Định vị bản thân trong thế giới: Tôi là ai?

20 Tháng Tám 20203:58 SA(Xem: 419)

Định vị bản thân trong thế giới: Tôi là ai?

blank

Ở lứa tuổi thanh niên, hầu hết ai trong chúng ta cũng gặp khủng hoảng về căn tính. Khi trí não phát triển đến một mức độ nhất định, con người thường đặt các câu hỏi liên quan tới căn tính của mình. Tôi là ai? Tôi sống để làm gì? Và tại sao con người phải chết?… Nói một cách khác, đây là lứa tuổi đi tìm ý nghĩa cuộc sống và nhiệm vụ cần phải giải quyết là nhận ra „vị trí của mình” trong thế giới này.

Nét đẹp của tuổi thanh niên là sống có lý tưởng. Nhưng căn tính nơi người trẻ ở giai đoạn này chưa thực sự rõ ràng, cho nên các bạn có xu hướng đi tìm cho mình những hình mẫu nơi người nổi tiếng: như ca sĩ, diễn viên, cầu thủ bóng đá…. Có thể hiểu, các bạn trẻ thích chọn cho mình những thần tượng để diễn tả khao khát của mình. Người trẻ muốn trở nên như những người có vị trí và sự ảnh hưởng trong xã hội, như các thần tượng mà mình yêu mến. Sự lôi cuốn và sức hấp dẫn của các thần tượng là một động lực để các bạn trẻ học tập và cố gắng rèn luyện bản thân, cũng như học hỏi những kinh nghiệm đáng quý từ các thần tượng.

Tuy nhiên, nếu không đủ tỉnh táo các bạn dễ bị thu hút và chỉ chú ý tới những hào nhoáng bên ngoài mà thôi. Cần có một khoảng cách nhất định với các thần tượng, để các bạn không bị đồng hóa và đánh mất cá tính riêng của mình. Nhất là không bị trở nên bản sao – chỉ biết coppy, bắt chước mà không biết chọn lọc. Để nhận ra căn tính thực của riêng mình, các bạn phải biết tách mình ra và tự đi tìm câu trả lời cho chính mình: Tôi là ai?

Trong Tin Mừng theo thánh Mát-thêu Chúa Nhật 21 Thường Niên[1], Đức Giê-su hỏi các môn đệ: „ Người ta bảo Thầy là ai?” Sau một thời gian sống cùng và ở với Thầy, các ông trả lời rằng: „Có người nói Thầy là ông Gio-an Tẩy Giả, kẻ khác thì bảo là ông Ê-li-a, hay là một trong các vị ngôn sứ…” Các đánh giá, nhận xét của người khác về Đức Giê-su là rất tích cực, nhưng tất cả những danh xưng ấy là của người ta, họ là những người nhìn Đức Giê-su từ bên ngoài, chứ chưa phải là ý kiến của riêng các môn đệ, là những người đã sống và cùng đồng hành với Người. Đức Giê-su hỏi riêng các ông: „Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” (Mt 16, 13-20)

Phê-rô đã trả lời: „Thầy là Đấng Ki-tô, Đấng Mê-si-a…Câu trả lời của Phê-rô đúng, nhưng có lẽ chưa đủ. Vì ngay sau đó, Đức Giê-su cấm ngặt các ông không được nói với ai về Người là Đấng Mê-si-a. Tại sao Đức Giê-su phải ngăn cấm các môn đệ không được tiết lộ căn tính của Ngài? Phải chăng Đức Giê-su sợ sệt không muốn công khai danh phận thực sự của mình? Hay là, Ngài chỉ muốn tiết lộ danh tính thực cho một nhóm nhỏ mà thôi?

Chắc chắn Đức Giê-su chẳng vì sợ chết mà không dám công bố căn tính của mình. Trong các sách Tin Mừng, rất nhiều lần Đức Giê-su đã thẳng thắn đối chất với những người có quyền mà không hề sợ hãi. Đức Giê-su cũng chẳng muốn giữ bí mật riêng cho các môn đệ mà thôi. Mục đích của Đức Giê-su khi đến trần gian là tỏ lộ chính mình là Con Thiên Chúa và làm chứng về Chúa Cha. Vậy tại sao Ngài lại ngăn cản, không cho các môn đệ tiếp tục bàn tán và loan truyền một câu trả lời đúng về Ngài? Có lẽ, nguyên do là vì các môn đệ chưa hiểu đúng ý nghĩa Đấng Mê-si-a là gì.

