Thánh Thể

01 Tháng Sáu 20122:00 CH(Xem: 7479)

Các cuộc tấn công của Tin lành nhắm vào Giáo hội Công giáo thường tập trung vào Bí tích Thánh Thể. Điều này chứng tỏ rằng các đối thủ của Giáo hội Công giáo – chủ yếu là phái Tân giáo (Evangelical) và phái Tin lành chính thống (Fundamentalist) – nhận thấy một trong các giáo lý chủ yếu của Công giáo. Vả lại, các cuộc tấn công cho thấy rằng phái Fundamentalist không luôn luôn là những người giải thích Kinh thánh theo nghĩa đen (literalists). Điều này có trong bản dịch của đoạn Kinh thánh chính, chương 6, Tin Mừng theo Thánh Gioan, trong đó Chúa Giêsu nói về bí tích sẽ được thiết lập trong Bữa Tiệc Ly, khảo sát nửa cuối của chương này.

blank

Ga 6:30 bắt đầu một cuộc đàm đạo xảy ra tại hội đường Capernaum. Người Do Thái hỏi Chúa Giêsu về dấu hiệu có thể thấy để tin Ngài. Như một thách thức, họ nói: “Tổ tiên chúng tôi đã ăn manna trong sa mạc và đã chết”. Chúa Giêsu nói với họ rằng bánh thật từ trời đến từ Chúa Cha. Họ nói: “Xin cho chúng tôi bánh đó”. Chúa Giêsu trả lời: “Tôi là bánh hằng sống, ai đến với Tôi sẽ không bao giờ đói, và ai tin Tôi sẽ không bao giờ khát”. Về điểm này, người Do Thái hiểu Ngài nói ẩn dụ.


Lặp đi lặp lại

Trước tiên Chúa Giêsu lặp lại điều Ngài đã nói, rồi tóm lại: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống. Người Do-thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?” (Ga 6:512–52).

Những người lắng nghe Ngài sửng sốt vì họ hiểu Chúa Giêsu theo nghĩa đen – và đúng. Ngài lặp lại các chữ đó, nhưng với mức nhấn mạnh hơn, và giới thiệu về việc uống Máu Ngài: “Đức Giêsu nói với họ: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn Thịt và uống Máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn Thịt và uống Máu Tôi, thì được sống muôn đời, và Tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì Thịt Tôi thật là của ăn, và Máu Tôi thật là của uống. Ai ăn Thịt và uống Máu Tôi, thì ở lại trong Tôi, và Tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6:532–56).

Không chấn chỉnh

Lưu ý rằng Chúa Giêsu không cố gắng làm nhẹ những điều Ngài đã nói, cũng không sửa sai “những sự hiểu lầm”, vì chẳng có gì cả. Những người lắng nghe Chúa đều hiểu đúng về Ngài. Họ không nghĩ Ngài nói ẩn dụ. Nếu có, và nếu bị hiểu sai, sao lại không có chấn chỉnh?

Khi có sự hiểu lầm, Chúa Giêsu chỉ giải thích ý Ngài nói (x. Mt 16:52–12). Ở đây, khi có hiểu lầm nghiêm trọng, Chúa Giêsu không hề cố gắng sửa sai, mà Ngài chỉ lặp lại để nhấn mạnh.

Thậm chí ngay cả các môn đệ cũng chau mày: “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?” (Ga 6:60). Các môn đệ là những người đã từng thấy Sư Phụ làm nhiều điều kỳ diệu mà còn vậy đó. Ngài cảnh báo họ đừng nghĩ theo bản tính xác thịt, mà phải nghĩ theo tâm linh: “Thần Khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống” (Ga 6:63; x. 1 Cr 2:12–14).

Ngài biết rõ một số người không tin. Khi khước từ Thánh Thể, Giuđa đã sa ngã (x. Ga 6:64). Thánh Gioan cho biết: “Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa” (Ga 6:66).

