Cánh Vạc Mùa Vọng

07 Tháng Mười Hai 20185:43 SA(Xem: 1019)

Cánh vạc mùa Vọng

Khi đề cập sự mong chờ hoặc đợi chờ, người ta thường nhớ tới hình ảnh con vạc (cũng gọi là hạc – nycticorax). Đó là sự mong đợi của hai người yêu nhau, nhưng chúng ta cũng có thể dùng hình ảnh con vạc để nói về nỗi lòng của chúng ta trong Mùa Vọng – khoảng thời gian chuẩn bị đón mừng Con Thiên Chúa giáng trần.
hoang hon nghethuatsong

Mỗi loài đều có đặc tính riêng, nhưng có lẽ loài vạc có đặc tính “lạ” nhất. Vạc là động vật có cánh, một loài chim thuộc họ diệc, kiếm ăn ban đêm và có tiếng kêu buồn thảm. Tiếng kêu của loài Vạc nghe buồn thảm vì là tiếng lòng của kẻ lẻ bạn, đơn độc, một mình bay đi kiếm ăn ban đêm nhưng lòng vẫn thương nhớ khôn nguôi về người bạn tình phương xa. Não nề lắm, da diết lắm! Người ta gọi đó là “tiếng vạc kêu sương” – tiếng vạc kêu trong màn sương lạnh lùng của đêm tĩnh lặng thì chắc hẳn là u uẩn và buồn bã lắm!

TÌNH VỌNG

Điển tích xưa kể rằng: Thôi Hộ là danh sĩ đời Trung Đường, diện mạo khôi ngô, thích làm bạn với sách vở và bút nghiên. Trên đường lên kinh ứng thí giữa tiết Thanh Minh, mọi người đang vui hội Đạp Thanh (giẫm lên thảm cỏ xanh). Khi đi ngang qua vườn hoa đào tuyệt đẹp, chàng dừng lại ngắm và xin nước uống, một mỹ nhân duyên dáng ra mở cửa. Nàng mời trà, chàng đón nhận. Đôi tay vô tình chạm nhau, nàng thẹn thùng cúi mặt, má ửng hồng, chàng cũng bồi hồi, ngượng nghịu. Gặp nhau không lâu nhưng cả hai thấy tâm đầu ý hợp, quyến luyến nhau. Thôi Hộ phải đi vì công danh sự nghiệp, Phụng Trinh đứng dưới gốc đào ngơ ngẩn nhìn theo…

Đến năm sau, vào ngày hội du xuân, chàng nho sinh nhớ người con gái đã khiến chàng dệt bao mộng đẹp. Chàng tìm đến vườn đào để thăm. Bước vội vã hân hoan của chàng khựng lại khi thấy cửa đóng then cài, cảnh cũ còn mà người xưa vắng bóng. Chàng buồn bã nhìn hoa đào nở tươi trong gió xuân mà bùi ngùi niềm cô quạnh. Chàng thờ thẫn đau lòng khi nghĩ nàng đã theo chồng. Quá thất vọng, chàng thảo bốn câu thơ trên cửa cổng, ghi lại tâm tư sầu nhớ ngậm ngùi của mình.

Rồi chiều đến, nàng cùng cha trở về, chợt nhìn lên cổng thấy bốn câu thơ, nét chữ tinh xảo, ý thơ dồi dào, nàng xúc động khi biết rõ tình cảm nhớ mong của chàng ẩn chứa trong đó. Nàng buồn bã hối tiếc không về kịp để gặp lại chàng. Ngày qua ngày nàng tựa gốc đào tha thiết mong đợi và hy vọng nho sĩ phong nhã năm xưa trở lại. Thời gian cứ trôi, cánh chim bạt gió cất tiếng kêu thảm thiết não nùng vì lẻ bạn khiến lòng nàng tê tái. Cứ hết hè lại thu sang, đông qua rồi xuân về, nỗi nhớ nhung nung nấu khiến lệ trào khóe mắt, bóng chàng vẫn biền biệt. Nàng tuyệt vọng, bỏ ăn, bỏ ngủ, thân xác tiều tụy, dung nhan võ vàng.

