Quan niệm tổng hợp trong đời sống con người toàn bộ: chương 3 & 4

01 Tháng Sáu 20122:00 CH(Xem: 2295)

 

Chương 3. Vài nguyên lý tổng quát

 hoa_rung_01_0

 

3. 1 Dẫn vào nguyên lý tổng quát

Đây chỉ là những đề nghị của chúng tôi, không có tham vọng làm khuôn vàng thước ngọc hoặc đề ra mẫu mực cho bất cứ ai hoặc tổ chức nào, cũng như không dám đặt vấn đề nghi ngờ nền luân lý đạo đức của một tôn giáo hoặc dân tộc nào. Do đó nếu có sự trùng hợp hoặc hiểu lầm ngộ nhận nào, thì đó chỉ là tình cờ ngẫu nhiên do suy diễn cá nhân ngoài ý muốn. Nếu có ai bất đồng ý kiến thì cũng chỉ là lẽ đương nhiên, vì dù sao chúng ta cũng chỉ như những người mù dò dẫm trên con đuờng làm người, mỗi người may ra mới chỉ nhìn thấy một góc, biết được một chiều. Do đó những điều chúng tôi sắp viết ra đây dù có mang tên là ‘nguyên lý, suy diễn, hệ luận’ đi chăng nữa, trước sau cũng chỉ là những nhận định của chúng tôi với hiểu biết giới hạn và kinh nghiệm cá nhân. Chúng tôi mong bạn đọc chỉ giáo để có thể kiện toàn những hiểu biết và kinh nghiệm này.

Bây giờ chúng tôi xin phép đề xướng 3 nguyên lý và 6 điều suy diễn hệ luận.

3. 2 Nguyên lý 1: Tổng quát

Con người là một toàn bộ tổng hợp của thể xác, tâm trí và linh hồn, cho nên chi bất cứ một phân tích chia rẽ nào cũng chỉ là giả tạo, thiếu sót, đáng tiếc.

Suy diễn 1: Bất cứ một hành tác nhân linh nào của con người cũng phải là thành quả của cả 3 thành tố tổng hợp lại.

Tôi đang viết bạn đang đọc những hàng chữ này: tay tôi viết, mắt bạn đọc (thể xác), tôi tìm cách suy nghĩ để viết và bạn đang đọc những chữ viết này để hiểu biết những ý tưởng mà (tâm trí) suy nghĩ cho là đúng hoặc sai, để rồi tôi nhận định đây là điều tốt và quyết tâm nên viết và bạn muốn đọc, chứ không làm việc gì khác (linh hồn).

Thể xác cảm thấy đói khát, tâm trí suy nghĩ thấy nhu cầu cần phải ăn uống, linh hồn lại nhận định rằng cần phải ăn chay hãm mình để có dư ra một chút chia sẻ với những anh chị em thiếu thốn. Việc ăn uống hay không là do thể xác phối hợp với tâm trí và linh hồn. Như thế mới được kể là một hành vi nhân linh, một hành tác tổng hợp của con người toàn bộ.

Suy diễn 2: Con người chỉ phải chịu trách nhiệm và chỉ được an vui hạnh phúc đích thực khi hành tác của mình là thành quả tổng hợp như trên.

Mất an vui hạnh phúc là khi thiếu quân bình của các thành tố đó. Con người không phải chịu trách nhiệm khi hành động mà thiếu một trong ba thành tố căn bản đó.

Có người ăn uống say sưa tối ngày chẳng để tâm trí suy nghĩ tới hậu quả tai hại của việc ăn uống quá độ, và linh hồn thiếu ý chí nghị lực để sống điều độ: làm sao sống được hạnh phúc? Có khi con người chỉ hành động theo cảm xúc tâm tình vì thích thế, vì cảm thấy như vậy mà không để giờ hoặc để tâm mà suy nghĩ. Có khi con người chỉ miệt mài theo đuổi một lý tưởng, một chủ trương mà quên đi thực tế của cuộc đời cũng như những nhu cầu thiết yếu của con người, để rồi

cuối cùng sa vào hố tuyệt vọng. Tất cả đã thiếu quânbình trong cuộc sống con người toàn bộ.

Một người quyết định trao thân gửi phận trong cuộc sống hôn phối khi thực ra họ chỉ yêu thể xác và vật chất, chưa chắc họ đã hiểu ý nghĩa cũng như những quyền lợi và nghĩa vụ qua việc làm của họ, chả lẽ bắt cả hai người cùng bị tù chung thân hay sao đây? Cũng có những tâm hồn tỏ vẻ cao thượng khi mới lớn

lên đã mơ ước dấn thân hy sinh phục vụ tha nhân trong các bệnh viện, các trại cùi, trong khi có thể chỉ là vì họ muốn trốn ‘việc quan đi ở chùa’: như vậy đâu có phải là thực sự bác ái cao siêu?

Thật là khó mà đưa ra những chỉ dẫn cụ thể để biết thế nào là quân bình thế nào là không. Ở đây chúng tôi chỉ muốn nhấn mạnh ở một điểm này là mỗi hành vi nhân linh phải là thành quả tổng hợp của cả ba thành tố cấu tạo nên con người, để con người chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Như vậy mới là con người trưởng thành đúng nghĩa.

3. 3 Nguyên lý 2. Phương pháp lý tưởng để hiểu biết con người của chính mình cũng như của người khác là phải tổng hợp các hiểu biết tất cả những lãnh vực về thể xác, tâm trí và linh hồn càng nhiều càng tốt.

Khá nhiều khi chúng ta nói rằng biết người này người kia, mà thực sự ra chỉ biết tên biết tuổi, biết nét mặt biết hình dáng, nhưng chưa chắc gì đã biết đến tâm trí và linh hồn của người ta, hoặc chỉ biết địa vị chức tước xã hội, những việc làm công khai mà không mảy may biết đến đời sống riêng tư và tâm tình của người.

Nhiều cô cậu khi gặp gỡ tìm hiểu yêu thương nhau cứ tưởng mình hiểu biết nhau về mọi phương diện nhất là sau khi họ đã ăn nằm với nhau, trong khi đó thực ra may ra họ chỉ mới biết thể xác của nhau, hoặc quen nhau về một chút tính tình, chứ chưa chắc đã biết về tâm trí văn hóa giáo dục, và linh hồn cuộc sống thần linh của nhau.

Suy diễn 3: Mỗi người chuyên môn của một lãnh vực phải tôn trọng phần khả năng chuyên môn của người khác trong lãnh vực khác của xã hội chuyên biệt cũng như đa dạng này.

