Sống Đạo trong Hôn nhân - Gia đình của người Công giáo Vinh Trung hiện nay

13 Tháng Ba 20132:00 CH(Xem: 3932)

SỐNG ĐẠO TRONG HÔN NHÂN – GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO VINH TRUNG HIỆN NAY

 gxvtrg-content

Kim Liên[1]

Hôn nhân đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống của các tín đồ Công giáo khi hôn nhân được xem như là một trong Bảy Bí tích[2] liên quan đến những thời điểm quan trọng trong đời sống người Công giáo nhưng không phải bắt buộc tất cả mọi người Công giáo phải kết hôn. Kinh Thánh Cựu Ước cũng đã đề cập đến vấn đề hôn nhân ngay từ thuở ban sơ khi cho rằng:“Từ ban đầu Tạo Hóa đã dựng nên con người có nam có nữ và Ngài đã phán:“vì thế, người nam sẽ bỏ cha mẹ mà kết hợp với vợ mình, và cả hai sẽ nên một huyết nhục”” (Mt 19,4-5).

Tình yêu giữa hai vợ chồng Công giáo có ý nghĩa rất phong phú và sâu sắc, vì bắt nguồn từ tình yêu Thiên Chúa và rập theo khuôn mẫu tình yêu giữa Đức Kitô và Hội thánh. Chính vậy nên, đặc tính hôn nhân Công giáo là đơn hôn và vĩnh hôn, tức là một vợ một chồng “Phải nhìn nhận sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong tình tương thân tương ái trọn vẹn, để nhờ đó biểu hiện rõ ràng tính đơn nhất của hôn nhân đã được Đức Kitô xác nhận. Đa thê là đi ngược với tình yêu vợ chồng, cũng như với sự bình đẳng giữa hai vợ chồng”[3] và bất khả phân ly tức là không thể ly dị “Sự gì Thiên Chúa đã liên kết, loài người không được phân ly” (Mt 19,6). Để Bí tích Hôn nhân được chính thức thừa nhận thì Hội thánh cũng có những quy định rằng: phải là một người nam và một người nữ đã được rửa tội - tức đã trở thành người Công giáo, hai người phải tự do để kết hôn, phải bày tỏ sự ưng thuận kết hôn của mình và cử hành theo thể thức của Hội thánh.

Người Việt Nam luôn coi trọng gia đình “gia đình là tế bào xã hội”, Giáo hội Công giáo cũng rất đề cao vai trò của gia đình. Gia đình Công giáo cũng như mọi gia đình, là nơi các thành viên dựa trên quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống, nhưng gia đình Công giáo còn có đặc điểm riêng là các thành viên trong gia đình đều chịu phép Rửa Tội.

 Chính vì những đặc điểm hôn nhân Công giáo đã nêu ở trên nên quan niệm của người Công giáo về hôn nhân cũng có những nét đặc trưng mang đậm màu sắc và tình cảm tôn giáo khi người Công giáo vẫn còn lưu giữ truyền thống kết hôn với người đồng đạo.

Đối với người Công giáo, nền tảng của một cuộc hôn nhân bắt đầu từ vấn đề đôi nam nữ tự do đến với nhau (88.3%) và do ý muốn của Chúa (56.7%). Trong đó, có 54.1% nam và 45.9% nữ quan niệm hôn nhân là do đôi nam nữ tự do đến với nhau; 49% nam và 51% nữ cho rằng hôn nhân còn là do ý muốn của Chúa. Như vậy, hôn nhân Công giáo được các tín đồ nhận định là xuất phát từ hai yếu tố: bản thân đôi nam nữ tự do tìm hiểu nhau và ý muốn của Chúa se kết duyên cho họ. Chính điều này làm cho hôn nhân của người Công giáo thêm phần trách nhiệm khi đôi nam nữ ý thức được rằng họ thành vợ thành chồng với nhau bên cạnh việc do bản thân họ còn là sự tác hợp của Thiên Chúa. Chính vì thế, trong thư chung 2002 của Hội đồng giám mục Việt Nam đã nêu rõ rằng:“Bí tích hôn phối là hình ảnh của Thiên Chúa đối với nhân loại nói chung, và Hội Thánh nói riêng. Như Đức Kitô đã yêu thương Hội Thánh thế nào thì trong hôn nhân, người ta cũng được mời gọi để hiến thân, hi sinh, quên mình, phục vụ nhau như thế”[4].

Dựa trên nền tảng hôn nhân là do Thiên Chúa tác hợp và do chính đôi nam nữ tự do đến với nhau, tiêu chí lựa chọn bạn đời của người Công giáo cũng có những nét đặc trưng hơn so với những người ngoài Công giáo. Bên cạnh các yếu tố cần thiết về phẩm chất của người bạn đời thì việc lựa chọn bạn đời “đồng đạo” là yếu tố được quan tâm nhất vì người Công giáo có truyền thống kết hôn với người trong đạo nhằm để bảo đảm đặc tính chung thủy, một vợ một chồng mà tôn giáo này đòi buộc, như ý kiến của linh mục chánh xứ Vinh Trung:

“Đặc trưng của hôn nhân Công giáo là một vợ một chồng, bất khả phân li. Đó là cái lợi thế tại vì khi một vợ một chồng bất khả phân li thì hôn nhân của họ bền vững hơn và rồi khi xác định rõ như vậy thì các bạn trẻ họ thận trọng hơn trong việc lựa chọn bạn đời”.

