Quê hương bình yên

06 Tháng Chín 20122:00 CH(Xem: 10129)

Giữa đời thường

Tôi có dịp về thăm một xã vùng quê nghèo, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang nhân dịp nghỉ lễ 02.09 vừa qua. Nơi đây không tất bật, ồn ào và hào nhoáng như Sài Gòn nhưng thật yên bình bởi khung cảnh êm đềm và con người miền Tây chân chất thật thà. Điều này làm tâm hồn tôi như lắng lại để nghỉ ngơi và suy nghĩ. Nghỉ ngơi sau những ngày làm việc vất vả ở chốn thị thành. Suy nghĩ về bản thân, về những con người nơi quê hương này, và suy nghĩ về tương quan giữa mình với Thiên Chúa.

Vậy những cảm nhận trên đây được thể hiện cụ thể như thế nào?
 blank

Khung cảnh quê hương thật yên bình

Trước tiên, khung cảnh nơi đây thật yên bình, không có nhiều nhà tường, không nghe được nhiều tiếng xe rầm rộ như ở Sài Gòn. Cây cối um tùm, nhất là cây dừa, lác đác là những cánh đồng xanh. Phần đông những hộ gia đình nghèo nơi đây sống trong những căn nhà lá. Thật bình thường và giản đơn. Sáng sớm thức dậy, tôi nghe tiếng chim hót líu lo. Rộn ràng nhưng cũng rất đỗi bình yên. Ngoài ra, tiếng gió thổi làm cho những chiếc lá dừa đong đưa hay tiếng nước chảy róc rách nơi những ống thông nhau giữa các con mương. Thật mát mẻ và nhẹ nhàng. Tôi nói với người anh: “Về quê thật yên bình. Không phải hòa mình với dòng chảy sôi động và bon chen dữ dội như ở Sài Gòn. Về đây muốn được nghỉ ngơi, thăm hỏi bà con bạn bè và nghe nhạc trữ tình quê hương.”

Bạn thân mến, mỗi người có những cảm nhận khác nhau về quê hương. Riêng tư và độc đáo. Đôi khi rất đỗi bình thường nhưng chan chứa yêu thương cho đời, cho người. Những cảm nhận như thế thấm đẫm trong những vần thơ, điệu nhạc và dạt dào ngay giữa đời thường. Thế nên, nhà thơ Ngô Hữu Đoàn đã cảm nhận quê hương thật sâu lắng: “Quê hương ơi! Riêng gì “chùm khế ngọt. Đâu riêng gì những “nón lá nghiêng che”. Quê hương là có cả những Đông, Hè. Có hôm quà ngọt, có ngày đòn roi… Quê hương ơi! Ai cũng có một thời. Rồi “cơ hội” níu ta về lối khác. Bỏ người thân, người thầy vương tóc bạc. Chẳng biết gì nhau, chẳng hay qua đời” (Bài thơ Nhớ Quê Hương). Còn, nhạc sĩ Từ Huy thì cảm thấu quê hương yên bình như sau: “Tôi yêu quê tôi, xanh xanh lũy tre. Quê hương tuổi thơ đi qua đời tôi. Đường làng quanh co, sông Thu êm đềm. Thả diều đá bóng nắng cháy giữa đồng. Biển trời mênh mông tôi bơi ngày ấy. Tiếng tu hú gọi thấy nhớ biết bao” (Bài hát Quê Hương Tuổi Thơ Tôi).

Quê hương có những con người sống bình dị và giàu tình thương

Tiếp đến, quê hương yên bình được thể hiện nơi những con người miền Tây thật thà đơn sơ nhưng chan chứa tình người. Lần này về quê, anh tôi đãi món cá bóng kho tộ chấm rau luộc. Ăn cơm rất ngon. Đơn giản và dân giã. Dù vậy thật ấm lòng và chan chứa tình anh em. Mỗi ngày anh đi đặt lộp để bắt những con cá bóng dừa, những con tép. Bắt được bao nhiêu, anh không bán nhưng đem ra đãi anh em một bữa cơm đạm bạc. Anh không có nhiều tiền nhưng rất giàu tình cảm. Anh giải thích lý do: “Lâu lâu anh em mới có dịp về quê gặp nhau.” Nói tới đây lại nhớ tới những vần thơ rất đẹp về quê hương của nhà thơ Vũ Ngọc Đoàn: “Quê hương ơi! Nhớ từng nét mặt người. Cười rất giòn dù cái vui đơn giản. Luống mạ non hoặc đồi trơ đá sạn. Cũng câu chào, cũng tiếng hỏi thăm nhau” (Bài thơ Nhớ Quê Hương).