Thợ nề phải biết giỏi nghề thợ nề của mình, đừng lên mặt dạy thợ mộc. Thợ điện phải tôn trọng phần chuyên môn của thợ nước. Bác sĩ phải tập luyện cho thông thạo về y khoa, giáo sĩ phải tu luyện cho đắcđạo, giáo sư phải tìm hiểu nghiên cứu tới nơi tới chốn. Xin đừng ai theo thói “dốt hay khoe chữ’. Điều này dễ đúng hơn trong các nước có trình độ dân trí văn hóa cao và kỹ thuật đa dạng, hơn là trong các nước còn lệ thuộc nhiều vào vị lãnh tụ.

Suy diễn 4: Mỗi người phải biết giới hạn của mình và đừng dẫm lên chân người khác, cũng đừng tự hào mình là đỉnh cao trí tuệ loài người.

Mỗi người chỉ là một phản ảnh nhỏ bé của nguồn chân thiện mỹ là Thượng đế. Đừng có thái độ tự kiêu như ‘hai ca sĩ không khen nhau bao giờ’. Nại cớ là tự do ngôn luận và quyền tự chủ tự lập, nhiều người có tên tuổi một chút như minh tinh tài tử, như các vô địch thể thao, như các lãnh tụ chính trị, có khuynh hướng thích phát biểu về mọi vấn đề, tưởng y như mình quán triệt mọi chuyện còn coi thiên hạ như không ai hiểu biết gì hết. Đó là một lỗi lầm ngộ nhận rất đáng tiếc.

Suy diễn 5: Không nên và không được quyền nhận diện một con người, hoặc nhận định giá trị một đời người chỉ vì một vài hành động cử chỉ, lời nói hoặc ý nghĩ tư tưởng của người ta.

Nên luôn nhớ lời Khổng tử dạy: “chung thân hành thiện, thiện do bất túc, nhất nhật hành ác, ác tự hữu dư”, (cả đời làm lành, lành còn chẳng đủ, một ngày làm ác, ác tự dư thừa), hoặc ‘nếu cả đời làm việc thiện mà lỡ có một lần nào đó làm điều ác, thì cả đời mình sẽ bị mang tiếng là ác đức’.

Một vài hình ảnh đăng trên báo chí, hiện trên màn ảnh tivi video làm sao diễn tả biểu lộ tất cả cuộc đời một con người được đây? Việt nam có câu ‘làm báo nói láo ăn tiền’. Phương tiện truyền thông đại chúng nhiều khi nhân danh tự do ngôn luận đã bóp méo sự thật hơn là ‘dĩ văn tải đạo’ (dùng văn chương để chuyên chở đạo lý). Làm sao có thể trích dẫn chỉ một lời nói mà đủ biểu lộ cả một con người với cả một đời? Làm thế nào dùng chỉ một hình ảnh mà đủ diễn tả cả một lịch sử trường kỳ, một sự nghiệp đa năng?

Suy diễn 6: Thánh nhân chính là thành nhân vậy (to be holy is to be wholesome), và thành nhân cũng chính là thánh nhân vậy (to be wholesome is to be holy).

Mà thành nhân là phát triển toàn diện toàn bộ tổng hợp con người về thể xác, tâm trí và linh hồn. Bất toàn bất hạnh, thiếu quân bình hòa hợp là khi một phần phát triển còn phần kia bị trì trệ.

Trên đời không thiếu gì những người thành công về vật chất thể xác, nhưng lại thất bại ê chề về tâm trí tình cảm, về linh hồn thiêng liêng. Tự tử tự vận là hành động của một người thiếu quân bình và hèn nhát, không đủ sức chịu đựng đau khổ éo le của cuộc đời, không có tâm trí can trường đối phó với hoàn cảnh và nghịch cảnh bi đát. Tự tử có thể chấm dứt đau khổ thể xác hoặc tâm trí của chính mình, nhưng biết đâu để lại muôn ngàn dằn vặt cho những người thân thương, và làm sao biết chắc được chết là hết và không có thưởng phạt đời sau? Mà lỡ có thì sao đây? Chả lẽ tránh đau khổ tạm bợ ở đời này để trầm luân đau khổ muôn kiếp đời sau sao chăng?

Biết bao nhiêu anh hùng vĩ nhân đã coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, xả thân hy sinh cho đại nghĩa và lý tưởng, vào tù ra khám với thân xác tiều tụy nhưng tâm trí minh mẫn và linh hồn tinh anh. Họ vẫn giữ được phong độ tư cách của con người và sống an vui hạnh phúc với niềm vui chẳng ai trên đời có thể cướp giật đi được.

Thể xác cho dù sinh đôi cũng không ai giống ai hoàn toàn, tâm trí của mỗi người cũng có sở trường sở đoản khác nhau, và linh hồn mỗi người được Thượng đế tạo dựng theo hình ảnh của Ngài, nên tổng hợp toàn bộ thể xác tâm trí và linh hồn của một con người cũng phải là một thực thể hiện hữu khác hẳn. Mỗi con người phải phát triển toàn bộ khả năng của mình để thành nhân và trở thành thánh nhân. Không ai phải trở nên một ai khác hoặc thành thánh giống một đấng nào cả.

3. 4 Nguyên lý 3. Cuộc đời con người là một diễn tiến liên tục không ngừng qua các giai đoạn trong quá khứ, hiện tại và tương lai, là thành quả biểu lộ một liên hệ tình nghĩa giao ước (covenant) giữa trời đất người (thiên địa nhân), hơn là hậu quả đòi hỏi của luật lệ quy ước (contract) giữa luật lệ cấm đoán câu nệ.

Khuynh hướng tự nhiên của con người là chỉ nhìn theo bề ngoài, chỉ nhận định theo thiên kiến, chỉ suy đoán theo cảm tình cá nhân. Chúng ta dễ chụp mũ cho người, thích đeo nhiều nhãn hiệu hào nhoáng cho mình.

Lý tưởng cuộc đời là hiểu mình biết người, biết trời đất, biết vạn vật: “tử tri ngã tri, thiên tri địa tri, tri âm tri dương, tri cương tri nhu, tri kỷ tri bỉ” (biết mình biết người, biết trời biết đất, biết âm biết dương, biết lúc mạnh lúc nhẹ, biết khi cứng khi mềm, biết người biết ta).

