mcb 7,1.20-23.27b-29

Sách Máccabê đánh dấu một giai đoạn đau thương trong lịch sử của dân Chúa khi Đền thờ và nền phụng tự đã bị quân ngoại bang xâm phạm nặng nề. Đoạn sách Máccabê hôm nay là một thiên hùng ca về những người Do thái sẵn sàng chấp nhận đau khổ và cả cái chết để trung thành với Lề luật và Tôn giáo của cha ông.

Đối với người Do thái, tuân giữ Lề luật cách đầy đủ và nghiêm ngặt là một cách chứng tỏ sự trung thành tôn thờ Thiên Chúa. Một người Do thái được xem là công chính khi giữ trọn “mọi điều răn và mệnh lệnh của Chúa” (x. Lc 1,6). Câu chuyện về bà mẹ và bảy người con thà chấp nhận cái chết chứ không chịu vi phạm Lề luật được thuật trong Bài đọc I là biểu hiện rõ nhất về lòng trung tín của dân đối với Thiên Chúa.

Sỡ dĩ bà mẹ và những người con sẵn sàng chấp nhận cái chết là vì họ xác tín rằng sự sống của họ là do Thiên Chúa, Đấng đã ban cho họ “thần khí và sự sống”, chứ không do họ tự tạo ra. Đồng thời, họ cũng tin rằng một khi họ “trọng luật lệ của Người hơn bản thân mình” đến nỗi dám hy sinh sự sống để bày tỏ lòng trung thành với Thiên Chúa họ thờ, thì chính Người sẽ trả lại cho họ thần khí và sự sống (x. 2Mcb 7,22-23).

Trong câu chuyện bà mẹ và bảy người con, niềm tin phục sinh và sự sống đời sau đã tỏ lộ. Thật vậy, bà mẹ tin rằng nếu các con bà “chấp nhận cái chết” vì trung thành với Lề luật của Thiên Chúa, thì “đến ngày Chúa thương xót”, chính Người sẽ trả các con về lại cho bà (x. 2Mcb 7,29). Như thế, việc người công chính chịu đau khổ và cái chết biểu lộ niềm tin phục sinh. Cần biết rằng lúc đầu người Do thái chưa được mạc khải về sự sống đời sau, nhưng kể từ thời Maccabê, điểm giáo lý này mới bắt đầu hình thành và những người theo phái Pharisêu sau này sẽ nhấn mạnh. Từ niềm tin đó, sách Maccabê cho rằng việc thưởng phạt của Thiên Chúa không chỉ nằm ở đời này như quan niệm của truyền thống, mà còn kéo dài sau cái chết. Do vậy, những người chịu chết vì trung thành với Lề luật sẽ được sống lại cả hồn lẫn xác đời sau.

Bà mẹ và bảy anh em (2Mcb 7,1-41) đã tự nguyện chấp nhận khổ đau và cái chết để thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với Thiên Chúa mà họ tôn thờ. Họ được xem như là hình bóng của các vị tử đạo trong Kitô Giáo sau này.

2. Bài đọc II: Rm 8, 31b-39

Đoạn thư thánh Phaolô gởi cho các tín hữu Rôma là một bài ca tuyệt vời về tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại qua việc trao hiến Đức Giêsu, Con Một của Người.   

Trước hết, việc Thiên Chúa trao ban Đức Giêsu, Con Một của Người cho nhân loại là bằng chứng rõ ràng nhất của tình yêu cao cả và vô điều kiện mà Người dành cho con người. Khi trao hiến chính Con Một là kho tàng quý giá nhất của mình, Thiên Chúa muốn chứng tỏ cho nhân loại thấy rằng Người đã cho nhân loại tất cả mà không đòi hỏi bất cứ điều kiện nào. Đồng thời, khi Thiên Chúa để cho Đức Giêsu chết cho tội lỗi nhân loại, Người đã thật sự tha thứ cho mọi lỗi lầm của nhân loại.

Hơn nữa, thánh Phaolô còn xác tín rằng một khi được Thiên Chúa yêu thương hết mực như thế, con người không còn gì phải lo lắng hay sợ hãi nữa. Ai hay điều gì có thể tách nhân loại ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa? Ngài khẳng định rằng dù là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ hay gươm giáo (x. Rm 8,35); dù là sự sống hay sự chết, ma vương hay quỷ lực, hiện tại hay tương lai, trời cao hay vực thẳm, hay bất cứ một sức mạnh nào, cũng không thể chia cắt con người khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện qua Đức Giêsu (x. Rm 8,38-39). Vậy những ai thật sự cảm nhận và xác tín sâu sắc về tình yêu Thiên Chúa dành cho mình, thì dám chết để chứng tỏ sự trung thành và sức mạnh vô song của tình yêu ấy.