Anh tôi tâm sự thế này: “Mình rất thích nghe mùi khói đuốc. Mùi này gợi nhớ tới quê hương thầm lặng và yên bình.” Vâng, sở thích ấy thật giản đơn và bình dị biết bao. Bởi vậy, sự bình yên cũng khởi đi từ những sở thích và những con người chân quê như thế. Sự bình yên đến từ những điều bình thường. Sự bình yên đến từ những con người bình dị và bình thường. Vì thế, sự bình yên của quê hương đâu chỉ có ở những lời ru êm đềm của mẹ. Quê hương yên bình được khởi đi từ những tâm hồn đơn sơ và bình dị của những người nông dân tay lấm chân bùn. Vậy, bạn đã có lần nào cảm nhận được sự bình yên như thế chưa?

Yên bình để suy nghĩ về bản thân và nhìn lại tương quan với Thiên Chúa

Cuối cùng, sự yên bình của quê hương mang đến nhiều cơ hội để chúng ta nhìn lại bản thân và suy nghĩ về Thiên Chúa. Triết gia Socrat bảo rằng: “Hãy tự biết mình.” Còn Decartes thì triết lý: “Tôi suy tư là tôi hiện hữu.” Điều này cho thấy việc biết chính mình, suy nghĩ về bản thân rất quan trọng đối với đời sống chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta thường để lạc mất chính mình. Chúng ta sống không định hướng và mục đích. Chúng ta lao mình vào những trò đỏ đen và những thú vui tiêu khiển. Chúng ta rất dễ đánh mất chính mình.

Mấy ngày về quê, tôi tranh thủ viết lách suy tư để khám phá bản thân nhiều hơn. Dù biết rằng, thật khó để nhìn nhận và chấp nhận bản thân mình. Nặng nề và khó khăn lắm. Lần này về quê trùng dịp lễ giỗ 6 năm của một ông bác. Bác là người thích sống thầm lặng và bình dị. Tôi mắc nợ bác ấy nhiều lắm. Món nợ ân tình. Hai năm học lớp 8 và lớp 9 bác là người nấu cơm cho tôi ăn. Nhiều lúc ham chơi tôi làm bác phải đợi chờ và bực bội… Thắp nhang trước di ảnh của bác, tôi thầm nói lên hai từ tạ lỗi và cám ơn vì tất cả những ân tình bác đã dành cho đời tôi.

Bạn thân mến, những ngày nghỉ lễ 02.09 đã qua đi. Mỗi người cũng từ giã quê hương lên Sài Gòn học hành, sinh sống và làm việc. Thế nhưng mỗi Kitô hữu chúng ta đã dành cho Chúa được bao nhiêu thời gian trong mấy ngày nghỉ lễ? Đặc biệt, dịp lễ 02.09 năm nay trùng với ngày Chúa nhật. Nhiều lúc quên đọc kinh. Nhiều người ham vui bỏ cả Thánh lễ Chúa nhật. Khô khan và nguội lạnh. Thờ ơ và thiếu sót trong bổn phận làm con cái Chúa. Vậy, những điều này ảnh hưởng như thế nào đến đời sống tâm linh của chúng ta?