Muốn hiểu biết người thì phải tìm hiểu tất cả lịch sử diễn tiến của con người đó từ khi sinh ra cho đến nay, phải tìm hiểu những liên hệ tình nghĩa giữa người đó với mọi người mọi cảnh liên hệ. Như thế khó mà hiểu nổi con người, cho nên chi cũng đừng vội vã chụp mũ cho người, hoặc lên mặt mô phạm dạy đời, hoặc kết án một hành động của con người khi chính mình chưa biết đủ về con người ấy, khi thực sự mình chưa đi guốc được trong bụng người ta. Đức Giêsu giảng huấn: “đừng lên án ai để chính ngươi khỏi bị lên án, vì ngươi sẽ bị lên án y như tiêu chuẩn ngươi đã dùng để lên án người khác” (Mt 7: 1 2)

Suy nghĩ và thảo luận

1. Thế nào là giao ước (covenant) và giao kèo (contract)?
2. Tìm hiểu khác biệt giữa thánh nhân và thành nhân (holy vs. wholesome), có tinh thần luân lý đạo đức và cuộc sống mộ đạo sùng đạo (spiritual, moral vs. religious, pietistic)
3. Thế nào là an vui hạnh phúc đích thực? là thành công thịnh đạt?
4. Có quyền tự vận (kết liễu cuộc đời: doctor assisted suicide) hoặc an tử danh dự (euthanasia: death with dignity) không?

Thực tập

1. Liệt kê danh sách 10 người bạn quen biết hoặc thân thiết theo khía cạnh thể xác, tâm trí, linh hồn. (Chỉ cần khoảng chừng 10, không cần 30).
2. Liệt kê danh sách 10 người bạn thích, cảm phục, và kể ra lý do tại sao. (Có thể có một số trong danh sách trước).
3. Liệt kê 10 người bạn ghét hoặc không ưa, và kể ra lý do tại sao.
4. Kể lại 1 2 hoàn cảnh khi bạn bị đau khổ thể xác, bị thất bại vật chất mà vẫn giữ được niềm vui tinh thần, hoặc 1-2 trường hợp khi bạn đầy đủ dư thừa của cải mà vẫn thiếu niềm an vui hạnh phúc.

blank
Chương 4: Áp dụng trong tôn giáo

4. 1 Mục đích của tôn giáo

Tôn giáo là liên hệ giữa Thượng đế và nhân loại, là con đường hai chiều Thượng đế mạc khải chỉ bảo cho nhân loại để nhân loại biết mà tìm đến với Thượng đế. Tuy nhiên tôn giáo nào cũng đặt nặng vấn đề tội phúc, vì tôn giáo nào cũng dạy người ta hành thiện trừ ác, ăn ngay ở lành, làm việc lành, tránh sự dữ. Tôn giáo đem lại cho con người niềm hy vọng sẽ được sống trường sinh bất tử. Các tôn giáo cũng phong thần phong thánh cho những người tốt lành thánh thiện để làm gương cho hậu thế soi chung, và lên án những hành vi cử chỉ tội lỗi của những con người độc ác. Tuy nhiên tín đồ thường nghe những lời cấm đoán nhiều hơn là khuyên răn, có thái độ tiêu cực và mặc cảm tội lỗi nhiều hơn là thái độ tích cực và tâm hồn bình an. Thập điều của các tôn giáo độc thần gồm 7 điều cấm và 3 điều khuyên. Có lẽ con người chúng ta dễ bị đánh động, dễ nhớ khi bị cấm hơn là khi được khuyên. Nghe những bài giảng dạy của gíáo sĩ đó đây, đa số vẫn thích nghe những lời đanh thép nẩy lửa, những giọng nói đao to búa lớn, hơn là những câu chuyện đơn giản chân thành, những lời nói mộc mạc chia sẻ kinh nghiệm cuộc sống.

4. 2 Thế nào mới là tội?

Theo quan điểm pháp lý, tội lỗi là khi hành động trái với luật lệ mình phải giữ. Mỗi quốc gia có bộ dân luật riêng. Mỗi thành phố, mỗi tổ chức mỗi hội đoàn cũng lại có hiến chương và nội quy điều lệ riêng. Hình như người ta tốn phí khá nhiều thời giờ và công sức để giải thích, bảo vệ các luật lệ đó, và có khi dùng chính những lề luật đó để đổ lỗi bắt tội nhau hoặc lên án sửa phạt nhau. Đôi khi luật lệ của nơi này đi ngược hẳn lại với luật lệ của nơi kia. t.d. luật gia đình một hoặc hai vợ, luật đi đường bên tay phải hoặc tay trái, luật ăn chay kiêng thịt, uống rượu, hút thuốc, giải trí, cờ bạc v.v…

Mục đích của luật lệ là vì công thiện công ích, nhưng đôi khi áp dụng luật lệ một cách gò bó lỗi thời chỉ đem lại tai họa. Muốn áp dụng đúng lề luật thì phải hiểu tinh thần mục đích, hoàn cảnh, chi tiết của lề luật. Cần phải hiểu toàn bộ luật lệ mới tìm được sự hữu ích của lề luật, chứ không phải chỉ coi luật là luật như câu nói của người La mã thuở xưa ‘dura lex, sed lex’ (luật cứng ngắc, nhưng đó là luật thì phải tuân theo). Biết rằng có luật lệ đó rồi, chỉ khi nào mình cố tình muốn đi ngược lại lề luật mới có thể là lỗi phạm. Chính đây là 2 điều kiện tất yếu của tội phạm: biết muốn. Những trường hợp gia giảm sự hiểu biết là khi người tuy lớn xác nhưng trí khôn còn trẻ nít, người bị bệnh tâm trí, người già cả lú lẫn, hoặc những trường hợp gia giảm ước muốn như khi bị tù tội, bị áp lực thể xác cũng như tinh thần.

Một số giáo sĩ có khuynh hướng chẻ sợi tóc làm tư, đã dầy công nghiên cứu phân biệt các trường hợp tội nặng, tội nhẹ, tội trọng, tội hèn, làm cho tín đồ ít hiểu biết càng thêm bối rối và coi cái gì cũng là tội, để rồi sau này bị mặc cảm tội lỗi dầy vò khó chịu.

Ngược lại một số nhà tâm lý và xã hội học thời nay coi thường luật lệ và nghĩ rằng không có gì tuyệt đối và cũng chẳng có gì là tội lỗi trên trần gian này bao lâu mà đương sự cảm thấy dễ chịu thoải mái.