Thương con gái, người cha lo tìm thầy giỏi chữa trị cho nàng. Mà làm gì có thuốc trị bệnh tương tư chứ? Biết mình kiệt sức không sống được, nàng đành thuật lại tâm sự của mình cho cha nghe và xin cha tha tội bất hiếu. Người cha xúc động thương cho phận bạc của con gái. Nhìn con nằm lịm trên giường bệnh chờ đợi tử thần, ông nóng lòng đứng ngồi không yên. Ông nghĩ đến chàng thư sinh, chỉ có người ấy mới có thể cứu sống con gái. Vừa ra khỏi cổng, ông găp ngay một chàng thư sinh tuấn tú. Thấy ông già đi như chạy, chàng vội thăm hỏi. Ông kể lể sự tình…

Nhận ra nhau, hai người vội chạy vào nhà, nhưng cũng là lúc Phụng Trinh trút hơi thở cuối cùng. Chàng xúc động quỳ xuống, cầm tay nàng, úp mặt vào mặt nàng vừa khóc nức nở vừa kêu tên nàng thảm thiết. Tiếng kêu bi thương như lay hồn nàng thức tỉnh, và những giọt nước mắt nóng hổi của tình yêu nhỏ xuống mặt nàng khiến nàng hồi sinh. Nàng mở mắt nhìn chàng và nở một nụ cười sung sướng. Đào Bạch Phụng bằng lòng cho Phụng Trinh và Thôi Hộ nên duyên cầm sắt.

Một câu chuyện tình buồn nhưng tình yêu chân thật đã lật ngược thế cờ, khối u tình mà lại có hậu. Thật may mắn và hạnh phúc thay! Thiên Chúa cũng sẽ biến đổi cuộc đời chúng ta nếu chúng ta thành tâm yêu mến và tín thác vào Ngài. Lời cầu nguyện có sức biến đổi mọi sự, kể cả số phận của một con người.

HỒN VỌNG

Diễn tả nỗi mong đợi mà linh hồn hướng về Thiên Chúa, Thánh Vịnh gia thổ lộ: “Như nai rừng mong mỏi tìm về suối nước trong, hồn con cũng trông mong được gần Ngài, lạy Chúa!” (Tv 42:2). Nỗi mong đợi luôn khiến người ta khắc khoải, bồn chồn, thao thức, và dù chẳng làm gì sai trái mà đôi khi như bị “dằn vặt” vậy vì muốn gặp gỡ cho thỏa lòng: “Linh hồn con khao khát Chúa Trời, là Chúa Trời hằng sống. Bao giờ con được đến vào bệ kiến Tôn Nhan?” (Tv 42:3). Người mong kẻ đợi không bao giờ an tâm, cũng có nghĩa là không cảm thấy hạnh phúc, nói thẳng ra là đau khổ lắm, đến nỗi mà Thánh Vịnh gia mô tả lương thực thế này: “Châu lệ là cơm bánh đêm ngày” (Tv 42:4). Ôi chao, thật là buồn biết bao!

Nhưng dù sao cũng phải kiên trì, và luôn tự nhủ: “Mong đợi Chúa, tôi hết lòng mong đợi, cậy trông ở lời Người. Hồn tôi trông chờ Chúa, hơn lính canh mong đợi hừng đông” (Tv 130:5-6). Trong nỗi mong đợi luôn “tiềm ẩn” niềm hy vọng – dù mạnh hay yếu, bởi vì có hy vọng mới kiên trì mọi người đợi.

Liên quan niềm hy vọng – đức cậy, có câu chuyện kể rằng…

Có bốn ngọn nến tượng trưng cho Hòa Bình, Niềm Tin, Tình Yêu, và Hy Vọng. Thế giới hiếm khi không có chiến tranh, giữa người với người cũng vẫn thiếu sự hòa thuận, dù là những người trong cùng một gia đình. Xung đột như vậy là dạng “chiến tranh nhẹ”.

