Khối óc và Trái tim

26 Tháng Sáu 20122:00 CH(Xem: 6639)

Phụng vụ công giáo mừng kính chung trong ngày 29-6 hai vị thánh: Phêrô và Phaolô. Các ngài được sánh ví như hai yếu tố căn bản làm nên tòa nhà Giáo Hội: Phêrô là nền đá, Phaolô là trụ đồng. Nhờ nền đá mà móng nhà chắc chắn, nhờ trụ đồng mà tòa nhà vững vàng. Hơn hai ngàn năm trôi qua, biết bao sóng gió bão táp không thể làm chuyển lay căn nhà Giáo Hội. Suốt bề dày lịch sử, biết bao phong ba dồn dập không thể tiêu hủy công trình của Chúa Kitô.

blankViệc hai vị thánh được mừng kính chung gợi ý cho chúng ta suy tư về Thánh ý diệu kỳ của Thiên Chúa và về đức tin nơi các Kitô hữu.

Hai vị thánh xuất thân từ hai môi trường xã hội hoàn toàn khác nhau: Phêrô là một người dân chài, cương trực, đơn sơ, sớm hôm vui với con nước lên xuống, quen với cá tôm đi về. Phaolô là một học giả, kiến thức uyên thâm, đã có thời theo học những bậc thầy danh tiếng, nhiệt thành, hăng say tuân giữ truyền thống của cha ông (x. Gl 1,14).

Ơn gọi của hai vị thánh cũng khởi đầu từ hai bối cảnh hoàn toàn khác nhau: Phêrô được Chúa Giêsu gọi lúc đang vá lưới. Lời Chúa gọi mời có sức thuyết phục ông bỏ mọi sự, lập tức theo Chúa (x. Mc1 16-20). Phaolô đang hăng hái tìm bắt các Kitô hữu. Cú ngã ngựa và tiếng nói lạ đã làm thay đổi cuộc đời, từ đó ông trở thành môn đệ của Đức Giêsu (x.Cv 9,1-19).

“Hãy theo Thày!”, tiếng gọi đơn sơ mà có sức mạnh thuyết phục lạ lùng, khiến chàng trai dân chài, suốt đời gắn bó với sông nước, dứt khoát bỏ nghề để theo Chúa.

“Tại sao ngươi bắt bớ ta?” lời chất vấn mạnh mẽ làm mềm lòng một binh sĩ đang hầm hầm say máu, giúp ông quyết tâm gác kiếm để hoàn lương.

Với trái tim sẵn sàng rộng mở của Phêrô, Đức Giêsu đã đặt ông làm đá tảng cho ngôi nhà Giáo Hội.

Với khối óc uyên thâm và sẵn sàng phục thiện của Phaolô, Đức Giêsu đã chọn ông làm cột trụ nâng đỡ ngôi nhà của Người.

Nhờ tình yêu mà Giáo Hội trường tồn giữa bao sóng cả trần gian. Nhờ những suy tư giáo lý mà Giáo Hội vững chắc qua bao phong ba cuộc đời.

Hai con người, hai cuộc đời, hai vị thánh, cùng chung một lý tưởng, đó là phụng sự Đức Giêsu, sẵn sàng hy sinh mạng sống vì Danh Người. Cả hai đã làm chứng cho Chúa bằng việc hy sinh mạng sống và đạt được vinh phúc tử đạo.

Cả hai con người đều được Chúa kêu gọi, mỗi người một cách khác nhau. Cả hai đều giã từ quá khứ, khởi đầu một cuộc lên đường mới, mặc dù chưa biết rõ tương lai ra sao, nhưng một niềm xác tín. Họ đã thành công.

Sau này, Phaolô không ngần ngại nói về quá khứ của mình: “Trước kia, tôi là kẻ nói lộng ngôn, bắt đạo và ngạo ngược, nhưng tôi đã được Người thương xót, vì tôi hành động một cách vô ý thức, trong lúc chưa có lòng tin” (1 Tm 1,13).

Phêrô đã được Chúa cảm hóa. Từ một con người cương trực nóng nảy đến mức sẵn sàng rút gươm chém đứt tai viên đầy tớ vị Thượng tế (x. Ga 18,10), ông đã trở thành một môn đệ khiêm tốn, chỉ còn thốt lên lời cam kết yêu thương: “Thưa Thày, Thày biết rõ mọi sự, Thày biết con yêu mến Thày!” (Ga 21,17).

Phaolô đã được Chúa chinh phục. Từ một người say máu và ham giết chóc, trở thành vị tông đồ dân ngoại, quy hướng niềm đam mê của nình về Đấng chịu đóng đinh như lý tưởng duy nhất của đời mình: “Trong khi người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do Thái hay Hy Lạp, Đấng ấy chính là Đức Kitô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (1 Cr 1,22-24).