Họ thường nói rằng

a) Phải sống trung thực với lòng mình cảm nghĩ (go with your feelings, be yourself)
b) Phải lắng nghe tiếng nói của con tim (le coeur a des raisons que la raison ne connait pas)con tim có lý lẽ mà lý trí không biết đượcphải nhận diện mà đi theo các tâm tình.
c) Không có tâm tình nào đúng tâm tình nào sai (feelings are neither right nor wrong) mà tất cả chỉ là phản ứng tự nhiên của một con người có tim rung động, có trí biết suy nghĩ thôi.

Khuynh hướng này dẫn đến một suy diễn nguy hiểm là con người tự coi mình như chúa tể có quyền định đoạt, thưởng phạt, và như vậy người ta coi nền luân lý đạo đức chỉ còn là tương đối tùy thời tùy nơi tùy xã hội tùy văn hóa phong tục tập quán. Chắc hẳn đa số đồng ý với lời nhận định của Đức Giáo hoàng Piô XII rằng tội trạng nguy hiểm nhất của thời đại này là loài người không còn biết thế nào là tội phúc nữa.

Một số người nói: lấy đồ của Mỹ không có tội vì người Mỹ giầu có nước Mỹ dư dật. Trai gái vào tuổi yêu đương thường nghĩ rằng mình tỏ tình ân ái với nhau không có tội vì hai đứa cảm thấy thương nhau yêu nhau tha thiết thật tình. Nếu quả thực là như vậy thì chỉ còn ý kiến và lập trường chủ quan và mục đích ích kỷ cá nhân mà thôi.

4. 3 Thần quyền và thế quyền

Hiệp chủng quốc Hoa kỳ chủ trương phân biệt thần quyền và thế quyền, không muốn đạo giáo có ảnh hưởng trên luật pháp chính trị, đồng thời không để chính trị dây vào sự vụ của đạo giáo. Tuy nhiên sự phân biệt đó đã đi đến độ chia rẽ nếp sinh hoạt xã hội và làm lung lạc cuộc sống gia đình, chỉ vì nhiều người lẫn lộn đồng hóa luân thường đạo đức với tôn giáo tín điều.

Chúng ta hãy thử xét đến trường hợp phá thai và an tử. Tôn giáo nào cũng giảng dạy phải tôn trọng sự sống con người vì đây là nguyên lý luân thường đạo đức tối thiểu và căn bản theo lương tâm loài người và công thiện công ích, chứ không thể nói đây là chuyện riêng tư của tôn giáo nên chính quyền không muốn xía vào. Nhiều quốc gia đã dùng cớ phân biệt thần quyền và thế quyền để cho tự do phá thai, tự mình lo an tử, coi đó như là quyền tự do tự chủ tối thượng bất khả xâm phạm của mỗi người, và càng không muốn tôn giáo giảng dạy ngăn chặn cấm đoán. Hậu quả là nền luân lý suy đồi, tuổi trẻ bị băng hoại, tuổi già bị bỏ rơi, gia đình bị tan nát.

Một trường hợp nữa cũng nên rất chú ý là vấn đề giáo dục sinh lý và ngừa thai trong học đường. Dĩ nhiên nhà trường lấy cớ muốn giáo dục dạy dỗ con em về mọi vấn đề kể cả khía cạnh sinh lý, nhưng sinh lý thể xác không phải là tất cả con người: muốn giáo dục thực sự, phải giáo dục toàn bộ con người mới đúng. Rồi nhìn vào nội dung của sách vở tài liệu giảng dạy, có lẽ chúng ta chỉ thấy có những kiến thức về y khoa sinh lý, về cách làm quen làm bạn và làm tình, chứ không có gì về huấn luyện tư cách phẩm giá con người được hiểu biết trưởng thành và phát triển toàn diện về tâm linh. Thảo nào con em học sinh chẳng lạm dụng để huởng thú vui thể xác mà không chút trách nhiệm về tinh thần, nhất là khi phòng y tế nhà trường còn phát không thuốc ngừa thai đủ loại. Thật là tréo cẳng ngỗng: một đàng cha mẹ có quyền cho con em xâu bông tai hay không, chích thuốc ngừa bệnh hay không, nhưng một đàng cha mẹ lại không được hỏi ý kiến gì khi con em ngừa thai phá thai. Làm như vậy là chính phủ và học đường đã lấn át quyền của cha mẹ và đã thực sự dẫm chân lên địa hạt tâm trí và linh hồn của học sinh rồi.

Các thể chế xã hội chủ nghĩa theo cộng sản duy vật tuyên bố tự do tôn giáo trên lý thuyết của giấy tờ, tự hào không muốn dính dáng vào các phạm vi tôn giáo, nhưng trên thực tế đã chi phối các sinh hoạt tôn giáo vin cớ để bảo vệ an ninh cho đồng bào, vì ích quốc lợi dân. Có người cán bộ còn huênh hoang tự biện minh rằng vì phải bảo vệ sự tự do của người vô thần, nên người hữu thần không được biểu lộ việc thờ phượng của mình nơi công cộng. Đúng là “miệng nhà sang, không có gang cũng có thép”.

4. 4 Cuộc sống hằng ngày

Trên đây là một vài quan niệm tổng quát áp dụng cho tôn giáo và chính trị nói chung. Trong cuộc sống mỗi ngày, chúng ta cũng có thể nhìn nhận ra sự liên hệ tương quan giữa thể xác, tâm trí và linh hồn.

Trước hết bạn hãy tự kiểm thảo xem mỗi ngày bạn đã làm những gì cho thể xác, tâm trí hoặc linh hồn của bạn t.d. tốn bao nhiêu thời giờ, tiền bạc, nghị lực vào việc nuôi dưỡng và làm đẹp thể xác, vào việc trau dồi kiến thức hiểu biết cho tâm trí, tập luyện ý chí tư cách cho linh hồn. Chúng tôi nghĩ rằng bạn sẽ rất ngạc nhiên khi thấy bạn lo cho thể xác quá nhiều, mà chẳng lo cho tâm trí bao nhiêu, còn linh hồn ư? Có khi người ta chỉ đợi đến khi nào bị khó khăn trở ngại hoặc hoạn nạn mới biết đến cầu nguyện khấn vái thôi! Thảo nào chẳng cảm thấy thiếu quân bình và mất an vui.