(Linh mục chánh xứ giáo xứ Vinh Trung, trích BBPVS số 4)

Kết quả khảo sát cho thấy trong 18 tiêu chí lựa chọn bạn đời được liệt kê trong bản khảo sát, có những yếu tố sau được các tín đồ Công giáo chọn lựa nhiều là: Trong 18 tiêu chuẩn được liệt kê ở trên, có 7/18 tiêu chuẩn được chọn ở mức độ “rất quan trọng” và “quan trọng” cao nhất, bao gồm: chung thủy (86.1%), đời sống đạo tốt (83.3%) cùng đạo Công giáo (80%), khỏe mạnh (62.8%), đối xử tốt với họ hàng (61.7%), cần cù – chăm chỉ (58.8%) và có ý chí (41.6%). Song song với những tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời được nhiều người Công giáo lựa chọn, chúng tôi đã đề nghị những người trả lời lựa chọn ra 3 tiêu chuẩn mà theo họ là quan trọng nhất trong việc lựa chọn bạn đời nhằm tìm hiểu nét đặc trưng của người Công giáo trong việc lựa chọn bạn đời. Kết quả cho thấy: trong ưu tiên 1 về việc lựa chọn bạn đời có 51.1% cho biết họ sẽ chọn người cùng đạo Công giáo, ở ưu tiên 2 có 28.3% người cho rằng họ sẽ lựa chọn người có đời sống đạo tốt và ở ưu tiên 3 có 29.4% người cho biết họ sẽ lựa chọn người có phẩm chất chung thủy trong tình yêu. Điều đó chứng tỏ, lựa chọn bạn đời là người cùng đạo Công giáo là tiêu chí quan trọng nhất đối với các tín đồ trong cộng đồng với tỉ lệ cao nhất (51.1%). Các thông tin phỏng vấn sâu cũng cho thấy kết quả tương tự như sau:

“Phải hợp nhau về tính cách, trong cái tư duy, rồi trong cách ăn ở với nhau, rồi cách sống đạo với nhau, chứ còn một người khô đạo, người đạo đức thì nó cũng hơi chênh lệch, rồi một người hay làm việc thiện một người không thích làm việc thiện đâm ra cũng cãi cọ nhau nên trước khi mình kết hôn là mình phải chọn bạn đời mình thế nào, ra sao. Là Công giáo mình phải đạo đức đó, sống đạo, mình sống đạo mà siêng năng thì sau này con cái của mình mới siêng năng được, mình hay làm việc thiện thì con cái sau này nó thấy vây thì nó cũng là một mầm mống nào đó”.

(Nam, 44 tuổi, trích BBPVS số 1)

Một nữ tín đồ mới vào đạo Công giáo từ năm 2002 cũng có những nhận định tích cực về đặc tính hôn nhân Công giáo:

“Nói chung là bên người nam (ý nói người không có đạo Công giáo) dì ghê lắm, sợ lắm, một người con gái cỡ 20 tuổi là ba đời chồng rồi, thấy người khác đẹp hơn, ngon hơn là bỏ chồng liền, mà nói thiệt là nó không có đạo mà nó đi lấy thằng khác nó không có sợ tội lỗi gì hết, cũng không có ai quậy gì hết, nó bỏ thằng đó rồi thằng đó nó lấy con khác nó không có thèm, nó không có quậy gì hết, dì thấy cái sự đó không có hay, thà vô đạo cho nó chính xác, đã lấy rồi thì ở suốt đời luôn, chứ mà bỏ vậy là không được, con gái dì lấy chồng mà chồng nó là người nam (người không theo Đạo Công giáo) là dì sợ lắm, rất sợ, kêu nó vô đạo mà nó chấp nhận vô đạo thì nó có dấu ấn Chúa là nó dứt khoát sống một đời luôn, đứng trước mặt Chúa là hứa sống suốt cuộc đời với nhau luôn”.