Đây là hồ sơ duy nhất chúng ta có về những người theo Chúa Giêsu đã bỏ Ngài vì những lý do giáo lý. Nếu điều đó gây hiểu lầm, và nếu sai lầm trong việc dùng ẩn dụ theo nghĩa đen, tại sao Ngài không gọi họ lại và nói thẳng vấn đề? Cả những người Do Thái nghi ngờ Ngài và các môn đệ chấp nhận mọi thứ theo điểm này vẫn ở với Ngài, nhưng Ngài nói Ngài chỉ dùng dụ ngôn.

Ngài không sửa sai những người chống đối. 12 lần Ngài nói Ngài là bánh từ trời xuống, 4 lần Ngài nói người ta “ăn Thịt Ngài và uống Máu Ngài”. Tin Mừng theo Thánh Gioan, chương 6, là lời hứa về những gì được thiết lập trong Bữa Tiệc Ly – và đó là lời hứa không thể minh nhiên hơn nữa. Đối với người Công giáo cũng vậy. Nhưng giáo phái Fundamentalist nói gì?

Chỉ là ẩn dụ hoặc văn hoa?

Họ nói rằng trong Ga 6, Chúa Giêsu không nói về ẩm thực vật chất mà nói về ẩm thực tâm linh. Họ viện chứng Ga 6:35: “Đức Giêsu bảo họ: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với Tôi, không hề phải đói; ai tin vào Tôi, chẳng khát bao giờ!”. Họ cho rằng Chúa Giêsu là bánh, là thức uống. Như vậy, ăn thịt và uống máu chỉ là tin vào Đức Kitô.

Nhưng có vấn đề trong cách hiểu đó. LM John A. O’Brien giải thích: “Câu nói ‘ăn thịt và uống máu’ được dùng theo nghĩa bóng trong những người Do Thái, cũng như trong người Ả Rập ngày nay, nghĩa là bắt một người phải chịu tổn thương nghiêm trọng, nhất là bằng cách vu khống hoặc kết án oan sai. Hiểu câu này theo nghĩa bóng sẽ khiến Chúa hứa sự sống vĩnh hằng đối với thủ phạm đã vu cáo Ngài và ghét Ngài, làm giảm cả đoạn văn tới mức vô nghĩa” (O’Brien, The Faith of Millions, 215).

Những người theo giáo phái Fundamentalist phê bình đoạn Ga 6 rằng người ta có thể chứng tỏ Đức Kitô nchỉ nói ẩn dụ bằng cách so sánh các câu như “Tôi là Cửa” (Ga 10:9), và “Tôi là Cây Nho thật” (Ga 15:1). Vấn đề là không có liên quan gì tới “Tôi là Bánh Hằng Sống” (Ga 6:35). “Tôi là Cửa” và “Tôi là cây nho thật” mang ý nghĩa ẩn dụ vì Đức Kitô như Cửa – chúng ta lên trời qua Ngài, và Ngài cũng như Cây Nho – chúng ta tiếp nhận “nhựa tâm linh” nhờ Ngài. Nhưng Chúa Giêsu trong Ga 6:35 còn vượt xa ngoài biểu tượng bằng cách nói: “Thịt Tôi thật là của ăn, Máu Tôi thật là của uống” (Ga 6:55). 

Ngài nói tiếp: “Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy” (Ga 6:57). Trong tiếng Hy Lạp, động từ “ăn” (trogon) rất thẳng thừng và có nghĩa là “nhai” hoặc “gặm nhấm”. Đây không là ngôn ngữ ẩn dụ.

Tranh luận

Đối với giáo phái Fundamentalist, việc tranh luận Kinh thánh bị chụp mũ bằng cách phản đối Ga 6:63: “Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống”. Họ nói điều này có nghĩa là việc ăn thịt thật thì vô lý. Nhưng điều này có ý nghĩa không?

Chúng ta có hiểu Đức Kitô đã yêu cầu các môn đệ ăn Thịt Ngài, rồi nói họ làm vậy là vu vơ? “Thịt không có lợi” nghĩa là gì? “Ăn thịt tôi, nhưng bạn sẽ thấy đó là lãng phí thời gian” – Ngài nói gì? Hầu như không.