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Niềm vui mừng trong ngày sinh của Đức Trinh Nữ Maria phát xuất từ niềm mong đợi lâu đời của nhân loại tội lỗi. Chính Thiên Chúa đã trao ban cho nhân loại chúng ta niềm hy vọng này khi Chúa phán với con rắn cám dỗ: - “Ta sẽ đặt hận thù giữa ngươi và người đàn bà, giữa dòng dõi ngươi và giòng giống họ. Giòng giống họ sẽ đạp đầu ngươi, còn ngươi sẽ táp lại gót chân” (St 3,15).
Hãy làm chủ đồng tiền, đừng để nó làm chủ mình. Ta có thể lấy câu danh ngôn sau đây làm kim chỉ nam cho việc sử dụng đồng tiền: “Tiền bạc là phương tiện của những người thông minh, là mục đích của những kẻ ngu ngốc” (A. Đơcuốcxen).
Khép lại mùa Hè với những ngày thong dong sinh hoạt vui tươi, sống động, tưng bừng trong các Hội trại hầu chuẩn bị cho mình bao kỹ năng sống và làm việc; rồi những chuyến đi dã ngoại thực tế rong chơi đó đây trên mọi miền quê hương vừa thư giãn, vừa có dịp học hỏi kiến thức xung quanh, tìm hiểu cuộc sống hiện tại bạn bè đồng trang lứa.
Mẹ Têrêsa Calcutta, người phụ nữ nhỏ bé được cả thế giới biết đến vì công việc bác ái cho những người nghèo nhất trong những người nghèo, được phong chân phước ngày 19 tháng Mười, 2003. Trong những người hiện diện hôm đó là hàng trăm nam nữ tu sĩ dòng Bác Ái Truyền Giáo, mà người đã thành lập năm 1950 như một tu hội của giáo phận. Ngày nay tu hội ấy còn bao gồm các nam nữ tu sĩ chiêm niệm và các linh mục dòng.
...một người cha nghèo tên là Bạch Văn Út (34 tuổi), thường trú ở xã Long Tân, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Anh đã chịu đựng nỗi đau tột cùng bởi sự ra đi của người vợ sau 8 năm chung sống. Hơn thế nữa, anh còn phải hứng chịu một tai nạn ập xuống đời mình khi hai người con trai của anh là em Bạch Hữu Phước (12 tuổi) và Bạch Hữu Lộc (8 tuổi) đã vĩnh viễn ra đi do chết chìm trong một cái hồ khi đi bắt ốc.
Cây bật gốc là vì mất hết rễ, con người gian ác vì vô giáo dục. Đây là cái giá phải trả cho những quan niệm lệch lạc một thời về giáo dục, khi người ta chú trọng đến tuyên truyền “lập trường giai cấp” hơn là huấn luyện đạo đức con người. Phương châm giáo dục từ xa xưa “tiên học lễ hậu học văn” có thời đã bị quên lãng, nhường chỗ cho một thứ giáo dục bát nháo, thi đua bằng cấp, ồn ào về số lượng. Truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam “tôn sư trọng đạo” đã bị thay thế bằng bạo lực học đường, dẫn tới tình trạng học sinh đâm chém thầy cô giáo.
Cuộc sống không phải là một cái bẫy đặt ra để làm chúng ta thất bại. Có một cuốn sách mà tôi coi như một cuốn truyện cổ tích dành cho người lớn: “The Missing Piece” của Shel Silverstein. Nó kể câu chuyện về một chiếc vòng bị cắt đi một mảnh hình tam giác. Cái vòng muốn được trọn vẹn, không thiếu mẩu nhỏ nào nên lang thang tìm kiếm mảnh thất lạc. Nhưng bởi vì nó không hoàn hảo nên chỉ có thể lăn đi rất chậm. Nó chiêm ngưỡng những bông hoa trên đường. Nó tán gẫu với những con sâu. Nó tận hưởng ánh nắng mặt trời. Nó đã thấy rất nhiều những mảnh vỡ khác nhau, nhưng không có cái nào là vừa với nó.
Đêm nay đã là đêm thứ 40. Thời tiết giá lạnh của vùng rừng núi Tây Nguyên đã quật ngã cô ngay từ những ngày đầu tiên lên nhận công tác mới ở đây, cả một tuần sổ mũi nhức đầu khiến cô không còn thấy được vẻ đẹp của thiên nhiên nữa. Sau khi đã quen dần với cái lạnh, cô bắt đầu đối diện với nỗi cô đơn lạc lõng trong tâm hồn. Công việc của cô là dạy giáo lý và đi thăm khám cho những bệnh nhân nghèo, neo đơn, nằm liệt giường, nhưng cô không biết tiếng dân tộc nên phải nhờ các em thiếu nhi Thánh Thể thay phiên nhau làm phiên dịch.
Nhiều người cho rằng lòng đạo đức của các Kitô hữu ngày nay đang sa sút trầm trọng. Biểu hiện của sự sa sút này được viện dẫn từ thực trạng phổ biến tại những nơi có các sinh hoạt tôn giáo đang diễn ra. Một số đông giáo dân ngày càng tỏ ra bê trễ, thờ ơ, thậm chí bỏ hẳn không còn tham gia những sinh hoạt phụng tự truyền thống vốn nuôi dưỡng lòng đạo đức của bao thế hệ. Hơn thế nữa, thay vì gia tăng làm việc lành phúc đức là bổn phận căn bản của một Kitô hữu, nhiều giáo dân, mà đa số là những người trẻ lại rơi vào tình trạng “gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm” theo những cách thức mà họ cho là “đã đủ cho được lên thiên đàng”
“Giả như ngài rơi vào một hoàn cảnh chỉ có thể đem theo mình một vài cuốn sách, ngài sẽ đem những sách gì?” Khi được hỏi như thế, nhà thần học Joseph Ratzinger – nay là Đức Bênêđictô XVI – đã không ngần ngại trả lời: Kinh Thánh và cuốn Tự Thú (Confessio) của thánh Augustinô. Sẽ không lấy gì làm lạ khi biết rằng tâm hồn của Ratzinger đã gắn bó với thánh Augustinô từ rất lâu. Luận án tiến sĩ thần học của ngài năm 1950 mang tựa đề Dân Thiên Chúa và Nhà của Chúa trong giáo thuyết của Augustinô về Giáo Hội.
Bảo Trợ