 (Nữ, 54 tuổi, trích BBPVS số 2)

Như vậy, dù dưới hình thức nào, đối với người Công giáo việc lựa chọn bạn đời luôn cần đáp ứng đủ ba tiêu chí quan trọng nhất là: cùng đạo Công giáo, đời sống đạo tốt và chung thủy. Đạo vẫn là yếu tố quan trọng nhất nằm trong tiêu chí lựa chọn bạn đời của người Công giáo khi họ vẫn rất đề cao việc kết hôn với người cùng đạo, sau đó là quan tâm đến đời sống đạo, đời sống đạo tốt chắc chắn yếu tố chung thủy trong tình yêu vợ chồng sẽ đạt được. Nói như vậy không có nghĩa rằng người Công giáo ngày nay luôn đặt nặng vấn đề kết hôn với người “đồng đạo”, họ vẫn có thể chấp nhận kết hôn với người khác đạo. Hôn nhân khác tôn giáo là hôn nhân giữa một bên là người Công giáo và một bên không phải là Công giáo. Có hai trường hợp: một là, những người trước đây không theo đạo Công giáo nhưng khi kết hôn với một người Công giáo họ đồng ý tự nguyện theo đạo Công giáo thì gọi là “hôn nhân hỗn hợp”; hai là, những người kết hôn với người Công giáo nhưng bản thân họ chưa theo đạo thì gọi là “hôn nhân khác đạo”. Đối với hai loại hình hôn nhân này, giáo hội Công giáo đặc biệt quan tâm vì những bất đồng quan điểm về niềm tin và hôn nhân có thể dẫn đến những căng thẳng trong gia đình, nhất là việc giáo dục con cái “Do khác biệt quan điểm một cách sâu xa như thế, những cuộc hôn nhân khác tôn giáo thường gặp nhiều trở ngại, khó đạt được hạnh phúc và nếu tan vỡ thì phía người Công giáo sẽ bị thiệt thòi nhiều hơn vì họ không thể lập gia đình lại, bao lâu người kia còn sống”[5]. Bản thân các tín đồ khi đứng trước cuộc hôn nhân “hỗn hợp” hay hôn nhân “khác đạo” cũng có những băn khoăn:

“Khi quyết định lấy anh là người đạo theo thì chị cũng có nhiều băn khoăn. Chị sợ người chồng mình không thật lòng với đạo, sợ bỏ đạo, mình sẽ phạm lỗi đạo… Trong cuộc sống gia đình chị luôn chủ động xây dựng đời sống đạo, bằng cách nhắc nhở và chủ động trong việc đạo. Khuyên bảo, giải thích vào ngày lễ lớn để anh hiểu và biết rõ hơn”.

 (Nữ, 36 tuổi, trích BBPVS 35 tuổi)

Điều này cũng là căn nguyên lý giải tại sao người Công giáo có xu hướng muốn kết hôn với người cùng “đạo gốc” hơn là kết hôn với người “đạo theo” (mới theo đạo).

Về quan điểm này, Giáo hội Công giáo cũng đã có những “hướng mở” đối với hôn nhân “hỗn hợp” và hôn nhân “khác đạo” khi chấp nhận cho các cuộc hôn nhân này diễn ra với điều kiện “Hôn nhân hỗn hợp chỉ hợp pháp khi có phép minh nhiên của giáo quyền. Còn trường hợp khác đạo, thì phải có phép chuẩn minh nhiên, riêng bên Công giáo cam kết phải thi hành những đòi buộc, là giữ đức tin của mình và bảo đảm cho con được rửa tội và giáo dục trong Hội thánh Công giáo và phải thông báo cho bên không Công giáo biết rõ những điều ấy”[6]. Đại diện cho giáo quyền, linh mục chánh xứ Vinh Trung nhận định về vấn đề kết hôn với người khác tôn giáo như sau:

“Quan niệm của Giáo hội thì vẫn để cho người ta tự do theo đạo hay không theo đạo nhưng mà về phía Giáo hội thì cố gắng chứng minh rằng theo đạo Thiên Chúa thì sẽ đem lại hạnh phúc tuyệt đối hơn, hạnh phúc đích thực hơn cho nên muốn giúp cho người khác Công giáo, giúp họ nhận ra đạo Thiên Chúa sẽ đem đến cho họ hạnh phúc trọn vẹn hơn, để họ tự do lựa chọn theo đạo… mình có khuyên trước mà họ chưa nhận thấy cái điều tốt hơn của đạo Công giáo thì để cho họ hôn nhân đạo ai người đó giữ, hôn nhân khác đạo. Trước kia thì cũng có nhưng mà nó ít hơn, ngày hôm nay thì cái xu hướng nó nhiều hơn”.

(Linh mục chánh xứ giáo xứ Vinh Trung, trích BBPVS số 4)

Xuất phát từ sự chấp thuận của Giáo hội Công giáo đối với hôn nhân khác tôn giáo nên đối với các cuộc hôn nhân “hỗn hợp” phần lớn đều được các tín đồ đồng ý (91.1%):“Giơ hai tay lên ủng hộ tại vì đã có thêm người theo đạo để tăng thêm gia đình của Chúa sau này mình phải càng hoan hô họ nhiều hơn chứ” (Nữ, 27 tuổi, trích BBPVS số 3)