Đối với các môn đệ, khái niệm Đấng Mê-si-a hàm chứa một quyền lực mang tính chính trị, là người có sức mạnh giúp dân giải phóng khỏi ách thống trị của Đế quốc Roma. Đấng Mê-si-a mà dân Izrael đang mong chờ là Đấng có quyền năng thực hiện phép lạ vĩ đại, tương tự như Mô-sê đã thực hiện khi đưa dân vượt qua biển đỏ… Trong khi đó, đối với Đức Giê-su: Đấng Mê-si-a mang ý nghĩa là sự đau khổ và chịu chết. Có thể nói rằng, Phê-rô đã đại diện cho các môn đệ trả lời đúng câu hỏi của Đức Giê-su, nhưng chính Phê-rô cũng hiểu sai về câu trả lời ấy. Sự ngăn cản của Đức Giê-su trong việc cấm cản các môn đệ loan truyền rộng rãi Người là ai, là vì các môn đệ chưa hiểu được ý nghĩa thực sự khái niệm Đấng Mê-si-a là gì, cho đến khi họ chứng kiến việc Thầy mình chịu chết nhục nhã và phục sinh. Nói một cách khác, mặc dù trả lời đúng căn tính của Đức Giê-su, nhưng các môn vẫn chưa hiểu danh tính đức thực của Đức Giê-su và luôn luôn có nguy cơ rao giảng một thông điệp sai.

Qua bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy rằng Đức Giê-su biết rõ và hiểu đúng về căn tính của mình. Ngài không bị lóa mắt trước những lời tung hô có cánh của dân chúng dành cho mình. Ngài không bị lôi cuốn bởi những hào nhoáng bên ngoài của những người có vị trị và ảnh hưởng trên xã hội thời đó. Ngài cũng không bị những cái nhìn, cái đánh giá… của người cùng thời chi phối và làm mất tự do. Đức Giê-su nhận biết chỗ đứng của mình trong thế giới, không chỉ nhờ những ý kiến phản hồi từ người khác, mà còn nhờ những phút giây đi vào trong thinh lặng để lắng nghe lòng mình, lắng nghe tiếng Chúa Cha.

Trong giai đoạn khám phá căn tính của mình, các bạn trẻ được mời gọi mở ra để hiểu mình một cách sâu xa hơn. Tiến trình này đòi hỏi các bạn một sự kiên nhẫn và lòng quảng đại của con tim. Nghĩa là, biết lắng nghe những nhận xét của người khác, để thấy người khác hiểu về mình thế nào. Thường xuyên gặp gỡ và trò chuyện với những người khôn ngoan và đáng tin, để nhận ra và hiểu đúng khao khát thực sự nơi mình. Và nhất là đi vào tương quan với Đấng là Sự Thật, để ta không bị chi phối bởi các lời nói, nhãn mác hào nhoáng ở bên ngoài, mà nhận biết thực sự „ơn gọi” làm người của tôi là gì.

Cầu chúc cho các bạn trẻ lòng can đảm và tự tin bước vào đời. Mặc dù, tuổi trẻ thích sự sôi động và ồn ào, nhưng cũng cần những khoảnh khắc thinh lặng sâu lắng. Thinh lặng không phải là một cái gì đó thiếu thiếu, nhưng là phút giây để điều gì đó được sinh ra trong cõi lòng. Nhất là, mỗi khi phải quyết định và đưa ra chọn lựa trong cuộc sống, hãy tự hỏi chính mình: Tôi thực sự mong muốn điều gì? và mạnh dạn hỏi Đức Giê-su: „Con là ai trong mắt Ngài?”

Trần Văn Ngữ, SJ

…………..