Nếu Đức Giêsu chỉ gọi Phêrô: Giáo Hội của Chúa sẽ chỉ bao gồm những người dân chài, những nông dân ít học hoặc những người sống bên lề xã hội.

Nếu Đức Giêsu chỉ gọi Phaolô: Cộng đoàn đức tin sẽ chỉ còn những người trí thức, giỏi giang, uyên bác với những triết lý cao vời.

Thánh ý của Chúa thật kỳ diệu. Ngài gọi Phêrô và Phaolô, để làm nên tính đa dạng của Dân Chúa. Giáo Hội của Chúa bao gồm những cụ ông cụ bà, suốt đời vất vả, chẳng một lần được học giáo lý, vậy mà vẫn vững vàng tuyên xưng: “Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất…”. Giáo Hội của Chúa cũng gồm những nhà khoa học, những phi hành gia, những kỹ sư, bác sĩ và những người có bằng cấp học vị cao, nhưng vẫn chưa hoàn toàn thỏa mãn và tiếp tục kiếm tìm Chân lý. Họ ngỡ ngàng trước uy quyền của Thiên Chúa và thốt lên: “Lạy Đức Chúa là Chúa chúng con, lẫy lừng thay danh Chúa trên khắp cả địa cầu” (Tv 8,2).

Phêrô cảm nhận Thiên Chúa bằng trái tim; Phaolô cảm nhận Thiên Chúa bằng khối óc. Trái tim của Phêrô luôn rộng mở, tuy có lúc chao đảo yếu đuối, nhưng thành tâm sám hối. Phaolô đầy nhiệt thành, với kiến thức thâm sâu, đã có thời đi lạc đường, nhưng nhanh chóng phục thiện.

Nếu chỉ cảm nhận Thiên Chúa bằng trái tim, đức tin có nguy cơ trở thành một thứ tình cảm ủy mị và dễ lầm lạc. Nếu chỉ cảm nhận Chúa bằng khối óc, đức tin có nguy cơ trở thành một mớ lý thuyết trống rỗng, vô hồn.

Qua cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu trên đường đi Đamát, đức tin thuần túy trí tuệ của Phaolô được bổ sung bằng tình yêu mến: “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo? Như có lời chép: Chính vì Ngài mà mỗi ngày chúng con bị giết, bị coi như bầy cừu để sát sinh. Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta” (Rm 8,35-37).

Qua những năm tháng thụ giáo nơi vị Ngôn sứ thành Nagiarét, đức tin mang tính tình cảm của Phêrô được tiếp sức bằng giáo huấn về Nước Trời. Ông được tăng thêm sức mạnh: “Nếu bị sỉ nhục vì danh Đức Kitô, anh em thật có phúc, bởi lẽ Thần Khí vinh hiển và uy quyền, là Thần Khí của Thiên Chúa, ngự trên anh em. Đừng có ai trong anh em phải chịu khổ vì tội giết người, trộm cắp, làm điều gian ác hoặc dây mình vào việc người khác; mà nếu có ai phải chịu khổ vì danh hiệu Kitô hữu, thì đừng xấu hổ, nhưng hãy tôn vinh Thiên Chúa vì được mang danh hiệu đó” (1 Pr 4,14-16)

Cuộc đời và sứ mạng của hai vị thánh cho chúng ta thấy, người Kitô đích thực là người đón nhận Chúa bằng trái tim và trí tuệ. Đó cũng là lý do tại sao mỗi tín hữu cần phải học giáo lý và chuyên cần cầu nguyện. Học giáo lý để hiểu biết Chúa. Cầu nguyện để mỗi ngày tiến sâu hơn vào huyền nhiệm tình thương của Ngài.

Qua cuộc đời của hai vị thánh, không ai trong chúng ta còn mặc cảm cho rằng mình không thể sống đức tin. Bởi lẽ ai cũng có thể đóng góp phần mình để xây dựng Giáo Hội. Những người nông dân, sớm hôm lặn lội ngoài đồng; những người trí thức, thi sĩ, nghệ sĩ, văn sĩ say sưa với những tác phẩm nghệ thuật; những người bệnh tật luôn chịu đựng những đau đớn thể xác cũng như tinh thần… tất cả mọi người đều được mời gọi thánh hóa bản thân, lắng nghe và thực thi Lời Chúa, là Lời đem lại cho họ niềm vui, bình an và hạnh phúc.

Xin Thánh Phêrô và Thánh Phaolô cầu bầu cho mỗi người chúng ta.

