Kiến thức Tôn Giáo và Sống Đạo

31 Tháng Năm 20122:00 CH(Xem: 6597)

Từ xưa, khi nghe đến những anh em trong các Giáo phái Tin Lành, ai nấy đều đồng ý rằng họ là những người được giáo dục kỹ về Kinh Thánh, sách, đoạn, câu cú nhớ thuộc lòng, đừng nói chi đến các mục sư, đã vậy, một mục sư có bản vị tiến sĩ, địa vị không những riêng gì về trong giáo xứ của ông, nhưng ông còn là một trong những vị mục sư được biết nhiều trên diễn đàn quốc gia, thì đối diện với ông ta để chia sẻ về Kinh Thánh, đặc biệt nhất là việc bàn về con người lịch sử của Đức Giêsu thì quả là một cuộc mạo hiểm.

Trên website, chúng ta sẽ không thấy Mục sư Mason với danh hiệu tiến sĩ, hay gì khác, ngoại trừ một cái tên rất khiêm nhượng: George. Khi gặp nhau, Mục sư cũng giới thiệu tên với tôi là: George. Người điềm đạm, giọng nói ấm áp, đầy sinh lực, trẻ hơn tôi vài tuổi, nhưng sự khiêm nhường và tâm tình cởi mở của ông đã tạo cho bầu không khí trao đổi giữa đông-tây, giữa hai văn hoá dị biệt, giữa hai kiếp người hoàn toàn đối chọi, giữa hai kinh nghiệm sống đạo hoàn toàn khác nhau, tự dưng, như hoà hợp nên một.

 blank

Tôi khởi đầu bằng lý lịch ngắn gọn của tôi, rồi đi ngay vào đề tài. Chúng tôi đi chia sẻ một vài sách vở chung quanh xã hội và thời đại của Đức Giêsu, những sử liệu, sử gia bên ngoài bộ sách Kinh Thánh. Ông đã đưa tôi thoáng xuyên qua quá trình hình thành của bộ Kinh Thánh, chính xác từng năm, niên đại, tác giả. Tôi cũng đưa ra những thắc mắc về tông tích, lai lịch, gia thế của Đức Giêsu. Ông đã vui vẻ và ân cần chia sẻ một cách thân tình. 

Cuộc mạn đàm có thể kéo dài, nhưng tôi cảm thấy như tìm được một đồng môn, người sẵn sàng bỏ giờ để cùng nhau nhìn về một hướng, hành trình về một điểm, nghiên cứu về một nhân vật mà hàng tỷ người, trong đó có tổ tiên chúng ta, và chính chúng ta đang tôn thờ: Đức Giêsu.

Theo thống kê của Pew Research Center thì khoảng 50 phần trăm người Kitô giáo không am tường về giáo lý của tôn giáo mình. Lắm người không nắm vững tên tác giả của bốn phúc âm. Có người lại không biết nơi sinh trưởng của Đức Giêsu. Buồn hơn nữa là khoảng 50 phần trăm người công giáo Hoa kỳ không biết rằng, bánh và rượu sau khi linh mục truyền phép đã không còn là bánh và rượu nữa, nhưng đó đã trở thành chính Mình và Máu Đức Giêsu.

Nhìn về lịch sử Kitô giáo (công giáo, giáo hội đông phương và các giáo phái tin lành), người tín hữu đã được nhồi sọ với những tín điều, giáo lý, lắm khi xung khắc với nhau, thành ra người công giáo cách riêng, bị răn dạy cách ly với những sinh hoạt tôn giáo hay các giáo phái khác, nhất là nền giáo dục về đức tin của những giáo phái tin lành, do đó, sự hiểu lầm vẫn duy trì, vẫn in hằn mãi trong tâm thức của không biết bao nhiêu thế hệ người công giáo. Cho đến hôm nay, tôi chưa có dịp được chứng kiến những sinh hoạt hợp quần, hợp tác trong tầng lớp giáo dân của các giáo phái kitô giáo, công giáo-tin lành, cách riêng việc nghiên cứu và học hỏi Kinh Thánh.

Thỉnh thoảng, tôi thăm dò kiến thức của những người công giáo trẻ, không có ai biết được ngôn ngữ hay tiếng mẹ đẻ của Đức Giêsu. Ngạc nhiên thay, theo nghiên cứu của Pew Research Center, người Do Thái, giáo dân thuộc giáo phái Mormons và lạ lùng nhất là những người bị cho là vô thần (atheists) lại thuộc vào ba nhóm người có kiến thức cao về hai lãnh vực Kinh Thánh cũng như về các tôn giáo lớn trên hoàn vũ.