[1] Anh em bảo Thầy là ai? (Mt 16,13-20)
Theo Dongten.net

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Ba Vua là ba khuôn mặt không thể thiếu vắng trong mùa Giáng Sinh. Nhắc đến Giáng Sinh là nhắc đến mục đồng thôn Bêlem và Ba Vua. Nhưng người Kitô hữu nói chung rất mù mờ về thân thế của Ba Vua. Nếu đặt câu hỏi, “Ba Vua tên gì?” nhiều tín hữu sẽ lúng túng và ngập ngừng trước câu hỏi vừa được nêu. I. Ba Vua Trong văn bản tiếng “phổ thông Hy Lạp,” theo như thánh sử Mátthêu, khi “Đức Giêsu sinh ra tại Bêlem, xứ Giuđê, trong đời vua Hêrôđê, mágòi (μάγoi) từ phương Đông tìm đến Giêrusalem. Các ông hỏi, — Vua người Do Thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhìn thấy ngôi sao của Người ở phương Đông, và chúng tôi đến để triều bái Người” (Mátthêu 2:1). Trong tiếng cổ Hy Lạp mágòi (μάγoi) không có nghĩa là vua. Mágòi là danh từ số nhiều của mágọs (μάγos), một danh từ giống đực. Mágói, theo như Raymond Brown, là một thuật ngữ bao gồm nhiều nghĩa: chiêm tinh gia, giải mộng gia, phù thủy (pháp sư), và thầy tư tế của tôn giáo vùng Trung Đông.
Thiên Chúa đã phái các thiên thần đến báo cho những người chăn cừu biết một Đấng Cứu Thế đã được sinh ra: “Thiên thần Chúa bỗng hiện đến bên họ và vinh quang Chúa rạng ngời bao quanh họ, làm họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng thiên thần nói với họ: “Đừng sợ! Này ta đem tin mừng cho các ngươi về một niềm vui to tát, tức là niềm vui cho toàn dân: là hôm nay, đã sinh ra cho các ngươi vì Cứu Chúa, tức là Đức Kitô Chúa, trong thành của Đavit” (Lc 2,9-11). Hôm nay Ngài báo tin cho chúng ta Giáng sinh đã được một thế giới vô thần tục hóa đến nỗi ngày càng nhiều người cùng thời với chúng ta đã quên đi nguồn gốc của nó. Chắc chắn, khung cảnh Chúa giáng sinh cho họ một ý tưởng chung, nhưng họ không biết rằng trẻ nhỏ nằm trong máng cỏ đơn sơ này đã đến để mang lại cho họ tình yêu và niềm vui mà họ tìm kiếm trong vô vọng.
Lễ Giáng Sinh luôn rất lạ. Lạ đủ thứ. Lạ từ nội tại tới ngoại tại. Giáng Sinh tại Việt Nam chỉ se lạnh một chút, chẳng thấm gì so với cái lạnh của Hài Nhi Giêsu năm xưa, nhưng cũng là lời nhắc để chúng ta nhớ tới cái lạnh của những phận người cơ nhỡ, những kẻ cô đơn, nghèo khó, thiếu thốn những thứ cơ bản nhất,… Việt ngữ thật chí lý khi nói là giá lạnh hoặc lạnh giá, cái “giá” này mới “đáng giá,” chứ cái “lạnh” chưa thấm thía chi đâu. Điều đáng quan tâm là cái lạnh ngoại tại gợi nhớ tới cái lạnh tâm hồn, cái lạnh linh hồn, cái lạnh tâm linh. Cái lạnh này khủng khiếp, cái lạnh giá băng. Có nhiều kiểu lạnh.
Chuyện kể rằng: Có một người đàn bà giàu có đang hấp hối trên giường bệnh. Trong tờ chúc thư để lại, bà kể tên của tất cả mọi người thân thuộc và xa gần sẽ hưởng gia tài của bà. Tuyệt nhiên, bà không hề đá động đến cô gái nghèo và trung thành hầu hạ bà từng giây từng phút. Quà tặng duy nhất mà bà tặng cho cô đó là một thánh giá được bọc thạch cao. Cô gái nhận lấy món quà nhưng lòng cô đầy cay đắng buồn phiền. Cô tự nghĩ: mình đã trung thành phục vụ, hầu hạ sớm hôm để rồi chỉ được món quà không ra gì. Không còn đủ bình tĩnh để nuốt lấy từng giọt cay đắng, cô đã kéo thập giá xuống khỏi tường và ném tung trên nền nhà. Cây thập giá vỡ tung và kìa, trước sự ngạc nhiên của cô, tất cả những mảnh vụn thoát ra khỏi lớp vỏ thạch cao đều là những viên kim cương óng ánh...