Sự thật là Thịt Chúa Giêsu có sẵn! Nếu không có sẵn, Con Thiên Chúa nhập thể là vô lý, sự chết và sự phục sinh của Ngài cũng vô ích. Thịt Chúa Giêsu đem lại lợi ích cho chúng ta hơn bất cứ thứ gì khác trên thế gian này. Nếu Thịt Ngài không đem lại lợi ích cho chúng ta, việc giáng sinh, tử nạn và phục sinh của Đức Kitô là vô ích, như Thánh Phaolô nói: “Lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em. Hơn nữa, cả những người đã an nghỉ trong Đức Kitô cũng bị tiêu vong” (1 Cr 15:17b–18).

Trong Ga 6:63, “thịt không đem lại lợi ích” nói đến khuynh hướng của nhân loại nghĩ là chỉ dùng những gì theo lý lẽ của loài người sẽ cho họ hiểu hơn những gì Thiên Chúa nói với họ. Như vậy trong Ga 8:15–16, Chúa Giêsu nói về các đối thủ của Ngài: “Các ông xét đoán theo kiểu người phàm; phần tôi, tôi không xét đoán ai cả. Mà nếu tôi có xét đoán, thì sự xét đoán của tôi vẫn đúng sự thật, vì không phải chỉ có mình tôi, nhưng có tôi và Đấng đã sai tôi”. Phán đoán tự nhiên của con người, không được ơn Chúa giúp đỡ, là không đáng tin; nhưng phán đoán của Thiên Chúa luôn xác thực.

Các tông đồ có hiểu “những lời Thầy đã nói với anh em là Thần Khí và Sự Sống” hay là một “uẩn khúc” (circumlocution) về tính biểu tượng? Không ai có thể hiểu nếu không đứng ở vị trí của giáo phái Fundamentalist và nghĩ điều đó cần thiết để tìm ra một cơ sở hợp lý (rationale), dù bị ép buộc thế nào, để ngăn chặn cách hiểu của Công giáo. Trong Ga 6:63, “nhục thể” không có ý nói đến xác thịt của Đức Kitô – bản văn làm rõ điều này – nhưng loài người lại có khuynh hướng nghĩ theo bản chất phàm tục tự nhiên. “Những lời Thầy đã nói với anh em là Thần Khí và Sự Sống” không có nghĩa là “Điều Thầy nói mang tính biểu tượng”. Chữ “thần khí” KHÔNG BAO GIỜ được dùng theo cách đó trong Kinh thánh. Câu này nghĩa là điều Đức Kitô nói sẽ chỉ hiểu được nhờ đức tin, bằng sức mạnh của Chúa Thánh Thần và sự thu hút của Chúa Cha (x. Ga 6:37, 44-45, 65).

Thánh Phaolô xác nhận

Thánh Phaolô viết trong thư gởi giáo đoàn Corintô: “Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào Máu Đức Kitô ư? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao?” (1 Cr 10:16). Vậy khi chúng ta rước lễ, chúng ta thực sự tham dự vào Mình và Máu Đức Kitô, không chỉ ăn và uống biểu tượng của Mình và Máu Chúa. Thánh Phaolô đã xác định: “Vì thế, bất cứ ai ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng, thì cũng phạm đến Mình và Máu Chúa. Thật vậy, ai ăn và uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa, là ăn và uống án phạt mình” (1 Cr 11:27 & 29). Trả lời về “mình và máu” của ai đó nghĩa là phạm trọng tội như tội giết thân nhân. Sao chỉ ăn bánh và uống rượu “bất xứng” là trọng tội? Phê bình của Thánh Phaolô tạo ý nghĩa nếu bánh và rượu thực sự trở thành Mình và Máu Đức Kitô.

Các Kitô hữu đầu tiên nói gì?

Những người chống Công giáo cũng cho rằng Giáo hội sơ khai đã coi chương này chỉ mang tính biểu tượng. Thật vậy sao? Chúng ta hãy xem một số Kitô hữu đầu tiên nghĩ gì, nhớ rằng chúng ta có thể biết nhiều về cách Kinh thánh được hiểu bằng cách xem xét các bản văn của các Kitô hữu thời sơ khai.