Đại đa số người Mỹ trong cuộc nghiên cứu cho thấy kiến thức của họ rất kém về giáo lý, tín điều, cung cách hành đạo, lịch sử và những lãnh đạo tôn giáo của các tôn giáo lớn khác.

Cũng có nhiều người trong các Giáo phái Tin Lành thờ ơ đến nỗi họ không biết chính 95 luận án (thesis) của tu sĩ công giáo Martin Luther là nền tảng cho sự khai sinh của các giáo phái tin lành vào năm 1517 (Protestant Reformation). Nhưng rồi không biết có mấy ai bên công giáo đã đọc qua 95 luận án này hoặc nghiên cứu sâu về giai đoạn khủng hoảng của giáo hội Roma vào thời điểm này. Và có tới 47 phần trăm ngưới Mỹ không hề biết Dalai Lama là người phật giáo, đừng nói chi đến cương vị một Phật sống hay phật pháp.

Về phương diện Kinh Thánh và giáo dục nhà trường, có đến 67 phần trăm người Mỹ nhận thức sai lầm rằng, Kinh Thánh không được đọc nơi nhà trường. Nhiều người Việt, nhất là những người công giáo vẫn đoan quyết điều này, trong khi Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã khẳng định Kinh Thánh vẫn được sử dụng trong việc giáo dục nhà trường về giá trị lịch sử và văn chương (Supreme Court has clearly stated that the Bible may be taught for its “literary and historic” qualities.)

Cuối cùng, nghiên cứu cho thấy đại đa số người Mỹ vẫn không tìm tòi nghiên cứu gì thêm về tôn giáo của họ, ngoại trừ cuốn Kinh Thánh. Và 70 phần trăm không hề tìm hiểu gì thêm các tôn giáo khác. Đây cũng là yếu tố gây nhiều ngộ nhận về tôn giáo, nhất là đối với Hồi giáo.

Người Việt có một truyền thống giữ đạo hết sức đặc biệt, đó là việc kinh kệ. Cuốn sách kinh dày cộm, nhưng từ già đến trẻ, lắm người đều thuộc lầu. Ước gì người công giáo Việt và ngay cả dân Tây theo Kitô giáo chịu chuyển sang một nấc sống đạo mới, đó là đọc và học hỏi Kinh Thánh cũng như sách vở, tài liệu lịch sử khác để nhận diện ra chính Đức Giêsu, và sống từng ngày, từng giờ, từng phút giây, và từng hơi thở gần với Ngài qua chính những bài học sống Ngài dạy.

Nếu chúng ta chịu khó và biết hành trình xa hơn một chút xíu, chúng ta sẽ gặp được chính con người lịch sử của Đức Giêsu. Giáo hội công giáo cũng như các Giáo phái Tin Lành đã dạy: Đức Giêsu mang hai tính cách, con người và thần thiêng. Sách vở và tài liệu lịch sử cũng đã minh định sự hiện diện của Đức Giêsu nơi trần thế, bằng xương bằng thịt, có nơi chôn nhau cắt rốn, có niên đại, trong xã hội có chính quyền, có tôn giáo, văn hoá và bằng chứng về sự hiện diện của Người như là nhân vật lịch sử kéo dài liên tục hơn 2000 năm qua.

Vì chính Ngài đã tự chọn và mang thân phận làm người, làm con trong một gia đình, có cha mẹ, có lao động, cũng đã hít thở khí trời, có nhu cầu ăn uống để sống, biết vui buồn sướng khổ, đã sử dụng ngôn ngữ loài người để truyền đạt, giảng dạy, đã sống đời sống đạo chuyên cần, và cuối cùng, chấp nhận luật người đời để gánh chịu thống khổ; và rồi trút hơi thở cuối cùng trong thân phận làm người như chúng ta. Có biết như vậy, chúng ta mới cảm thấy Đức Giêsu rất gần gũi với chúng ta, trong từng ngày sống, trong bổn phận, trong những lo toan về cuộc đời.

Bao nhiêu năm chiêm niệm về kinh Lạy Cha mà Đức Giêsu khuyên dạy chúng ta nguyện cầu, một đêm, trong lúc nghiên cứu, tôi khám phá ra văn bản và lời nguyện của bản kinh mà chính Đức Giêsu đã một lần dạy chúng ta nguyện cầu, bằng chính tiếng bản xứ của Người, tiếng Aramaic. Tôi nhắm nghiền mắt lại, lắng nghe từng chữ, từng giọng, cảm nghiệm như Người đang gần kề bên cạnh, và dường như nghe từng hơi thở của chính Đức Giêsu đang thổi vào tâm thức tôi, chia sẻ với tôi, đang dạy tôi đọc, cùng tôi cầu nguyện. Tâm hồn tôi bay bổng ngất ngây!