4. 5 Niềm tin hoặc tín điều? đạo tại tâm

Bất cứ ai mới vào một đạo nào cũng thường thắc mắc và lo sợ, nghĩ rằng mình không có đủ đức tin hoặc yếu đức tin. Có lẽ trong trường hợp này chúng ta nên phân biệt rõ ràng hai quan niệm và thái độ tâm tình qua hai từ ngữ ‘niềm tin’ (faith) và ‘tín điều’ (beliefs). Người dự tòng có niềm tin cho dù chưa hiểu nhiều tín điều, trong khi đó có những người giữ đạo lâu năm, thuộc nhiều kinh kệ, biết rõ các tín điều nhưng chưa chắc đã có niềm tin mạnh mẽ sắt đá. Niềm tin là hồng ân Thượng đế ban cho để con người tín thác yêu thương Thượng đế trọn vẹn, để con người dấn thân phục vụ tha nhân. Dĩ nhiên niềm tin phát xuất từ nội tâm, thâm tâm của con người, nhưng niềm tin đó cũng phải biểu lộ và phát hiện qua bên ngoài vì chúng ta là con người có hồn xác tâm linh.‘Đạo tại tâm’ phải được hiểu theo ý nghĩa rằng lòng tin đạo là nền tảng căn bản, chứ không phải là đạo chỉ có ở trong lòng mà không cần bề ngoài.

4. 6 Tinh thần đạo hạnh và lòng mộ đạo

Có một từ ngữ dễ làm cho người ta nhận xét và nhận định một cách lầm lẫn, đó là đạo đức(spiritual) luân thường đạo hạnh (moral) và mộ đạo (religious) hoặc sùng đạo (pietistic) hoặc mê tín (superstitious). Những người đi nhà thờ nhà chùa thườngxuyên có thể là mộ đạo, cúng vái dâng công quả đều đều có thể là sùng đạo, nhưng chưa chắc đã là những con người sống luân thường đạo hạnh và có đời sống đạo đức khi họ thiếu bác ái với hàng xóm, khi họ sống thiếu công bình liêm chính trong công ăn việc làm. Trong khi đó có những người không bao giờ bước chân tới đền thờ để cầu nguyện hoặc đến nhà chùa để cúng vái, nhưng họ sống công bình chính trực theo lương tâm ngay thẳng và lương tri đàng hoàng, lo cho gia đình và xã hội, chắc hẳn họ đã thực sự là con người đạo đức, sống luân thường đạo hạnh.

Ca dao Việt nam có câu: “Ngoài miệng thì nói Nam Mô (A di đà Phật) (niệm Phật: tỏ ra mộ đạo bề ngoài) trong lòng thì đựng ba bồ dao găm (để hại người)”. Sách Thánh cũng ghi nhận như vậy: “Dân này chỉ tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng trí chúng thì thật xa Ta vời vợi”(Is 29: 13; Mt 15,8)

4. 7 Đạo theo

Thời nào đời nào nước nào cũng có những người theo đạo vì thời cơ xu hướng chính trị: theo đạo của vị lãnh tụ với hy vọng mình cũng sẽ được trọng dụng. Lịch sử tôn giáo trên thế giới đã nhiều lần chứng minh rằng đạo của vị lãnh tụ cũng là đạo của đa số toàn dân không cần đặt vấn đề. Constantinus khi trở thành Hoàng đế La mã và trở lại Công giáo, đã làm cho cả đế quốc La mã ở Âu châu tin theo đạo công giáo La mã. Vua Henry VIII nước Anh chống lại Giáo hoàng La mã

đã tách tất cả Anh quốc khỏi Âu châu và lập nên Anh giáo. Mỗi triều đại ở Việt nam cũng có sự thay đổi từ Phật giáo, Khổng giáo, Lão giáo, Công giáo, vô thần, và nhiều công dân cũng chỉ tin theo người lãnh tụ coi những vị đó y như thể thần thánh.

Như vậy làm sao biết được đạo nào là đạo thật, đạo giả, đạo vỏ đạo gạo? Ở đây chúng tôi không muốn đưa ra một lời giải đáp như trong sách Giáo lý kinh điển, nhưng chỉ muốn dùng quan niệm tổng hợp để nhận định rằng đạo thật là đạo nhìn nhận con người có thể xác, tâm trí và linh hồn, và con người chỉ được an vui hạnh phúc đích thực khi sống theo luật lệ Thượng đế đã an bài phú bẩm cho toàn bộ con người.

4. 8 Đạo vỏ?

Có người thắc mắc không hiểu tại sao chúng ta phải tới nhà thờ, nhà chùa mới đọc kinh cầu nguyện được? Nhiều người thường không hiểu tại sao không được phép cầu nguyện trong phòng hoặc trên giường? Nhất là các bạn trẻ thích trưng dẫn câu Sách Thánh sau đây để biện minh cho hành động của mình:

“Khi các ngươi cầu nguyện, thì chớ làm như bọn người giả hình: họ ưa đứng cầu nguyện trong hội đường và các ngã tư đường, ngõ hầu được người khác nhìn thấy… còn ngươi khi cầu nguyện, hãy vào phòng đóng cửa lại mà cầu nguyện với Cha ngươi vì Ngài có mặt trong cả nơi ẩn khuất… Cũng đừng lải nhải như người ngoại giáo vì chúng tưởng cứ nói nhiều là được nhậm lời… Cha các ngươi đã biết tỏ các ngươi cần gì trước khi các ngươi xin Ngài..” (Mt 6,5-8).

Thực ra ai có trích dẫn những lời trên đi chăng nữa cũng một phần chỉ là để biện hộ cho hành động biếng lười của mình, thiếu hoặc không muốn tin tưởng nơi Thượng đế, không muốn tuân theo giáo điều phải thờ phượng Ngài đó thôi. Nói một cách tuyệt đối, Thượng đế ở khắp mọi nơi, nên ở đâu ta cũng có thể thờ phượng Ngài, cầu nguyện với Ngài. Nhưng chúng ta là con người có thể xác, tâm trí và linh hồn: linh hồn thiêng liêng có thể hiệp nhất với Thượng đế bất cứ ở đâu và bất cứ khi nào, nhưng chúng ta là những con người chung sống với những con người khác trong một gia đình và cộng đồng xã hội.