“Thì giờ hay đời sống là món quà quý Đức Chúa Trời ban cho mỗi người chúng ta. Đời sống quý vì nó đến từ chính Chúa là Đấng Tạo Hóa.” Đời sống thật mong manh và ngắn ngủi. Con người sống đó rồi chết đó cũng mấy hồi. Bởi vậy, con người quy về Thiên Chúa là cội nguồn của sự sống và hạnh phúc. Tiền bạc quan trọng nhưng không là tất cả. Quyền lực, thú vui rồi cũng chỉ là cát bụi mà thôi. Vì thế, một nhạc sĩ đã từng cảm nhận: “Làm con người trong cuộc đời được bấy nhiêu năm. Ai vốn giàu sang, ai vốn kiếp bần hàn, ai giãi dầu một nắng hai sương, mai lìa đời nhắm mắt xuôi tay. Đua đòi nhiều chỉ khổ thêm thôi”. /post 19 Tháng Tám 2012(Xem: 7000) Tâm Thương - TgpSaigonnet/
Nếu vào một ngày nào đó tôi không còn sống nơi trần gian này nữa, thì những đứa trẻ vẫn lần lượt lớn lên, người thân người thương của tôi họ vẫn ăn, vẫn uống và làm việc theo lẽ sinh tồn, những ngôi nhà, con đường tôi quen thuộc bỗng chốc trở nên xa lạ, mặt trời vẫn giải nắng trên đồng cỏ xanh và cơn mưa vẫn tưới mát trên những thửa ruộng khô cằn… Không gian yên tĩnh ngày nào chẳng còn, khi người viếng, kẻ thăm, người khóc, kẻ cười,… tạo nên khung cảnh bi đát, chua xót và đau thương. Thân xác tôi vẫn nằm đó chẳng cử động hay nhúc nhích, chẳng thở than hay kêu gào mặc cho lũ ruồi muỗi đậu bay. Người ta thức cố thức tôi dậy sau giấc ngủ dài nhưng kết quả nhận được là sự thinh lặng chẳng một lời hồi âm phát ra. Tôi biết và tôi cố gồng mình ngồi dậy để an ủi những người thân đang ngồi than khóc, nhưng bàng hoàng chợt nhận ra tôi đã chết rồi!
Khi những chồi non đua nhau chởm nở, đó là lúc báo hiệu về một mùa xuân đang kéo đến. Khi những áng mây đen kéo về phía cuối trời, cũng là khi báo hiệu cơn mưa. Và khi những biến cố xảy ra trong đời là khi báo hiệu cho ta về dấu chỉ của lòng thương xót của Thiên Chúa. Thiên Chúa muôn đời là tình yêu. Ngài cảm thấu nỗi đau, nỗi mất mát của phận người. Những cảnh tượng xảy ra trong thời đại hôm nay mà ta chứng kiến, như thiên tai, đại dịch Covid 19, như một màu tím đang bao trùm toàn nhân loại. Trước những cảnh tượng đó, có ý kiến cho rằng đó là một cuộc đại thanh tẩy của Đấng Tạo Hóa, cũng có người cho rằng, nếu Thiên Chúa là Đấng toàn năng và tình yêu, tại sao Ngài lại để những thảm họa khủng khiếp ấy xảy ra? Phải chăng đó là một dấu chỉ mà Thiên Chúa gửi đến để cảnh tỉnh nhân loại này?
Diễn đàn Quốc tế vì Sự Sống đã phát động sáng kiến có tên “Một cây nến cho trẻ em không được chào đời” nhắm cổ võ một loạt các Thánh lễ, từ ngày 25/10 đến 2/11, với những ý chỉ đặc biệt, cầu nguyện cho các trẻ em không được chào đời. - Sáng kiến được nhiều thành phố ở Slovakia tham gia. Mục đích của sáng kiến là “hy vọng rằng người dân mở lòng và hộ trợ tài chính cho tất cả các phụ nữ chờ sinh con và cho các tổ chức giúp đỡ họ.” Sáng kiến cũng “cầu nguyện cho những cặp vợ chồng có ý định thực hành thụ tinh nhân tạo và cho những người trẻ để họ bảo vệ sự sống từ khi thụ thai đến khi chết tự nhiên.”
GNsP (04.03.2018) – Ngay từ khi tạo dựng nên con người, Thiên Chúa đã ban thiên chức là mẹ cho người phụ nữ, niềm yêu mến sâu xa dành cho người mẹ định cư trong đáy thâm sâu của trái tim con người khiến tất cả mọi hoạt động của loài người cách này cách khác đều bày tỏ lòng yêu mến và trân trọng dành cho người mẹ. Thánh Phanxico Assi đã cất cao lời ca tụng “Mẹ trái đất”, người Việt Nam gọi ba chữ “Mẹ tổ quốc” với tất cả lòng trìu mến yêu thương, Dòng Chúa Cứu Thế gọi “Mẹ nhà dòng” trong một bài thánh ca truyền thống.
Sự ra đời của mỗi một con người luôn mang đến niềm vui và hạnh phúc cho mỗi gia đình và toàn nhân loại. Hơn thế, sự hiện diện của một con người mới trên cõi đời như là dấu chỉ của hy vọng cho thế gian. Qua tình yêu, người cha và người mẹ đã cộng tác với Thiên Chúa trong công việc sáng tạo và vun đắp cho sự sống của con người. Mỗi người con sinh ra sẽ là những tia hy vọng cho cả Giáo hội và xã hội, vì qua những mảnh đời nhỏ bé ấy, tình yêu và bình an của Thiên Chúa được trao ban đến cho thế giới.
Bảo Trợ