Cuối cùng, dù được Thiên Chúa yêu thương hết mực và vô điều kiện, con người vẫn không thể tránh khỏi những sự dữ trong thế giới này. Dầu vậy, những thử thách trong thế giới lại là cơ hội để con người chiến đấu mà chứng tỏ sự trung thành với niềm tin vào Thiên Chúa. Cũng cần lưu ý rằng ngay cả con người có thể chiến thắng trong những cơn thử thách, thì đó không phải do công sức riêng của con người, mà cũng là nhờ sức mạnh của Thiên Chúa: “Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta” (Rm 8,37).

Qua và nhờ cái chết và sự sống lại của Đức Giêsu, Thiên Chúa cho thấy Người yêu thương nhân loại bằng một tình yêu vô điều kiện và vững chắc đến nỗi không có bất cứ ai hay sức mạnh nào có thể lay chuyển. Các thánh Tử đạo Việt Nam đã cảm nhận cách sâu sắc tình yêu Thiên Chúa dành cho các vị đến nỗi cái chết cũng không thể chia cắt tình yêu đó.

3. Bài Tin Mừng: Lc 9,23-26

Sau khi Phêrô, đại diện cho các môn đệ, tuyên tín cách hùng hồn rằng Đức Giêsu là “Đấng Kitô của Thiên Chúa” (x. Lc 9,18-21), Đức Giêsu liền mạc khải cho các môn đệ biết con đường Người phải đi là con đường khổ giá (x. Lc 9,22).

Trước hết, điều kiện để theo Đức Giêsu là “từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23). Thật vậy, Đức Giêsu cho biết con đường dành cho những ai muốn theo Người là con đường của sự từ bỏ hy sinh để thực thi ý muốn của Thiên Chúa. Đó còn là con đường chấp nhận vác “thập giá hàng ngày”, đón nhận mọi sự xảy đến trong niềm tin tưởng và phó thác trọn vẹn trong tay Chúa. Đức Giêsu đã đi trên con đường như thế và Người muốn các môn đệ noi theo gương Người.

Hơn nữa, người môn đệ Đức Giêsu phải ghi nhớ rằng tất cả mọi sự, ngay cả sự sống, cũng đều phát xuất từ Thiên Chúa; và tất cả cuộc sống của người môn đệ hoàn toàn thuộc về Chúa, như lời xác quyết của thánh Phaolô: “Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa” (Rm 14,8). Vì thế, cuộc sống của người môn đệ không phải là đi tìm bản thân, tìm sự sống và vinh quang cho mình, nhưng đi tìm cách sống cho Chúa và làm vinh danh Người. Khi người môn đệ dám bỏ mình vì Chúa và sống cho Chúa, thì họ lại tìm được chính bản thân, vì “ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (Lc 9,24).

Sau cùng, người môn đệ Đức Giêsu có trách nhiệm làm chứng cho Chúa Giêsu và lời của Người trước mặt người khác. Đó được xem như là điều kiện để họ được Người chứng thực trước mặt Thiên Chúa trong ngày quang lâm. Đức Giêsu nói: “ai xấu hổ vì tôi và những lời của tôi, thì Con Người cũng sẽ xấu hổ vì kẻ ấy, khi Người ngự đến trong vinh quang của mình …” (Lc 9,26).

Các thánh tử đạo là những người đã trung tín đi trọn con đường mà Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ: đó là từ bỏ ý riêng và chấp nhận mọi sự xảy đến trong đời mình với tinh thần phó thác, đến nỗi sẵn sàng “liều mất mạng sống” để làm chứng cho Chúa Kitô, với niềm xác tín rằng “sẽ cứu được mạng sống ấy” trong ngày Đức Kitô quang lâm.