Nhưng đối với hôn nhân “khác đạo” dù rằng đã được sự chấp thuận của Hội thánh Công giáo nhưng các tín đồ vẫn rất dè dặt trong việc chấp thuận các cuộc hôn nhân theo kiểu thức này, khi tỉ lệ không chấp nhận hôn nhân khác đạo chiếm 76.7% trong khi đó chỉ có 11.1% cho rằng hình thức các cuộc hôn nhân này là “bình thường” và 12.3% “có thể chấp nhận”. Bởi vì người Công giáo luôn tồn tại những lo ngại:

 “Một khi hướng tới hôn nhân thì mình có con, trong cuộc sống gia đình mình thì nếu như người đó không theo đạo, người ta sẽ bắt mình thờ cúng này kia vì mình là người phụ nữ, lấy chồng xong rồi thì phải theo chồng, người chồng mà không theo đạo thì người vợ sau này chị nghĩ là sẽ bỏ đạo mặc dù là mình không muốn nhưng mà người chồng mình không theo đạo thì nó cũng không cho mình đi lễ, không cho con mình theo đạo nên cũng khó chấp nhận việc đó, ở đây nhiều người cũng gặp trường hợp vậy đó cho nên sau này có con thì chồng cũng không cho theo đạo vợ dần dần cũng bỏ lễ không cho vợ đi lễ không cho vợ theo đạo”.

(Nữ, 27 tuổi, trích BBPVS số 3)

Hoặc như tâm sự của một người mẹ (mới theo đạo Công giáo được 10 năm) hiện có con gái chuẩn bị kết hôn với người khác tôn giáo:

“Dì mới nói với nó (bạn trai của con gái) là dì sợ con học đạo không được, học không được là không được đâu, con không vô đạo là con không lấy vợ được đâu, con vô đạo được thì bác mới gả con bác chớ con không vô đạo thì bác không có gả đâu. Nếu nó không theo đạo, chẳng lẽ mình lại bỏ đạo, mình bỏ đạo mình đi thì không được, nếu nó theo đạo thì chấp nhận”.

(Nữ, 54 tuổi, trích BBPVS số 2)

Cũng vậy, nhận định của một người nam mới theo đạo Công giáo khi kết hôn với vợ là người Công giáo về vấn đề cùng tôn giáo trong một gia đình như sau:

“Trong gia đình nên có cùng một tôn giáo thì tốt hơn, sau này mới dễ dàng để giáo dục con cái, chứ trong gia đình cha một đạo, mẹ một đạo, sau này con cái không biết phải theo ai. Rồi vô đạo, mình cũng cảm nhận được nhiều cái, chẳng hạn như phải sống chung thủy, nếu ngoại tình hay là li dị thì sẽ bị mắc tội. Đó cũng là cái tốt, để mình duy trì được hạnh phúc gia đình”.

(Nam, 40 tuổi, trích BBPVS số 8)

Những lo ngại của các tín đồ, đặc biệt là người nữ Công giáo với vấn đề hôn nhân “hỗn hợp” hoặc hôn nhân “khác đạo” cũng là nhận định trùng khớp với kết quả nghiên cứu của dự án Gia đình nông thôn Việt Nam trong chuyển đổi do Viện Xã hội học, Việt Nam và Trường đại học Linkoping, Thụy Điển đồng điều phối, SIDA/SAREC tài trợ được Nguyễn Văn Minh (2008) đề cập đến như sau: “Nếu như đa số phụ nữ không tôn giáo hay khác tôn giáo, sau khi kết hôn với người chồng theo Công giáo thường cải đạo và trở thành những tín đồ thực thụ. Thì một số nam giới khác hay không tôn giáo, cũng chấp nhận cải đạo theo Công giáo để có thể kết hôn với người mình yêu theo giáo luật, nhưng sau khi cưới một thời gian thì nhạt đạo dần và bỏ hẳn… Theo đạo Công giáo phải đến nhà thờ thực hiện đầy đủ các nghi thức tôn giáo theo đúng thời gian quy định, nhưng nếu lấy chồng khác tôn giáo hay không tôn giáo thì việc thực hiện các nghi lễ này rất khó, nhất là người phụ nữ thường phụ thuộc nên có tâm lý lo ngại gia đình nhà chồng sẽ cho rằng, mình lợi dụng việc đi lễ nhà thờ để trốn tránh việc nhà. Vì vậy, khá nhiều phụ nữ Công giáo không muốn lấy chồng khác tôn giáo. Một số khác sau khi lấy chồng không tôn giáo hay Phật giáo đã bỏ sinh hoạt một thời gian, sau khi cuộc sống tương đối ổn định và con cái đã lớn, họ mới trở lại sinh hoạt đạo. Lúc này người chồng cũng thường không có ý ngăn cản như trước nữa”[7].