 

Bernard Nguyên Đăng

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Ở Việt Nam hiện nay, nhiều cơ sở Giáo Hội sử dụng giáo dân làm nhân viên thường trực có trả lương, để đảm nhiệm nhiều công việc càng ngày càng đa dạng. Hình thức nhân dụng này đã trở thành phổ biến trong các Giáo Hội Tây Phương, nhất là Hoa Kỳ. Hiện Giáo Hội Hoa kỳ đang được coi là định chế tôn giáo sử dụng nhiều nhân viên giáo dân hơn cả, có lẽ chỉ thua Chính Phủ Liên Bang. Hiện tượng này có những hệ luận tốt xấu, được Francis Maier đề cập tới trong một tham luận đăng trên www.frinstitute.org của Viện Đức Tin và Lý Trí./ 20 Tháng Tám 2012(Xem: 6980) /
Mẹ ơi! Hãy để con ra đời sống với Mẹ, con chính là hình ảnh của Mẹ, là hình ảnh của Thượng Đế, đừng giết con, đừng xoá đi thân xác con, là hình ảnh Thượng Đế trong lòng Mẹ. Mẹ giết sự sống của con là Mẹ đã giết Thượng Đế, Đấng ban sự sống cho Mẹ và cho con, Đấng đã sinh ra Linh hồn của Mẹ và của con! Linh hồn con đang run rẩy, thể xác con đang âu lo, con mong muốn được gặp Mẹ trên cõi đời Mẹ đang sống!
Ơn gọi luôn luôn phải đến từ hai phía: Chúa gọi và tôi đáp trả. Vậy trong đời sống dâng hiến đâu là yếu tố quyết định: Chúa (chọn) gọi hay tôi (chọn) đáp trả? Câu trả lời quá rõ ràng rồi: Chúa gọi. Nếu Chúa không gọi thì tôi đâu biết đáp trả ai hay đáp trả cái gì. Chúa luôn là người đi bước trước. Thế nhưng vẫn còn một câu hỏi khác nữa cần phải đặt ra đó là “Có phải ý Chúa muốn tôi đi tu hay không?” Nghe hơi kỳ kỳ rồi đấy, đã bảo là Chúa gọi tôi rồi mà bây giờ còn hỏi lại tôi đi tu có phải là ý Chúa hay không. Cứ từ từ suy nghĩ, một vấn đề nghe có vẻ vô lý như vậy nhưng thực ra vẫn có cái lý của nó. Chúng ta biết rằng chữ “ơn gọi” ngày nay không còn được dùng để chỉ riêng cho đời sống dâng hiến nữa. Một người không đi tu thì họ có ơn gọi lập gia đình hoặc là ơn gọi độc thân.
Tiếp tục loạt bài giáo lý về cầu nguyện, trong buổi tiếp kiến chung trực tuyến vào sáng thứ Tư 05/05, Đức Thánh Cha Phanxicô đã trình bày về đề tài chiêm niệm. Theo ngài, không có đối nghịch giữa cầu nguyện và hành động. Trong Tin mừng chỉ có một tiếng gọi duy nhất, đó là theo Chúa trên con đường tình yêu. Bác ái và chiêm niệm đồng nghĩa với nhau. Hồng Thủy - Vatican News
Trong buổi tiếp kiến chung trực tuyến sáng ngày 14/4/2021, tiếp tục bài giáo lý về việc cầu nguyện của người Kitô hữu, Đức Thánh Cha Phanxicô giải thích rằng lời cầu nguyện thuộc về chính bản chất của Giáo hội;nếu thiếu cầu nguyện thì Giáo hội không thể thực hiện sứ mệnh truyền giáo và phục vụ người khác. Hồng Thủy - Vatican News Trong bài giáo lý tại buổi tiếp kiến chung trực tuyến sáng thứ Tư 14/04 Đức Thánh Cha suy tư về vai trò của Giáo hội như trường học tuyệt vời của việc cầu nguyện. Bắt đầu từ cha mẹ chúng ta, những người dạy chúng ta cầu nguyện, gieo vào tâm hồn chúng ta hạt giống được chín mùi qua đời sống của Ki-tô hữu. Bên cạnh đó, gương sáng của những tín hữu sống đức tin, việc tham dự vào đời sống của giáo xứ và Thánh lễ, giúp chúng ta không chỉ phát triển đời sống cầu nguyện ở mức độ cá nhân nhưng còn được đón nhận di sản cầu nguyện và tu đức phong phú của Giáo hội.
Chợt Ngài bỗng kêu lên một tiếng lớn rồi tắt thở! Thân xác Ngài rũ xuống, thập giá rung lên nhè nhẹ! Chiều đang dần tàn, cảnh hoàng hôn thật thê lương trong ráng chiều màu tím thẫm ảm đạm! Post 30 Tháng Ba 2013(Xem: 3284)/10 Tháng Tư 202011:00 SA(Xem: 4361)