Thân xác chúng ta cần có một khung cảnh thích hợp để cầu nguyện và thờ phượng cũng như khi ăn uống nghỉ ngơi. Chúng ta không bạ đâu cũng ăn, gặp gì cũng uống. Tâm trí chúng ta cần có một bầu khí thuận tiện giúp cho việc cầu nguyện và thờ phượng để được sốt sắng hiệu quả hơn. Cũng như khi ăn uống cần phải có nơi chốn thảnh thơi, bạn bè thoải mái: “rượu ngon, không có bạn hiền: không ngon” (Tản đà)

Những cử chỉ theo nghi thức, những lời ca tiếng hát của cộng đoàn giúp tạo nên bầu khí thuận tiện đó. Các đấng thánh và vĩ nhân có thể không cần như vậy họ cũng đã vươn tâm hồn lên hiệp nhất với Thuợng đế rồi, còn phần chúng ta cần phải có những khung cảnh thích hợp và bầu khí thuận tiện. Lẽ dĩ nhiên ít người muốn ra giữa chợ giữa đàng mà tâm sự nói chuyện hoặc ăn uống tiệc tùng.

Tới đền thờ nhà chùa thờ phượng và cầu nguyện còn chứng tỏ tinh thần liên đới giữa những tín đồ với nhau, giữa những người con của Chúa trong cùng một đại gia đình Hội Thánh. Có thể ví giờ đó như giờ gia đình quây quần ăn cơm chung với nhau để vừa ăn vừa tâm sự nói chuyện nầy nọ một cách đơn sơ tự nhiên.

Niềm tin đức tin là toàn bộ một con người với linh hồn tín thác cuộc đời và tương lai nơi Thượng đế, tâm trí công nhận những lời Ngài chỉ dẫn dạy bảo, thể xác sống theo công bình bác ái, điều độ an hòa.

Theo quan niệm và lối sống toàn bộ tổng hợp, chúng ta sẽ cảm thấy vô lý khi có người mang mặc cảm tội lỗi chỉ vì đi lễ hụt hoặc bỏ lễ ngày chủ nhật. Sự kiện là có người đi lễ hụt hoặc bỏ lễ, nhưng chúng ta phải tìm hiểu lý do hoàn cảnh tại sao họ đi lễ hụt: có phải vì lười biếng hoặc chán chường không muốn đi? hoặc vì không có phương tiện di chuyển, không biết giờ giấc, hoặc bỏ lễ vì đau yếu hoặc có con thơ? Mỗi hành động phải được nhận định theo toàn bộ của đời sống con người.

4. 9 Khẩu tụng tâm suy (miệng đọc lòng trí suy niệm)

Nhiều tín đồ hay nói tới một tội hoặc đúng hơn là một thắc mắc mà đa số không biết phải làm sao khử trừ, đó là khi đọc kinh cầu nguyện, họ dễ bị chia trí lo ra khi ít khi nhiều khi nào cũng có. Nếu thực sự có ai bị chia trí lo ra khi ít khi nhiều khi nào cũng có, thì đây ắt hẳn phải là một sự thường tình chẳng đáng quan tâm và chẳng có tội lỗi gì. Nhưng cũng nên nhận định quan sát xem tại sao mình hay chia trí lo ra như vậy, và có thể làm gì để tạo nên môi trường thích hợp hơn, hoàn cảnh thuận tiện hơn cho việc hiệp thông với Thượng đế và hiệp nhất với cộng đoàn. Nếu cầu nguyện ở giữa đường giữa chợ, đọc kinh trong khi mở radio, coi tivi video, trong khi vừa lau bàn lau ghế, đan áo thêu may thì chia trí lo ra là chuyện tất nhiên. Do đó nếu muốn tránh chia trí lo ra, thì phải tránh các dịp đã đưa đến chia trí lo ra, như đã hứa trong Kinh Ăn năn tội ‘con dốc lòng chừa cải và nhờ ơn Chúa thì con sẽ tránh xa dịp tội cùng làm việc đền tội cho xứng’.

4. 10 Đạo buồn, đạo chán

Dù sống vào thời nào, trong xã hội nào, thuộc văn hóa nào, chúng ta cũng nghe thấy và nhìn thấy giới trẻ phàn nàn rằng đạo buồn tẻ quá, đi lễ đi khấn vái chán quá. Một số phụ huynh đưa con em từ nhỏ tới nhà thờ nhà thánh với hy vọng để chúng làm quen với việc thờ phượng và kinh kệ, thì lại nhận định một hậu quả trái ngược là khi lớn lên, chúng lơ là coi thường việc đạo nghĩa. Thậm chí nếu khi lấy vợ lấy chồng hoặc khi sinh con cái, nếu có đưa nhau tới nhà thờ thì hình như vì lễ nghi đẹp mắt, hoặc vì muốn làm đẹp lòng gia đình hơn là niềm tin thực sự.

Một số phụ huynh lại tìm cách đổ thừa cho giáo sĩ và giáo chức, nghĩ rằng giáo sĩ không biết cách tổ chức điều động, thiếu tận tâm hy sinh, và cho rằng giáo chức không biết sư phạm giảng dạy, không tha thiết huấn luyện. Tìm cách chạy tội và đổ lỗi quanh như thế này thực sự chẳng giúp ích gì cho ai cả, vì như vậy là chính cha mẹ đã làm gương xấu cho con cái, coi thường quyền bính và uy tín của những người lãnh đạo cộng đoàn, những người hướng dẫn con em mình. Giải pháp tổng hợp thỏa đáng hơn cả là chính phụ huynh hãy hợp tác với giáo sĩ và giáo chức để hy vọng đáp ứng nhu cầu tinh thần thiêng liêng đồng thời mở mang trí tuệ của con em, cũng như phụ huynh đã phải cố gắng cộng tác với y tá bác sĩ để chăm nom săn sóc dưỡng nuôi thể xác con em mình cho lớn lên và khoẻ mạnh, khỏi bệnh tật yếu đau.

Một thí dụ dễ hiểu trong vấn đề dinh dưỡng thể xác: khi trẻ em không muốn ăn những chất bổ dưỡng mà chỉ thích ăn kẹo, đòi uống nước đá, ham ăn đồ ngọt, phụ huynh cương nghị có tư cách làm cha mẹ không phải lúc nào cũng chiều theo ý riêng con cái để rồi mai mốt tốn tiền sửa răng hoặc đi bệnh viện cấp cứu vì ngộ độc hoặc bọi thực. Có khi phụ huynh cũng phải tìm đủ cách khuyên con cái ăn món này món nọ cho đầy đủ chất dinh dưỡng, hoặc ra điều kiện phải ăn món này mới được đụng tới món khác. Khi con cái đau yếu phải uống thuốc, chích thuốc, mổ xẻ, đây là lúc áp dụng đúng câu “thuốc đắng đã tật, lời thật mất lòng”. Vấn đề học vấn cũng thế: không phải con cái muốn học bộ môn nào cũng được, nhưng phải theo khuôn phép của học đường có môn bắt buộc có môn nhiệm ý để tạo nên con người quân bình trong văn hóa giáo dục. Như vậy trong lãnh vực tôn giáo và luân lý đạo đức cũng phải có kỷ luật và khuôn phép, chứ không thể để hoàn toàn tự ý mỗi con em như người ta thường nói: “để rồi mai mốt nó lớn lên, nó muốn quyết định theo đạo hay không là tùy ý nó”. Việt nam đã có câu “bé không vin, cả gẫy cành”. Chiều con khi con đòi gì được nấy, thì khác với yêu con vì cha mẹ chỉ muốn điều hay điều tốt cho con, cho dù con làm reo không muốn hoặc tỏ ra giận dỗi không đồng ý.