II. GỢI Ý MỤC VỤ:

1. “Chính Người do lòng thương xót, cũng sẽ trả lại cho các con thần khí và sự sống, bởi vì bây giờ các con trọng Luật Lệ của Người hơn bản thân mình.” Bà mẹ và bảy anh em đã tự nguyện chấp nhận khổ đau và cái chết để thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với Thiên Chúa mà họ tôn thờ. Họ xác tín rằng một khi họ hết mực trung thành với Lề luật của Thiên Chúa, Đấng ban cho họ “thần khí và sự sống”, thì Người sẽ ban cho họ sự sống bất diệt. Niềm tin vào sự phục sinh là sức mạnh giúp họ vượt thắng cả cái chết. Sống trong thời hậu phục sinh, Đức Kitô Phục Sinh có là sức mạnh giúp tôi vượt thắng những cám dỗ thường ngày để sống trung tín với Thiên Chúa và giới răn của Người?

Tinh thần làm chứng này được giáo dục trong chính môi trường gia đình. Vậy trong dịp kết thúc Năm thánh Tôn vinh các Thánh Tử đạo Việt Nam, tôi có dám sống theo lời mời gọi trong thư của HĐGMVN: “Các gia đình Công giáo hãy từ bỏ những ham muốn bất chính và tính toán ích kỷ, để làm chứng rằng Tin Mừng về hôn nhân Công giáo là nẻo đường hạnh phúc, và xem đó như là cách “tử đạo” trong đời thường?


2. “Không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta.
 Qua và nhờ cái chết và sự sống lại của Đức Giêsu, Thiên Chúa cho thấy Người yêu thương nhân loại bằng một tình yêu vô điều kiện và vững chắc đến nỗi không có bất cứ ai hay sức mạnh nào có thể lay chuyển. Các thánh tử đạo đã cảm nhận cách sâu sắc tình yêu Thiên Chúa dành cho các Người đến nỗi chấp nhận cái chết để minh chứng cho sức mạnh của tình yêu đó. Tôi có mạnh mẽ xác tín rằng Đức Kitô đã chết vì yêu thương tôi, đến nỗi không có gì có thể chia cắt tình yêu của Người dành cho tôi? Tình yêu vô vị lợi của Thiên Chúa thể hiện nơi cái chết và sự sống lại của Đức Kitô có là động lực thúc đẩy tôi yêu thương anh chị em mình hơn?


3. “Được cả thế giới mà phải đánh mất chính mình hay là thiệt thân, thì nào có lợi gì?” Điều kiện để trở thành môn đệ Đức Giêsu là từ bỏ ý riêng và chấp nhận mọi sự xảy đến trong đời mình với tinh thần tin-cậy-mến, đến nỗi sẵn sàng “liều mất mạng sống” để làm chứng cho Chúa Kitô, với niềm xác tín rằng “sẽ cứu được mạng sống ấy” trong ngày Đức Kitô quang lâm. Tôi có dám chấp nhận từ bỏ ý riêng để xứng với tư cách làm môn đệ Đức Giêsu? Tôi đang tìm cách làm vinh danh Người hay tìm vinh danh tôi? Tôi có sẵn lòng chấp nhận thiệt thòi hiện tại để được kho tàng vĩnh cửu ở trên Trời? Đặc biệt đối với người sống đời thánh hiến, tôi có dám đón nhận lời mời gọi trong thư của HĐGMVN: hãy từ bỏ những ham muốn tự nhiên để sống trọn vẹn theo các lời khuyên Phúc Âm, làm chứng cho Nước Trời là giá trị tuyệt đối và kho tàng vô giá; qua đó, chúng ta có thể góp phần ‘thức tỉnh thế giới’” ?


III. LỜI NGUYỆN CHUNG:

Chủ tế: Anh chị em thân mến! Cùng họp nhau hôm nay để tưởng nhớ các bậc tiền nhân đã hiến dâng mạng sống cho Chúa và gieo mầm đức tin cho con cháu, cộng đoàn chúng ta cùng thành tâm cảm tạ Chúa và tha thiết dâng lời cầu xin:


1. Cầu cho Đức Giáo Hoàng Phanxicô, các Đức Giám mục và hàng giáo sĩ. Xin cho các ngài luôn nhiệt thành và can đảm loan báo Tin Mừng, tận tình chăm sóc hướng dẫn đoàn chiên, cùng nỗ lực hoạt động cho sự hợp nhất của cộng đoàn Dân Chúa.