Hội thánh Công giáo cũng không đồng tình với việc trực tiếp hay gián tiếp cổ vũ cho hình thức hôn nhân không hợp với giáo luật khi tham dự đám cưới của những cặp vợ chồng khác tôn giáo mà chưa được Giáo hội đồng ý:

Bất hợp pháp là họ chưa có phép đạo, chưa làm phép chuẩn, nếu người ta đã làm phép chuẩn rồi thì dự đám cưới không sao cả tại vì Bề Trên đã chuẩn rồi đạo ai người đó giữ không ai ngăn cản cả nhưng mà đối với hôn nhân mà chưa có phép đạo là hôn nhân không có đúng luật, mình đến dự hôn lễ là xem như mình vỗ tay chúc mừng họ. Làm điều sai mà mình lại chúc mừng họ cho nên không thể, làm điều tốt mình vỗ tay chúc mừng thì không sao, nếu mà mình biết rõ là điều sai họ đang đánh nhau mà mình đến vỗ tay chúc mừng là mình gián tiếp cổ võ họ”.

(Linh mục chánh xứ giáo xứ Vinh Trung, trích BBPVS số 4)

Như vậy, có thể thấy được rằng, đối với hình thức hôn nhân hỗn hợp được các tín đồ chấp thuận cao hơn vì hình thức hôn nhân này hướng đến hôn nhân “đồng đạo” có cùng một niềm tin tôn giáo trong đời sống gia đình. Trong khi đó, hôn nhân khác đạo dù được Giáo hội Công giáo chấp nhận nhưng bản thân các tín đồ chưa thể “cởi mở” vì họ e ngại sự khác biệt niềm tin tôn giáo giữa vợ và chồng là nguyên nhân dẫn đến những bất hòa trong gia đình và đưa đến sự tan vỡ hạnh phúc. Nếu xảy ra sự ly tán trong gia đình hôn nhân khác đạo, các tín đồ cho rằng người vợ hoặc chồng theo đạo Công giáo sẽ thiệt thòi, vì họ không thể kết hôn thêm một lần nữa cho đến khi nào người chồng hoặc vợ mất. Sự không chấp nhận hình thức hôn nhân này nhằm mục đích hạn chế đến mức có thể tình trạng ngoại tình, ly dị mà giáo lý của Giáo hội Công giáo cật lực phản đối vì điều này vi phạm đặc tính một vợ một chồng và bất khả phân ly của Bí tích hôn nhân Công giáo đồng thời vi phạm Điều răn thứ 6 (Chớ ngoại tình) “Ngoại tình là một sự bất công. Người phạm tội đó bỏ không thực hiện những cam kết của mình. Người đó làm tổn thương dấu chỉ của giao ước là dây liên kết hôn nhân, vi phạm quyền của người phối ngẫu kia và xâm phạm thể chế hôn nhân khi vi phạm hôn ước, là nền tảng của thể chế đó. Người đó là phương hại đến điều thiện hảo của việc sinh sản và của con cái, vốn cần đến sự kết hợp bền vững của cha mẹ”[8]. Thật vậy, số liệu khảo sát cho thấy 97.8% tín đồ không chấp nhận hành vi ngoại tình trong cuộc sống hôn nhân Công giáo và 97.2% không thể chấp nhận việc ly hôn ở người Công giáo. Dù vậy, Hội thánh Công giáo trong một số trường hợp nhất định (do ngoại tình, do gây nguy hiểm trầm trọng về tinh thần hay thể xác cho bên kia hoặc cho con cái, hay bằng cách nào khác làm cho đời sống chung trở nên không chịu đựng nổi) được ly thân và không sống chung nữa nhưng họ vẫn là vợ chồng của nhau trước mặt Thiên Chúa và họ không được tự do để kết hôn với người bao lâu người chồng/vợ của mình còn sống, nếu họ vẫn tiếp tục kết hôn với người khác thì họ không được rước lễ và đảm nhận một số trách nhiệm trong Hội thánh:

“Trên nguyên tắc thì không cho li dị, nhưng mà tự họ li dị thì phải chịu thôi, khi mà họ kí đơn li dị thì họ không có hiệp thông với ân sủng của Chúa nữa, tự họ tách họ ra thôi, thay vì họ sống có một gia đình hạnh phúc, họ được xưng tội rước lễ còn khi họ cố tình kí cái đơn li dị là tự họ tách ra khỏi trong vòng yêu thương của Hội Thánh cho nên họ không được quyền rước lễ”.

 (Linh mục chánh xứ giáo xứ Vinh Trung, trích BBPVS số 4)

 Tóm lại, yếu tố “đồng đạo” luôn là tiêu chí quan tâm hàng đầu của người Công giáo khi lựa chọn bạn đời.