Thánh Inhaxiô thành Antiôkia là môn đệ của tông đồ Gioan và đã viết thư cho người Smyrnaean vào khoảng năm 110 (trước Công nguyên), nói đến “những người có ý kiến không chính thống”, rằng “họ không lãnh nhận Thánh Thể và không cầu nguyện, vì họ không tin Thánh Thể là Mình Máu của Đấng cứu độ Giêsu Kitô, Thánh Thể Ngài đã chịu khổ nạn vì tội lỗi chúng ta, và Ngài đã phục sinh”.

Bốn mươi năm sau, Thánh Justin Tử đạo viết: “Không như ẩm thực bình thường chúng ta tiếp nhận, mà vì Đức Giêsu Kitô đã nhập thể bở Lời Thiên Chúa và có cả máu và thịt để cứu độ chúng ta, như chúng ta được dạy, thực phẩm này đã trở thành Thánh Thể nhờ Lời Nguyện Thánh Thể, và sự thay đổi của máu thịt để nuôi dưỡng,… Đó là Mình và Máu của Chúa Giêsu nhập thể” (Lời Xin Lỗi Đầu Tiên 66:1–20).

Origen, trong một bài giảng khoảng năm 244 (trước Công nguyên), đã chứng thực niềm tin trong bài “Hiện Hữu Thật” (Real Presence): “Tôi muốn khuyên bạn bằng các ví dụ của tôn giáo. Người ta quen tham dự các mầu nhiệm thánh, vậy bạn hiểu thế nào rồi, khi bạn lãnh nhận Mình Máu Chúa, bạn phải cẩn trọng đừng để rơi một phần nhỏ nào của Thánh Thể. Bạn tự thấy mình có tội, và tin đúng như vậy, nếu khinh suất làm mất một chút Thánh Thể nào”(Bài Giảng về Xh 13:3).

Thánh Cyril thành Giêrusalem, trong một bài giảng giữa thập niên 300, nói: “Đừng coi bánh và rượu chỉ đơn giản như thế, vì đó là Mình Máu Đức Kitô, theo cách giải thích của Thầy Chí Thánh. Cho dù thế nào thì cũng hãy để đức tin xác nhận. Đừng phán đoán theo bản tính phàm tục, hãy tin tưởng bằng đức tin, đừng nghi ngờ Mình Máu Đức Kitô” (Diễn Văn Giáo Lý: Truyền Phép 4:22:9). Thật vậy, Giáo hội dạy: “Đây là mầu nhiệm đức tin”.

Trong bài giảng hồi thế kỷ XV, Thánh Theodore thành Mopsuestia như muốn nói với giáo phái Evangelical và Fundamentalist ngày nay: “Khi [Đức Kitô] trao bánh, Ngài không nói ‘Đây là biểu tượng của Mình Thầy’ mà Ngài nói ‘Đây là Mình Thầy’. Cũng vậy, khi Ngài trao chén, Ngài không nói ‘Đây là biểu tượng của Máu Thầy’ mà Ngài nói ‘Đây là Mình Thầy’ vì Ngài muốn chúng ta liếp nhận Thánh Thể, sau khi nhận hồng ân và Thánh Thần, không theo bản tính tự nhiên, nhưng tiếp nhận chính Mình Máu Chúa” (Bài Giảng Giáo Lý 5:1).

Chứng cớ đồng nhất

Người ta có thể cho rằng Giáo hội sơ khai đã hiểu Ga 6 theo nghĩa đen. Thật vậy, không có tài liệu nào từ những thế kỷ đầu nói đến các Kitô hữu nghi ngờ cách hiểu của Công giáo. Không có tài liệu nào được hiểu theo nghĩa đen bị phản đối và chỉ được chấp nhận theo ẩn dụ.