2. “Trong mọi thử thách, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta.” Xin cho những ai đang đau khổ vì bệnh tật, nghèo đói, bất công, và kỳ thị; luôn xác tín rằng Thiên Chúa vẫn hiện diện để che chở nâng đỡ cùng chia sẻ mọi niềm vui và nỗi đau của họ.


3. “Không có tình yêu nào cao qúy hơn tình yêu của người thí mạng sống vì bạn hữu.” Xin cho mọi kitô hữu, cách riêng là các bạn trẻ biết tránh xa lối sống vô cảm, luôn dấn thân phục vụ với tinh thần trách nhiệm, nêu cao tinh thần bác ái tốt đẹp của Kitô giáo.


4. Máu các Thánh Tử Đạo làm nảy sinh hạt giống đức tin. Xin cho tất cả chúng ta luôn ý thức trân trọng di sản đức tin được thừa hưởng từ các bậc tiền nhân, biết can đảm làm chứng cho niềm tin vào Đức Kitô trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống hằng ngày.


Chủ tế
: Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con ca ngợi tình thương và sức mạnh của Chúa đã thể hiện nơi sự yếu đuối mỏng giòn của các Thánh tử đạo Việt Nam. Xin nhận lời chúng con cầu nguyện và giúp chúng con luôn trung thành với đức tin và gương sáng tiền nhân để lại. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.