Bên cạnh đó, cũng không thể không nhắc đến độ tuổi kết hôn, độ tuổi kết hôn phù hợp theo người Công giáo đối với nam là từ 25 tuổi đến 34 tuổi (98.9%), đối với nữ là từ 18 tuổi đến 24 tuổi (91.7%). Theo đó, xu hướng độ tuổi kết hôn của nam sẽ muộn hơn so với độ tuổi kết hôn của nữ, bởi vì:

“Theo anh hiện bây giờ khoảng 25 tuổi trở lên, tại vì xã hội bây giờ con nít nó còn nhỏ nhỏ nhiều lắm, nó không có hiểu biết được cái vấn đề về đạo ấy đâu. Trong cái thời gian bồng bột nó bây giờ khoảng 20, 18, 19 thì đã lấy nhau rồi, lấy vợ lấy chồng chẳng qua là do ma lực nào đó thôi chứ nó suy nghĩ chưa chín chắn được, không thể nào nó hiểu chín chắn được cội nguồn của gia đình đâu cho nên nam phải từ 25 tuổi, nữ phải từ 20 tuổi, quan trọng nhất vẫn là người đàn ông, mình là người đàn ông cầm lái mà có gia đình rồi mình phải cầm lái, đèo lái phải làm sao để cho gia đình phải làm sao đến nơi thật là tốt đẹp”.

 (Nam, 44 tuổi, trích BBPVS số 1)

Hay:“Nam 25 tuổi lập gia đình là ổn rồi vì mình trải cuộc sống bên ngoài, mình có kinh nghiệm để sau lấy vợ thì mình biết lo cho gia đình này kia được, còn mà dưới tuổi đó thì lập gia đình chưa vững được, phải dựa dẫm vô gia đình nội ngoại này kia, một phần không có nghề đã đành, phần mình chưa có kinh nghiệm sống, tại vì cuộc sống gia đình vợ con phải hàng ngày phải công ăn việc làm rồi lo toan trong nhà, thì cỡ 22 tuổi là được rồi nếu mà dưới thì sợ lúc đó mình chưa có lập trường, chưa vững để hướng tới hôn nhân, cái suy nghĩ mình chưa chín chắn hoặc là sẽ hướng tới sai lầm sau này, như mình suy nghĩ chưa kỹ sau này có chuyện gì đó rồi mai mốt mình nghĩ lại thì mình thấy hối hận này kia dẩn đến cuộc sống gia đình đổ vỡ”.

 (Nữ, 27 tuổi, trích BBPVS số 3)

Như vậy, độ tuổi kết hôn cũng là một trong những yếu tố quyết định tính bền vững của gia đình, độ tuổi càng trưởng thành thì người ta càng chín chắn trong suy nghĩ và sẽ gánh vác trọng trách của đời sống hôn nhân vẹn toàn hơn so với độ tuổi kết hôn trẻ.

 Tìm hiểu quan niệm của các tín đồ với câu hỏi: “Thế nào là một gia đình hạnh phúc?”. Kết quả khảo sát cho thấy nhiều câu trả lời thú vị như sau:

Những yếu tố chủ đạo làm nên hạnh phúc của một gia đình Công giáo, bao gồm 5 yếu tố chính: tình yêu, con cái, kinh tế, đời sống đạo và sức khỏe. Trong đó, tình yêu thương giữa vợ chồng là yếu tố quan trọng nhất, tình yêu thương giữa vợ và chồng được đo lường ở nhiều góc cạnh: tình yêu, sự tin tưởng, tôn trọng nhau, chung thủy, nhẫn nhịn, hy sinh, chia sẻ khó khăn trong cuộc sống; tình yêu là chỉ báo nhận được nhiều câu trả lời hơn cả so với các chỉ báo khác với 70%, tiếp đến là chung thủy với 42.8%,... Nhìn chung các chỉ báo để đo lường tình yêu thương giữa vợ và chồng đều chiếm tỉ lệ đáng kể có thể được xem là yếu tố quyết định hạnh phúc một gia đình. Yếu tố thứ hai được đánh giá đóng vai trò quan trọng làm nên hạnh phúc của một gia đình là con cái mà cụ thể là con cái ngoan ngoãn (60.6%) và được học hành tử tế (31.1%). Tiếp đến là vấn đề kinh tế (33.3%) cũng là một trong những yếu tố kiến tạo hạnh phúc gia đình và đối với người Công giáo còn có một yếu tố nữa làm nên hạnh phúc gia đình là đời sống đạo của gia đình (30.0%), điều này làm nên nét đặc trưng của các gia đình Công giáo khi mà bên cạnh các giá trị làm nên hạnh phúc của một gia đình còn là do yếu tố tôn giáo quyết định. Và yếu tố cuối cùng là sức khỏe (24.4%), họ cũng quan niệm rằng gia đình được khỏe mạnh là do Chúa ban cho họ và hàng ngày họ cũng luôn cầu nguyện để xin Chúa ban cho gia đình họ được khỏe mạnh, không chỉ là cầu xin được khỏe mạnh, người Công giáo còn cầu xin con cái ngoan ngoãn đáp ứng kỳ vọng của gia đình và cầu xin cho công ăn việc làm được thuận lợi. Do đó, có thể thấy rằng dù là yếu tố nào quyết định hạnh phúc của một gia đình Công giáo thì xoay quanh yếu tố đó vẫn là tình cảm tôn giáo mà các cá nhân đều hướng tới khi họ dùng tình cảm tôn giáo để cầu mong đạt được những ước vọng trong cuộc sống, trong đó có ước mong về một gia đình hạnh phúc.