Tại sao giáo phái Fundamentalist và Evangelical phản đối cách hiểu thẳng thừng theo nghĩa đen về Ga 6? Đối với họ, các bí tích Công giáo là sai lầm vì họ hàm ý một thực tế tâm linh (ân sủng) được chuyển tải bằng vật chất. Đối với họ, điều này có vẻ là vi phạm kế hoạch của Thiên Chúa. Đối với nhiều người Tin Lành, vật chất không phải không được sử dụng, mà nên tránh.

Bánh và rượu đã được thánh hóa để trở thành Mình và máu của Đức Giêsu Kitô Nhập Thể.

 

Trầm Thiên Thu (Chuyển ngữ từ Catholic.com)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Tiếp tục loạt bài giáo lý về cầu nguyện, trong buổi tiếp kiến chung trực tuyến vào sáng thứ Tư 05/05, Đức Thánh Cha Phanxicô đã trình bày về đề tài chiêm niệm. Theo ngài, không có đối nghịch giữa cầu nguyện và hành động. Trong Tin mừng chỉ có một tiếng gọi duy nhất, đó là theo Chúa trên con đường tình yêu. Bác ái và chiêm niệm đồng nghĩa với nhau. Hồng Thủy - Vatican News
Trong buổi tiếp kiến chung trực tuyến sáng ngày 14/4/2021, tiếp tục bài giáo lý về việc cầu nguyện của người Kitô hữu, Đức Thánh Cha Phanxicô giải thích rằng lời cầu nguyện thuộc về chính bản chất của Giáo hội;nếu thiếu cầu nguyện thì Giáo hội không thể thực hiện sứ mệnh truyền giáo và phục vụ người khác. Hồng Thủy - Vatican News Trong bài giáo lý tại buổi tiếp kiến chung trực tuyến sáng thứ Tư 14/04 Đức Thánh Cha suy tư về vai trò của Giáo hội như trường học tuyệt vời của việc cầu nguyện. Bắt đầu từ cha mẹ chúng ta, những người dạy chúng ta cầu nguyện, gieo vào tâm hồn chúng ta hạt giống được chín mùi qua đời sống của Ki-tô hữu. Bên cạnh đó, gương sáng của những tín hữu sống đức tin, việc tham dự vào đời sống của giáo xứ và Thánh lễ, giúp chúng ta không chỉ phát triển đời sống cầu nguyện ở mức độ cá nhân nhưng còn được đón nhận di sản cầu nguyện và tu đức phong phú của Giáo hội.
Chợt Ngài bỗng kêu lên một tiếng lớn rồi tắt thở! Thân xác Ngài rũ xuống, thập giá rung lên nhè nhẹ! Chiều đang dần tàn, cảnh hoàng hôn thật thê lương trong ráng chiều màu tím thẫm ảm đạm! Post 30 Tháng Ba 2013(Xem: 3284)/10 Tháng Tư 202011:00 SA(Xem: 4361)
Chúa Nhật 24 tháng Giêng, Giáo Hội cử hành Chúa Nhật thứ Ba mùa Quanh Năm với chủ đề “Anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm”. Tin Mừng theo Thánh Máccô thuật lại cho chúng ta biết hoàn cảnh Chúa kêu gọi các tông đồ đầu tiên như sau: Sau khi Gioan bị bắt, Chúa Giêsu sang xứ Galilêa, rao giảng Tin Mừng nước Thiên Chúa, Người nói: “Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm”. Đang lúc đi dọc theo bờ biển Galilêa, Người thấy Simon và em là Anrê đang thả lưới xuống biển, vì các ông là những người đánh cá. Chúa Giêsu bảo các ông: “Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những kẻ chài lưới người”. Lập tức các ông bỏ lưới theo Người.