Một điểm nữa đáng chú ý là đa số các kinh điển lời cầu nguyện bài đọc là dành cho người lớn, nên trẻ em khó có thể theo dõi được. Những kinh điển đó cần phải được cha mẹ giáo sĩ giải thích sao cho thích hợp với từng lứa tuổi từng trình độ. Ở đây chúng ta nên công khai hoan hô tinh thần và sáng kiến của nhiều Giáo hội Tin lành đã thật tài tình thích ứng giờ thờ phượng, giờ học hỏi cho con em: các em cần những gì linh hoạt sống động, chứ không phải chỉ ngồi nghe tai này qua tai khác. Mong sao các Giáo hội khác cũng biết thích ứng như vậy chứ đừng quá câu nệ vào một vài truyền thống cổ điển đã lỗi thời hoặc không thích hợp với trình độ hấp thụ và lĩnh hội của trẻ em.

Nhu cầu thể xác cũng như nhu cầu tâm trí và linh hồn phải phát triển và tăng trưởng tùy theo lứa tuổi cũng như tâm tính của mỗi người mỗi nơi mỗi thời mỗi khác. Đức tin như của ăn của uống thiêng liêng, phải được dọn sao cho hợp khẩu vị mỗi người mới hy vọng nuôi sống con người với thể xác, tâm trí và linh hồn.

Hãy nhìn vào thành phần những giáo dân tham dự Thánh lễ Công giáo mỗi chủ nhật để thấy rằng bạn trẻ đi không bao nhiêu, và có đi thì cũng ít tham dự một cách tích cực. Tuổi trẻ sẵn sàng hy sinh dấn thân nếu như công việc họ làm có ý nghĩa và giúp họ phát triển thăng tiến. Hãy hỏi các bạn trẻ xem lý do nào đã khiến họ ở nhà hoặc đi tới các giáo phái khác, và có lẽ bạn sẽ ngạc nhiên vì những câu trả lời bắt bạn phải suy nghĩ và ưu tư để tìm phương pháp hành động.

Đạo của Chúa thực sự phải là một đạo đem lại sức sống, niềm an vui, nguồn hạnh phúc, chứ không thể nào là một đạo buồn đạo chán được.

Suy nghĩ và thảo luận

1 Bạn nghĩ sao về tư tưởng này: Thượng đế yêu thương nhân loại, nên dù có phạt cũng chỉ ít lâu rồi cho lên thiên đàng. Do đó hỏa ngục là do giáo sĩ bịa đặt ra bắt tín đồ vâng phục tối tăm mặt mũi mà thôi?
2 Phải chăng tôn giáo nào cũng đặt nền tảng vào mặc cảm tội lỗi hơn là tình yêu thương và lòng từ ái?
3. Có nên tách biệt hay nên kết hợp thần quyền và thếquyền?

Thực tập

1 Bạn sợ tội gì nhất? Tại sao vậy?
2 Đối với tôn giáo bạn đang tin theo, bạn có
a) sẵn sàng chết vì đạo được không?
b) ủng hộ nhân tài vật lực đủ sức mình, như đóng góp 10%, xung phong làm công tác chung, tham gia hội đoàn không?
c) thờ ơ lãnh đạo để kệ ai làm gì thì làm chăng?
d) hay phê bình chỉ trích vì giáo sĩ thiếu khả năng, cộng đoàn chia rẽ bè phái không?