Chúa Nhật 24 tháng Giêng, Giáo Hội cử hành Chúa Nhật thứ Ba mùa Quanh Năm với chủ đề “Anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm”. Tin Mừng theo Thánh Máccô thuật lại cho chúng ta biết hoàn cảnh Chúa kêu gọi các tông đồ đầu tiên như sau: Sau khi Gioan bị bắt, Chúa Giêsu sang xứ Galilêa, rao giảng Tin Mừng nước Thiên Chúa, Người nói: “Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm”. Đang lúc đi dọc theo bờ biển Galilêa, Người thấy Simon và em là Anrê đang thả lưới xuống biển, vì các ông là những người đánh cá. Chúa Giêsu bảo các ông: “Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những kẻ chài lưới người”. Lập tức các ông bỏ lưới theo Người.
Ba Vua là ba khuôn mặt không thể thiếu vắng trong mùa Giáng Sinh. Nhắc đến Giáng Sinh là nhắc đến mục đồng thôn Bêlem và Ba Vua. Nhưng người Kitô hữu nói chung rất mù mờ về thân thế của Ba Vua. Nếu đặt câu hỏi, “Ba Vua tên gì?” nhiều tín hữu sẽ lúng túng và ngập ngừng trước câu hỏi vừa được nêu. I. Ba Vua Trong văn bản tiếng “phổ thông Hy Lạp,” theo như thánh sử Mátthêu, khi “Đức Giêsu sinh ra tại Bêlem, xứ Giuđê, trong đời vua Hêrôđê, mágòi (μάγoi) từ phương Đông tìm đến Giêrusalem. Các ông hỏi, — Vua người Do Thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhìn thấy ngôi sao của Người ở phương Đông, và chúng tôi đến để triều bái Người” (Mátthêu 2:1). Trong tiếng cổ Hy Lạp mágòi (μάγoi) không có nghĩa là vua. Mágòi là danh từ số nhiều của mágọs (μάγos), một danh từ giống đực. Mágói, theo như Raymond Brown, là một thuật ngữ bao gồm nhiều nghĩa: chiêm tinh gia, giải mộng gia, phù thủy (pháp sư), và thầy tư tế của tôn giáo vùng Trung Đông.
Thiên Chúa đã phái các thiên thần đến báo cho những người chăn cừu biết một Đấng Cứu Thế đã được sinh ra: “Thiên thần Chúa bỗng hiện đến bên họ và vinh quang Chúa rạng ngời bao quanh họ, làm họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng thiên thần nói với họ: “Đừng sợ! Này ta đem tin mừng cho các ngươi về một niềm vui to tát, tức là niềm vui cho toàn dân: là hôm nay, đã sinh ra cho các ngươi vì Cứu Chúa, tức là Đức Kitô Chúa, trong thành của Đavit” (Lc 2,9-11). Hôm nay Ngài báo tin cho chúng ta Giáng sinh đã được một thế giới vô thần tục hóa đến nỗi ngày càng nhiều người cùng thời với chúng ta đã quên đi nguồn gốc của nó. Chắc chắn, khung cảnh Chúa giáng sinh cho họ một ý tưởng chung, nhưng họ không biết rằng trẻ nhỏ nằm trong máng cỏ đơn sơ này đã đến để mang lại cho họ tình yêu và niềm vui mà họ tìm kiếm trong vô vọng.
Lễ Giáng Sinh luôn rất lạ. Lạ đủ thứ. Lạ từ nội tại tới ngoại tại. Giáng Sinh tại Việt Nam chỉ se lạnh một chút, chẳng thấm gì so với cái lạnh của Hài Nhi Giêsu năm xưa, nhưng cũng là lời nhắc để chúng ta nhớ tới cái lạnh của những phận người cơ nhỡ, những kẻ cô đơn, nghèo khó, thiếu thốn những thứ cơ bản nhất,… Việt ngữ thật chí lý khi nói là giá lạnh hoặc lạnh giá, cái “giá” này mới “đáng giá,” chứ cái “lạnh” chưa thấm thía chi đâu. Điều đáng quan tâm là cái lạnh ngoại tại gợi nhớ tới cái lạnh tâm hồn, cái lạnh linh hồn, cái lạnh tâm linh. Cái lạnh này khủng khiếp, cái lạnh giá băng. Có nhiều kiểu lạnh.
Bảo Trợ