Nhưng ngọn nến Hòa Bình cứ mờ dần, yếu dần, chỉ còn leo lét, rồi… tắt. Cũng vậy, thế giới ngày nay đang mất dần niềm tin, coi niềm tin tôn giáo là xa xỉ phẩm, thậm chí còn phỉ báng hoặc bách hại những người có niềm tin tôn giáo – nhất là niềm tin vào Đức-Kitô-chịu-đóng-đinh. Tiếp theo, ngọn nến Niềm Tin cũng cứ tắt dần, chỉ còn tỏa ra làn khói trắng luyến tiếc. Người ta “vào hùa” với nhau về tình trạng mất niềm tin – không tin có điều tốt lành và không tin nhau nữa. Tương tự, người ta cũng không cần ngọn nến Tình Yêu nên không muốn thắp sáng ngọn nến này nữa. Ngay cả những người thân máu mủ ruột thịt với nhau mà còn thổi tắt ngọn nến này thì làm sao nó có thể tỏa sáng? Cả ba ngọn nến kia đều tắt hết, và rồi chỉ còn ngọn nến Hy Vọng vẫn sáng, mặc dù ánh sáng của nó yếu ớt, le lói, lặng lẽ…!

Chút ánh sáng yếu ớt đó lại là thứ quan trọng, bởi vì ít ra cũng còn ngọn nến Hy Vọng. Cuộc sống này luôn cần ngọn nến này, dù các ngọn nến Hòa Bình, Niềm Tin và Tình Yêu đã tắt lịm. Tại sao vậy? Ngọn nến Hy Vọng cần thiết vì đó là ngọn nến Cậy Trông (đức Cậy), chính ngọn nến này sẽ đủ sức thắp sáng cho cả ba ngọn nến kia. Quả thật, đó cũng là triết lý sống của Mùa Vọng, mùa đợi trông Đấng Cứu Thế. Thánh LM Don Bosco: “Càng khốn khó thì càng phải tin cậy vào Thiên Chúa”. Hãy cố gắng ghi nhớ và thực hành theo lời khuyên thánh nhân, không chỉ trong Mùa Vọng này, mà suốt cả cuộc đời Kitô hữu.

Lạy Thiên Chúa, xin thương xót chúng con, chúng con trông cậy vào Ngài. Mỗi buổi sáng, xin Ngài nên cánh tay nâng đỡ chúng con; xin cứu độ chúng con trong lúc ngặt nghèo (Is 33:2).