Linh mục Anthony Vũ Hùng Tôn & Hà Hoàng Tâm

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Trong cuốn văn phạm của mình, Arte da lingoa de Iapam (Ngữ pháp tiếng Nhật), ấn hành tại Trường Kỳ (Nagasaki) năm 1604, linh mục Bồ Đào Nha dòng Tên João Rodrigues khẳng định: “Muốn viết ngôn ngữ này bằng mẫu tự của chúng ta, chúng ta chủ yếu phải sử dụng cách viết La Tinh và Bồ Đào Nha,/ 28 Tháng Năm 2012 (Xem: 2556) Roland Jacques, Canada - GS Đoàn Xuân Kiên chuyển ngữ
Ngoài tên họ, tên đệm, tên riêng, người Công Giáo Việt Nam còn có thêm một tên thánh được đặt khi chịu phép rửa tội. Trong khi đó, người Công Giáo Âu Mỹ không có hẳn một tên thánh. Bài viết này nhằm mục đích tìm hiểu sự khác biệt giữa tên thánh của người Công Giáo Tây Phương và Đông Phương ?/07 Tháng Sáu 2012(Xem: 4032)/
Câu nói của đại văn hào Thánh Augustinô là âm vang phổ quát nhất đi lọt vào tất cả các nền văn hóa cổ kim, đông cũng như tây, trong tất cả các chiều kích của cuộc sống con người. Thật thế tôn giáo là gì nếu không phải vì yêu thương mà con người được tạo dựng.../07 Tháng Sáu 2012(Xem: 4093) Nguyễn Đăng Trúc - VanchuongViet/
Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng sinh năm 1259. Năm 1285 khi quân Nguyên Mông sang xâm lược nước ta, mới 26 tuổi, “Trần Bình Trọng được Hưng Đạo Vương và Lưỡng cung giao cho một nhiệm vụ nặng nề: giữ vùng Đà Mạc – Thiên Mạc, ngăn chặn và cầm chân quân Nguyên, đảm bảo cho bộ chỉ huy quân kháng chiến rút lui an toàn và bí mật, không để lại dấu vết” (Wikipedia). Đại Việt Sử Kí Toàn Thư (ĐVSKTT [1]) chép rằng, “Khi bị bắt, Vương không chịu ăn, giặc hỏi việc nước, Vương không trả lời, giặc hỏi Vương: “Có muốn làm vương đất bắc không?”. Vương thét to: “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất bắc”, rồi bị giết”. Sự kiện bi hùng này người Việt có lẽ ai ai cũng biết. Nhưng ít ai nhấn mạnh rằng, ông thực hiện công trạng vĩ đại đời đời lưu truyền này khi ông mới 26 tuổi! Quả thực, ngày nay, cứ thử gõ Trần Bình Trọng vào Google mà xem, sẽ hiện ra hình một ông lão tầm 50 tuổi gầy gò hom hem.
Thoạt đầu, việc ký âm tiếng Việt của mấy nhà truyền giáo Dòng Tên là để cho chính các ngài học tiếng Việt, và cũng giúp những thừa sai đến sau dễ dàng hơn trong việc học tiếng ấy, một thứ tiếng chẳng có chút dây mơ rễ má gì với tiếng Hy Lạp, Latinh, Ý, Bồ Đào Nha, Pháp, Đức… Thực ra đây là một cách bắt chước các nhà truyền giáo Dòng Tên Tây phương ở Nhật Bản. Vì đầu thế kỷ 17, họ cũng đã đưa ra một lối chữ viết mới với mẫu tự abc qua hai cuốn ngữ vựng và ngữ pháp Nhật. Tiếp đến, các ngài muốn sáng tạo một thứ chữ mới, có lẽ lúc đầu chỉ coi nó là phương tiện trong cuộc giới thiệu Tin Mừng với con người Việt, mà chính cha Đắc Lộ đã nhắc tới trong phần đầu cuốn từ điển của cha: “giúp các nhà truyền giáo học tiếng Việt” và “làm theo ý muốn của một số vị Hồng y ở La Mã là thêm chữ Latinh vào để người Việt có thể học thêm La ngữ.”
Người viết báo phải quan niệm mình làm nghề không phải là để chơi hay để kiếm tiền, nhưng phải quan niệm mình là những người thừa kế của cách mạng tư sản, mở đầu là cách mạng tư sản Pháp, say sưa với tự do, trung thành với lý tưởng, chống áp bức, chuộng tiến bộ mà quyền lợi tinh thần của con người đã ủy thác nơi báo chí.. (Lời Nguyễn Văn Vĩnh, theo Vũ Bằng kể lại trong hồi ký “40 năm nói láo.”) /post 31 Tháng Năm 2012(Xem: 2776)/
Sau khi tranh luận lâu như vậy, văn kiện được chép lại và đặt lên bàn của Chủ tịch, mỗi đại biểu Quốc hội bước lên phía trước ký tên, không khí nặng nề đến nghẹt thở. Vào thời điểm đó, những chữ ký này có nghĩa là - tất cả mọi người trong danh sách đều có chung nguy cơ bị Vua nước Anh treo cổ. Bản Tuyên ngôn Độc lập, là một văn kiện lập quốc quan trọng nhất của Hoa Kỳ, được trình bày trước Quốc hội Lục địa Hoa kỳ bởi Ủy ban Năm Nghị sĩ. Khi ấy, Quốc hội Lục địa đã chỉ định một ủy ban để soạn thảo ra Bản Tuyên ngôn Độc Lập, sử gọi là Ủy ban Năm Nghị sĩ. Ủy ban này gồm: Thomas Jefferson, John Adams, Benjamin Franklin, Roger Sherman và Robert Livingston, hoạt động từ ngày 11 tháng 6 năm 1776 cho đến ngày 5 Tháng 7 năm 1776, ngày mà Tuyên ngôn Độc lập được xuất bản.
Ngọc Mai | DKN....Lương Thế Vinh sinh ngày 1 tháng 8 năm Tân Dậu (tức ngày 17/8/1441) tại làng Cao Hương, huyện Thiên Bản, Trấn Sơn Nam (nay thuộc Vụ Bản, Nam Định). Ông vẫn được người đời gọi là “Trạng Lường”, lý do là vì từ nhỏ ông đã rất giỏi đo lường, tính toán. Chưa đầy 20 tuổi, tài học của ông đã nổi tiếng khắp vùng Sơn Nam. Năm 1463, Lương Thế Vinh đỗ trạng nguyên khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận thứ 4, đời Lê Thánh Tông.
Hoàn toàn vô ích khi hy vọng rằng cách mạng có thể cải tạo bản chất con người, tuy nhiên đó là điều mà cuộc cách mạng của quý vị, và đặc biệt cuộc cách mạng Nga của chúng tôi đã hy vọng rất nhiều. Cách mạng Pháp khai màn dưới lá cờ của khẩu hiệu mà tự mâu thuẫn và bất khả thi, “tự do, bình đẳng, bác ái”. Nhưng trong cuộc sống xã hội, tự do và bình đẳng là những khái niệm không dung hòa nhau, thậm chí còn chống đối nhau. Tự do tiêu diệt bình đẳng xã hội vì đó là bản chất của tự do. Còn bình đẳng cản trở tự do-vì nếu không như thế không thể nào có bình đẳng
Đền thờ thần núi Đồng Cổ (Yên Định - Thanh Hoá). Ảnh tư liệu HTC LÀM GÌ CÓ “THẦN TRỐNG ĐỒNG”? Hoàng Tuấn Công Sách “Di tích núi và đền Đồng Cổ” (Lê Ngọc Tạo - Nguyễn Ngọc Khiếu” - NXB Thanh Hoá - 2016) là kết quả đề tài khoa học “Sưu tầm, khảo sát và phục dựng nghi lễ của Đền Đồng Cổ”, của Ban Nghiên cứu và Biên soạn Lịch sử Thanh Hoá, do Tiến sĩ Lê Ngọc Tạo chủ trì, cử nhân Nguyễn Ngọc Khiếu thực hiện (sau đây gọi tắt là Nhóm Lê Ngọc Tạo). Sách báo viết về đền Đồng Cổ thì nhiều, nhưng có lẽ “Di tích núi và đền Đồng Cổ” là công trình chuyên khảo công phu nhất từ trước đến nay về ngôi đền này. Sách có hai phần: “I. Núi Đồng Cổ-Tam Thai và vùng thắng tích Đan Nê”, công bố kết quả sưu tầm trên thực địa và khai quật khảo cổ học; phần “II. Đền Đồng Cổ-Di tích và lễ hội”, công bố thần tích, tư liệu, trải qua các thời kỳ Trần - Hồ (1225 – 1407); Hậu Lê (1428 - 1788)
Bảo Trợ