Bên cạnh đó, đời sống gia đình Công giáo còn có nét riêng biệt, đó là việc xây dựng đời sống đạo trong gia đình, công việc này không là trách nhiệm chính của riêng vợ hoặc chồng mà tỉ lệ phần lớn là 69.4% cho rằng đây là công việc của cả hai vợ chồng.

Hạnh phúc bền vững của hôn nhân Công giáo được duy trì khi trong cộng đồng họ đang sống được cố kết bởi tình cảm tôn giáo rất lớn nên hạnh phúc gia đình có thể được cứu cánh bởi các đoàn thể, bởi linh mục hay tu sĩ. Thật vậy, kết quả khảo sát cho thấy, khi gia đình xảy ra bất hòa bên cạnh 55.6% sử dụng cách thức “im lặng”, 41.7% “cùng ngồi lại để giải quyết vấn đề” thì có đến 36.1% sẽ “nhờ linh mục/tu sĩ” và 10% nhờ “các hội đoàn trong giáo xứ” để hỗ trợ họ trong việc giải quyết mâu thuẫn giữa vợ và chồng. Nói như vậy, để thấy rằng đời sống hôn nhân Công giáo được tác động nhiều bởi tính cố kết chặt chẽ của cộng đồng Công giáo, đặc biệt là cộng đồng Công giáo nông thôn “toàn tòng” với sự can thiệp của những “thế lực” ngoài gia đình và điều đó cũng chứng tỏ rằng, linh mục/tu sĩ là những người có uy tín trong cộng đồng, được các tín đồ xem trọng. Bởi vì người Việt từ trước đến nay vẫn ngại chuyện “vạch áo cho người xem lưng” nên nếu có xem trọng linh mục/tu sĩ thì họ mới tin tưởng và nhờ sự hỗ trợ của các vị để hướng dẫn họ về mặt “Đạo” và đôi khi là cả về mặt “Đời”.

Quan niệm hôn nhân – gia đình cho thấy lối sống đạo của người Công giáo ở khía cạnh này chịu tác động chi phối nhiều bởi yếu tố tôn giáo khi cố gắng tuân thủ các chuẩn mực, giá trị, tín lý của đạo. Và mặc dù quan điểm của Giáo hội đã rộng mở đối với các trường hợp hôn nhân khác đạo nhưng bản thân các tín đồ vẫn chưa thể thích nghi mà vẫn còn mang nặng quan niệm ưu tiên người đồng đạo trong vấn đề kết hôn. Vấn đề xây dựng đời sống đạo trong gia đình Công giáo cũng là điều nằm trong sự quan tâm của các gia đình và đó được xem là vai trò chung của cả hai vợ chồng. Dù rằng đã có những thay đổi cơ bản thích nghi với những chuyển biến của xã hội, nhưng ở một chừng mực nào đó, các tín đồ trong cộng đồng Công giáo vẫn đang cố gắng giữ những nét rất riêng về hôn nhân nhằm củng cố giá trị hôn nhân “một vợ - một chồng và bất khả phân ly” cho dù Giáo hội Công giáo đã nới rộng luật lệ trong vấn đề kết hôn khác đạo.

 



[1] Các số liệu trong bài viết được trích từ luận văn Thạc sỹ ngành Xã hội học: "Lối sống của cộng đồng Công giáo trong bối cảnh đô thị hóa, điển cứu tại giáo xứ Vinh Trung, Bình Trung, Châu Đức, Bà Rịa - Vũng Tàu" (2012).

[2] Hội thánh Công giáo có 7 bí tích: Rửa Tội, Thêm Sức, Thánh Thể, Thống Hối, Xức Dầu Bệnh Nhân, Truyền Chức Thánh và Hôn Phối.

[3] Hội đồng giám mục Việt Nam, Bộ Giáo luật Hội thánh Công giáo, 1985, số 1644, xem tại website: www.catholic.org.tw, ngày truy cập 15/3/2012.

[4] Hội đồng Giám mục Việt Nam, Thư chung 2002.

[5] Hội đồng Giám mục Việt Nam, Giáo lý hôn nhân và gia đình, NXB Tôn giáo, Hà Nội, 2004, tr.40.

[6] Hội đồng giám mục Việt Nam, sách giáo lý của Hội thánh Công giáo, NXB Tôn giáo 2011, tr.486-487

[7] Nguyễn Văn Minh, Lựa chọn bạn đời: qui tắc và thực hành hôn nhân (nghiên cứu tại Yên Bái, Thừa Thiên Huế và Tiền Giang), in trong sách Gia đình nông thôn Việt Nam trong chuyển đổi, 2008, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.254.