Trầm Thiên Thu
Khởi đầu Mùa Vọng, Năm Phụng Vụ C – 2019

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
“ Vì nếu chúng ta tin rằng Đức Kitô đã chết và đã sống lại, thì chúng ta cũng tin rằng những người đã an nghỉ trong Đức Giêsu, sẽ được Thiên Chúa đưa về cùng Đức Kitô. “ ( Trích thư Thánh Phaolô gởi tín hữu Thesalonia ) Nghe lời trách móc của tu sĩ, cha dựng tóc gáy, cảm thấy hối hận và tìm cách vớt vát sự vô ý của mới mình. Bỗng cha nghĩ ra diệu kế, vội đánh chuông tụ họp các tu sĩ trong nhà thờ.
Công cuộc truyền giáo phải bắt đầu từ gia đình, truyền giáo cho nhau, rồi tới hàng xóm, bạn bè, làng xã, giáo xứ,… Tiếp theo là truyền giáo ở diện rộng hơn: giáo hạt, giáo phận, tỉnh, quốc gia, quốc tế. Truyền giáo liên quan ơn gọi, không thể tách rời, nhưng tất cả vẫn phải khởi đầu từ gia đình.
Trong thánh lễ sáng nay tại nhà nguyện thánh Marta, Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến ba cách thức sống nghèo trong đời sống của người Kitô hữu. Ngài cũng nhắc nhớ rằng, trong thời đại này, cũng có nhiều Kitô hữu đang chịu bách hại vì Tin Mừng. Trần Đỉnh, SJ
HIẾN CHƯƠNG NƯỚC TRỜI _ Mùa Xuân Thiên Quốc_ (Hiệp thông Lễ đặt Bia đá ‘KINH TÁM MỐI PHÚC THẬT’ tại đồi Beatitude Do Thái 20/10/18) *“Trông thấy dân chúng, Ngài lên núi và ngồi xuống. Môn đệ đến bên Ngài, Ngài cất tiếng giảng dạy : -Phúc cho những kẻ có tinh thần khó nghèo, vì Nước Trời là của họ. -Phúc cho những kẻ hiền lành, vì họ sẽ được đất làm cơ nghiệp. -Phúc cho những kẻ ưu phiền, vì họ sẽ được an ủi.
*Người Anh Em Khó Nghèo. Theo truyền thuyết, một người lạ đến nhà bảo bà Pica hãy tới một chuồng bò để hạ sinh đứa trẻ tại đó. Là người giàu có sang trọng, bà giật mình vì ý kiến đó. Nhưng sau nhớ lại chính Chúa Ki-tô cũng đã sinh ra nơi chuồng bò, đồng thời có sức nhiệm mầu thúc đấy, nên bà đã thực hiện như lời đề nghị của người lạ. Đó năm 1182, Phanxicô thành Assisi cất tiếng khóc chào đời tại chuồng bò, cũng như Con Thiên Chúa đã giáng sinh trong máng cỏ nơi hang đá Belem.
Trong chương trình “China Got’s Talent” 2011, có một ca khúc mang tên “Gặp mẹ trong mơ,” đã làm rung động hàng triệu con tim trên toàn thế giới bởi nét giai điệu đẹp, giọng hát hay và câu chuyện xúc động của em bé 12 tuổi người Mông Cổ tên là Uudam thể hiện. Uudam đã thể hiện bài hát bằng tài năng thiên phú và với nỗi nhớ nhung, mơ ước tận sâu trong trái tim trẻ về mái ấm gia đình.
KINH MÂN CÔI Chìa Khóa Mở Cửa Thiên Đàng ( Tháng 10 Kính Đức Mẹ Mân Côi ) *Hàng năm Giáo Hội giành riêng 2 tháng để tôn kính Đức Mẹ Maria : Tháng 5- Tháng Hoa và Tháng 10- Tháng Mân Côi. Kinh Lạy Cha được chính Chúa truyền dạy cho các Tông Đồ cách cầu nguyện hiệu quả nhất.
Kính thưa Đức Giáo hoàng Phanxicô, Quả thật, Đức Thánh Cha có lỗi! Đức Thánh cha có lỗi vì là một con người và không phải là một thiên thần! Đức Thánh Cha có lỗi vì khiêm tốn chấp nhận rằng mình đã sai lầm và cầu xin sự tha thứ cho chính mình và cho cả chúng con nữa. Trong khi điều này đối với nhiều người lại không thể chấp nhận được. Đức Thánh Cha có lỗi bởi vì ngài không muốn làm một vị thẩm phán, một con người của luật lệ, nhưng là một mẫu gương và nhân chứng của lòng thương xót.
Giải thích về sự nô lệ và tự do, ĐTC Phanxicô nói rằng có những thứ nô lệ ngoại tại và nội tại, nhưng sự nô lệ tồi tệ nhất là nô lệ chính mình. ĐTC cũng nhấn mạnh rằng sự tự do đích thật chính là tình yêu thương mà Chúa Kitô chịu đóng đinh ban lại cho con người.
YÊU ( Lễ mừng kính Mẹ Teresa Calcutta : 5/9 hàng năm ) Biết bao người viết hồi ký bộc lộ tình yêu : cha mẹ, vợ chồng, con cái, người tình, quê hương, danh vọng, tiền tài… Nhưng có một người con gái 18 như cánh bướm mỏng manh khoe sắc, hy sinh tuổi xuân, nhan sắc, tài năng, rời bỏ quê hương Albani thân yêu nhỏ bé, đến tận chân trời xa xôi Ấn Độ nghèo nàn, dâng hiến đời mình cho một tình yêu tuyệt vời- Đó là nàng Agnes Gonxha Bojaxhiu trở thành Dì Maria Teresa-
Bảo Trợ