 

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Nguồn: WHĐ

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
hiên Chúa muốn chúng ta kết hợp mật thiết với Chúa Kitô giống như Mẹ Maria. Sứ mệnh của người tín hữu là mang Chúa Kitô đến với mỗi người chúng ta giao tiếp hàng ngày. Giống như Mẹ Maria, chúng ta hãy trở nên những máng nhỏ ơn phúc. Việc trọng đại này chỉ có thể thành tựu khi ta kiên trì trong sự vâng phục những điều Chúa dạy, khi ta ráng sức trông cậy vào Chúa Thánh Thần.
Chẳng bao lâu sau tiếng hát của các thiên thần trong đêm Chúa Giáng sinh, là tiếng khóc than của những bà mẹ mất con trong cuộc sát hại của Hêrôđê ở Bêlem. Chẳng lẽ việc Chúa ra đời lại là nguyên nhân gây ra cái chết của trẻ thơ vô tội? Các sử gia đã chứng thực rằng Hêrôđê không từ một thủ đoạn nào để tiêu diệt bất cứ ai có thể đe doạ đến ngai vàng của ông, dù đó là con cái ông sinh ra.
Bằng câu truyện dâng trẻ Giêsu vào Đền Thờ, tác giả Lc cho thấy Đức Chúa đã trở lại theo các lời sấm Cựu Ước mà chiếm lấy Đền Thờ của Người. Bằng câu truyện hôm nay, tác giả cho thấy Người “ngự trị” trong Đền Thờ. Tuy nhiên các ý nghĩa này chìm dưới những truyện rất tầm thường trong đời thường.
Có bao nhiêu người cha Công Giáo đóng trọn vai trò trong gia đình như thánh Giuse đã từng làm đối với Chúa Giêsu? Có bao nhiêu người cha Công Giáo chủ toạ các buổi cầu nguyện trong gia đình? Có bao nhiêu người cha chúc lành cho con cái trước khi chúng đi ngủ? Có biết bao người cha hy sinh cho gia đình, cho con cái, nhưng họ chỉ là những bóng mờ trong gia đình.
Vẻ đẹp của Trình Thuật Tin Mừng này làm rung động con tim chúng ta hết lần này đến lần khác: đó là vẻ đẹp huy hoàng của sự thật. Trình Thuật này làm chúng ta kinh ngạc nhiều lần rằng Thiên Chúa đã nên như một trẻ thơ để chúng ta có thể yêu mến Người, để chúng ta dám yêu mến Người, và cho ta được ẵm Người như một trẻ thơ đầy tin tưởng trong vòng tay chúng ta. Như thể Thiên Chúa nói với chúng ta rằng:
“Đêm thánh vô cùng, giây phút tưng bừng, đất với trời, xe chữ đồng. Đêm nay Chúa Con thần thánh tôn thờ, canh khuya giáng sinh trong chốn hang lừa…” (Nhạc: Franz Xaver Gruber, lời Việt: Hùng Lân) là lời ca quen thuộc với rất nhiều người mỗi khi Giáng Sinh về. Đêm Con Chúa giáng trần, mặc xác phàm và ở với nhân loại. Còn niềm vui nào hơn? Niềm vui khôn tả khi nggười dưới được người trên đến thăm; thần dân vô cùng hạnh phúc khi được nhà Vua ghé vào “tệ xá” của mình; dân tình khốn khổ vì thấp cổ bé miệng sẽ trở nên sung sướng khi được tổng thống lưu ý;… Thế thì không vui sướng tột cùng sao được khi Thiên Chúa đến với chúng ta?
Trong sách Tin Mừng Lu-ca, chuyện tích Viếng Thăm tiếp liền sau chuyện tích Truyền Tin, lời chào sứ thần tiếp liền theo sau lời chào bà Ê-li-sa-bét. Chúng ta gặp thấy chúng trong những bản văn thuộc thế kỷ thứ năm: “Kính mầng Ma-ri-a đầy ơn phúc. Thiên Chúa ở cùng bà. Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ”. Đây sẽ là khởi điểm của Kinh Kính Mầng.
Thánh Thần là tình yêu. Đến đâu là đốt lên lửa bác ái ở đấy, Ngài đã rợp bóng trên Đức Maria và lập tức Đức Maria được tràn đầy lòng bác ái, đã nghĩ đến bà chị họ. Đức Maria không nghĩ phải nghỉ ngơi tĩnh dưỡng và chuẩn bị cho bản thân trong thời kỳ sinh nở sắp tới, nhưng đã nghĩ phải ra đi giúp bà chị họ neo đơn, yếu mệt. Đây là một lòng bác ái mạnh mẽ, nên Đức Maria vội vã lên đường ngay,
Những việc cụ thể đó không phải tìm những nơi xa xôi mới thực hiện được. Mỗi người hãy thực hiện công bình bác ái trong đời sống thường ngày của mình, với những người sống chung quanh mình. Thánh nhân không kêu gọi người ta phải ra khỏi môi trường cũ.
Với Phúc Âm Chúa Nhật thứ hai Mùa Vọng, thánh Luca bắt đầu bản văn của mình về đời hoạt động công khai của Chúa Giêsu. Trong hai chương trước, Luca tường thuật về thời thơ ấu của Chúa Giêsu. Có thể nói Tin Mừng Luca bắt đầu lại tất cả với chương thứ ba nầy
Bảo Trợ