[8] Hội đồng giám mục Việt Nam, Sách giáo lý của Hội thánh Công giáo, NXB Tôn giáo 2011, điều 2381, tr.666


vtc6-thumbnail
Giáo xứ Vinh Trung được thành lập ngày 28/10/1955 và hiện nay thuộc địa bàn xã Bình Trung. Sau hơn 40 năm thành lập, giáo xứ Vinh Trung được nhận định là một trong những giáo xứ "có nề nếp sống đạo chuẩn mực, trưởng thành.


q3-thumbnail
Tìm hiểu quan niệm của giáo dân xã Bình Trung về vấn đề thất bại và thành công trong cuộc sống, kết quả khảo sát cho thấy 36.7% nhận định thành công hay thất bại trong cuộc sống là “do bản thân”, bản thân họ tự tạo ra thành công hoặc tự gây ra thất bại chứ vấn đề này không có sự can thiệp, tác động nào từ Chúa, suy nghĩ họ mang lý tính nhiều hơn

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Có thể nói ngày Tết đã đem đến cho mọi người một "cửa mở" soi rọi vào tâm khảm, không khí Tết bên ngoài sôi động bao nhiêu thì bên trong tâm lòng mỗi người có thể cũng có những xao động chợt đến chợt đi, ẩn hiện như đùa giỡn cùng với một suy tư nào đó trong ngày đầu năm mới./20 Tháng Hai 2015(Xem: 5422) Đặng Xuân Hường/
...chẳng bao giờ quên nồi bánh đầu tiên nấu ở phố Los Angeles gần bên mấy building cao tầng, với lá chuối nhà ông Mễ, nếp đậu từ China Town, dây cột bánh ở tiệm tạp hóa ông già Ấn Độ và một chiếc trực thăng bay trên mái nhà khi bánh vừa chín chưa kịp vớt ra./02 Tháng Hai 2014(Xem: 8534)/
Khi tới nơi bờ sông, hai người thấy một ông lão trên chiếc xuồng nhỏ giữa sông đang chao đảo...Họ trố mắt nhìn xem chuyện gì đang xảy ra. Hình như ông lão đang cố gắng chèo chống để vào bờ, nhưng chiếc xuồng cũ nát đã ngập đầy nước
Giuse đặt con vào nằm trong máng cỏ, hài nhi rạng rỡ nằm im dõi đôi mắt bé tí nhìn theo Giuse. Một niềm hạnh phúc xen lẫn cảm xúc trào lên, Giuse ứa lệ nhìn bé sơ sinh phải chịu cảnh thiếu thốn như thế này./24 Tháng Mười Hai 2013(Xem: 3939) Đặng Xuân Hường/
Nhớ về quê cũ nhớ Mẹ già,- Một sương hai nắng tháng ngày qua,- Trăng thanh gạo trắng đàn con nhỏ,- Lòng Mẹ bao la thật không bờ.- Nhớ về quê cũ mùa Xuân xưa,- Quây quần thân tộc đón Giao thừa,- Thơm hương rượu nếp quê đầm ấm,- Tình nghĩa quê nhà! Ôi! Thiết tha./10 Tháng Hai 2013(Xem: 6122) Đặng Xuân Hường/
Những bài thánh ca vang lên trong radio nghe thật nồng ấm, náo nức trong mùa Noel. Lễ Giáng sinh gần kề, mọi người chuẩn bị sắm sửa cho ngày đại lễ. Làng xóm đã nhộn nhịp khác thường, mặc dù cuộc sống cũng chẳng khác gì hơn mấy trong cái xóm nghèo đồng quê này,/30 Tháng Mười Hai 2013(Xem: 6404) Đặng Xuân Hường/
Tìm hiểu quan niệm của giáo dân xã Bình Trung về vấn đề thất bại và thành công trong cuộc sống, kết quả khảo sát cho thấy 36.7% nhận định thành công hay thất bại trong cuộc sống là “do bản thân”, bản thân họ tự tạo ra thành công hoặc tự gây ra thất bại chứ vấn đề này không có sự can thiệp, tác động nào từ Chúa, suy nghĩ họ mang lý tính nhiều hơn
Tất cả những đóng góp cho các công cuộc lớn dù nhỏ nhoi đều có giá trị có thể nói là ngang nhau. Vậy chúng ta hãy cố gắng làm một điều gì đó trong khả năng có thể làm được và đừng cho là vô ích...
Giáo xứ Vinh Trung được thành lập ngày 28/10/1955 và hiện nay thuộc địa bàn xã Bình Trung. Sau hơn 40 năm thành lập, giáo xứ Vinh Trung được nhận định là một trong những giáo xứ "có nề nếp sống đạo chuẩn mực, trưởng thành.
Cụ Nguyễn ngồi trầm ngâm với ly cà phê nơi một quán nhỏ trên đường Bolsa, gần khu thương mại Phúc Lộc Thọ. Tuổi già như cụ, sống nơi đất khách quê người, lắm lúc cụ cảm thấy cô đơn lẻ bóng, mặc dù con cháu của cụ cũng khá đông đảo./19 Tháng Mười 2013(Xem: 2959) Đặng Xuân Hường/
Bảo Trợ