Tgpsaigon.net

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
BẢN VĂN BÀI ĐỌC TRONG THÁNH LỄ TUẦN XII THƯỜNG NIÊN – NĂM C NĂM PHỤNG VỤ 2018 – 2019 (Nguồn: UBPV/HĐGMVN, ấn bản 1973) 23/06/2019 – Thứ Chúa Nhật XII Thường Niên Năm C Mình Máu Thánh Chúa BÀI ĐỌC I: St 14, 18-20 “Ông mang bánh và rượu tới”. Trích sách Sáng Thế. Trong những ngày ấy, Menkixêđê là vua thành Salem, đem bánh và rượu tới, vì ông là thượng tế của Thiên Chúa Tối Cao, ông chúc phúc cho Abram rằng: “Xin Thiên Chúa Tối Cao và Đấng tạo thành trời đất chúc phúc cho Abram, và đáng chúc tụng thay Thiên Chúa Tối Cao, vì nhờ Người che chở, quân thù đã rơi vào tay ông”. Và Abram dâng cho ông một phần mười tất cả chiến lợi phẩm. Đó là lời Chúa.
Trích sách Châm Ngôn. Đây sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa phán: “Chúa đã tạo thành nên ta là đầu sự việc của Người, trước cả những sự việc Người đã làm rất xa xưa. Ta đã được thiết lập tự thuở đời đời, ngay tự đầu tiên, khi địa cầu chưa sinh nở. Ta đã được sinh thành khi chưa có vực sâu, khi chưa từng có những dòng suối nước. Trước khi Chúa củng cố những ngọn núi cao, trước khi có những quả đồi, ta đã sinh ra rồi. Khi Người chưa tạo tác địa cầu, đồng ruộng, cũng chưa tạo nên hạt bụi đầu tiên của cõi trần ai.
“Ta hãy xuống coi và tại đó Ta làm cho ngôn ngữ chúng lộn xộn”. Trích sách Sáng Thế. Lúc bấy giờ toàn thể lãnh thổ có một tiếng nói duy nhất và một ngôn ngữ như nhau. Khi con cháu ông Noe từ phương đông tiến đi, họ đã gặp một cánh đồng tại đất Sinêar và họ cư ngụ ở đó. Những người này nói với nhau rằng: “Nào, bây giờ chúng ta đi làm gạch và đốt lửa để nung”. Và họ dùng gạch thay thế cho đá và nhựa thay thế cho xi măng. Họ còn nói: “Nào, bây giờ chúng ta hãy xây một thành với một cây tháp mà ngọn nó chạm tới trời. Và chúng ta hãy tạo cho ta một tên tuổi, để chúng ta khỏi bị tản lạc ra khắp mặt địa cầu”.
BẢN VĂN BÀI ĐỌC TRONG THÁNH LỄ LỄ THĂNG THIÊN và TUẦN 7 PHỤC SINH – NĂM C NĂM PHỤNG VỤ 2018 – 2019 (Nguồn: UBPV/HĐGMVN, ấn bản 1973) CHÚA NHẬT VII PHỤC SINH – CHÚA THĂNG THIÊN Bài đọc I: Cv 1, 1-11 “Trước sự chứng kiến của các ông, Người lên trời”.
26/05/2019 – Chúa Nhật VI Mùa Phục Sinh BÀI ĐỌC I: Cv 15, 1-2. 22-29 “Thánh Thần và chúng tôi xét rằng không nên đặt thêm gánh nặng nào khác ngoài mấy điều cần kíp”. - Trong những ngày ấy, có mấy người từ Giuđêa đến dạy bảo các anh em rằng: “Nếu anh em không chịu cắt bì theo luật Môsê, thì không được cứu độ”. Do đó, Phaolô và Barnaba đã tranh luận gắt gao với họ. Bấy giờ người ta quyết định là Phaolô, Barnaba và một ít người khác thuộc phe họ, lên Giêrusalem gặp các Tông đồ và niên trưởng, để xin giải quyết vấn đề này.
BẢN VĂN BÀI ĐỌC TRONG THÁNH LỄ TUẦN 5 PHỤC SINH – NĂM C NĂM PHỤNG VỤ 2018 – 2019 (Nguồn: UBPV/HĐGMVN, ấn bản 1973) 19/05/2019 – Chúa Nhật V Mùa Phục Sinh BÀI ĐỌC I: Cv 14, 20b-26 (Hl 21-27) “Các ngài thuật lại những gì Thiên Chúa đã làm với các ngài”.
Trích sách Tông đồ Công vụ. Trong những ngày ấy, Phaolô và Barnaba sang qua Perghê và đến Antiôkia xứ Pisiđia; ngày Sabbat, các ngài vào ngồi trong hội đường. Có nhiều người Do-thái và tòng giáo theo các ngài, được các ngài khuyên bảo bền đỗ trong ơn nghĩa Chúa. Đến ngày Sabbat sau, hầu hết cả thành đều đến nghe lời Thiên Chúa. Các người Do-thái thấy đám đông dân chúng, thì đâm ghen tương, nói lộng ngôn, chống lại các điều Phaolô giảng dạy. Phaolô và Barnaba can đảm nói rằng:
05/05/2019 – Chúa Nhật III Mùa Phục Sinh BÀI ĐỌC I: Cv 5, 27b-32. 40b-41 “Chúng tôi là chứng nhân các lời đó cùng với Thánh Thần”. Trích sách Tông đồ Công vụ. Trong những ngày ấy, thầy thượng tế hỏi các tông đồ rằng: “Ta đã ra lệnh cấm các ngươi nhân danh ấy mà giảng dạy. Thế mà các ngươi đã giảng dạy giáo lý các ngươi khắp cả Giêrusalem; các ngươi còn muốn làm cho máu người đó lại đổ trên chúng tôi ư?
“Số người tin vào Chúa ngày càng gia tăng”. Trích sách Tông đồ Công vụ. Khi ấy, các Tông đồ làm nhiều phép lạ và nhiều việc phi thường trong dân, và tất cả mọi người tập họp tại hành lang Salômôn; nhưng không một ai khác dám nhập bọn với các tông đồ. Nhưng dân chúng đều ca tụng các ngài. Số những người nam nữ tin vào Chúa ngày càng gia tăng, đến nỗi họ mang bệnh nhân ra đường phố, đặt lên giường chõng, để khi Phêrô đi ngang qua, ít nữa là bóng của người ngả trên ai trong họ, thì kẻ ấy khỏi bệnh. Đông đảo dân chúng ở những thành phụ cận Giêrusalem cũng tuôn đến, mang theo bệnh nhân và những người bị quỷ ám. Mọi người đều được chữa lành. Đó là lời Chúa.
Trích sách Tông đồ Công vụ. Trong những ngày ấy, Phêrô lên tiếng nói rằng: “Như anh em biết điều đã xảy ra trong toàn cõi Giuđêa, khởi đầu từ Galilêa, sau khi Gioan rao giảng phép rửa: ấy là Chúa Giêsu thành Nadarét. Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu cho Người. Người đi khắp nơi, ban bố ơn lành và chữa mọi người bị quỷ ám, bởi vì Thiên Chúa ở cùng Người. Và chúng tôi, chúng tôi là chứng nhân tất cả những gì Người đã làm trong nước Do-thái, và tại Giêrusalem, Người là Đấng người ta đã giết treo Người trên thập giá.
Bảo Trợ