Ba Vua là ba khuôn mặt không thể thiếu vắng trong mùa Giáng Sinh. Nhắc đến Giáng Sinh là nhắc đến mục đồng thôn Bêlem và Ba Vua. Nhưng người Kitô hữu nói chung rất mù mờ về thân thế của Ba Vua. Nếu đặt câu hỏi, “Ba Vua tên gì?” nhiều tín hữu sẽ lúng túng và ngập ngừng trước câu hỏi vừa được nêu. I. Ba Vua Trong văn bản tiếng “phổ thông Hy Lạp,” theo như thánh sử Mátthêu, khi “Đức Giêsu sinh ra tại Bêlem, xứ Giuđê, trong đời vua Hêrôđê, mágòi (μάγoi) từ phương Đông tìm đến Giêrusalem. Các ông hỏi, — Vua người Do Thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhìn thấy ngôi sao của Người ở phương Đông, và chúng tôi đến để triều bái Người” (Mátthêu 2:1). Trong tiếng cổ Hy Lạp mágòi (μάγoi) không có nghĩa là vua. Mágòi là danh từ số nhiều của mágọs (μάγos), một danh từ giống đực. Mágói, theo như Raymond Brown, là một thuật ngữ bao gồm nhiều nghĩa: chiêm tinh gia, giải mộng gia, phù thủy (pháp sư), và thầy tư tế của tôn giáo vùng Trung Đông.
Thiên Chúa đã phái các thiên thần đến báo cho những người chăn cừu biết một Đấng Cứu Thế đã được sinh ra: “Thiên thần Chúa bỗng hiện đến bên họ và vinh quang Chúa rạng ngời bao quanh họ, làm họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng thiên thần nói với họ: “Đừng sợ! Này ta đem tin mừng cho các ngươi về một niềm vui to tát, tức là niềm vui cho toàn dân: là hôm nay, đã sinh ra cho các ngươi vì Cứu Chúa, tức là Đức Kitô Chúa, trong thành của Đavit” (Lc 2,9-11). Hôm nay Ngài báo tin cho chúng ta Giáng sinh đã được một thế giới vô thần tục hóa đến nỗi ngày càng nhiều người cùng thời với chúng ta đã quên đi nguồn gốc của nó. Chắc chắn, khung cảnh Chúa giáng sinh cho họ một ý tưởng chung, nhưng họ không biết rằng trẻ nhỏ nằm trong máng cỏ đơn sơ này đã đến để mang lại cho họ tình yêu và niềm vui mà họ tìm kiếm trong vô vọng.
Lễ Giáng Sinh luôn rất lạ. Lạ đủ thứ. Lạ từ nội tại tới ngoại tại. Giáng Sinh tại Việt Nam chỉ se lạnh một chút, chẳng thấm gì so với cái lạnh của Hài Nhi Giêsu năm xưa, nhưng cũng là lời nhắc để chúng ta nhớ tới cái lạnh của những phận người cơ nhỡ, những kẻ cô đơn, nghèo khó, thiếu thốn những thứ cơ bản nhất,… Việt ngữ thật chí lý khi nói là giá lạnh hoặc lạnh giá, cái “giá” này mới “đáng giá,” chứ cái “lạnh” chưa thấm thía chi đâu. Điều đáng quan tâm là cái lạnh ngoại tại gợi nhớ tới cái lạnh tâm hồn, cái lạnh linh hồn, cái lạnh tâm linh. Cái lạnh này khủng khiếp, cái lạnh giá băng. Có nhiều kiểu lạnh.
Chuyện kể rằng: Có một người đàn bà giàu có đang hấp hối trên giường bệnh. Trong tờ chúc thư để lại, bà kể tên của tất cả mọi người thân thuộc và xa gần sẽ hưởng gia tài của bà. Tuyệt nhiên, bà không hề đá động đến cô gái nghèo và trung thành hầu hạ bà từng giây từng phút. Quà tặng duy nhất mà bà tặng cho cô đó là một thánh giá được bọc thạch cao. Cô gái nhận lấy món quà nhưng lòng cô đầy cay đắng buồn phiền. Cô tự nghĩ: mình đã trung thành phục vụ, hầu hạ sớm hôm để rồi chỉ được món quà không ra gì. Không còn đủ bình tĩnh để nuốt lấy từng giọt cay đắng, cô đã kéo thập giá xuống khỏi tường và ném tung trên nền nhà. Cây thập giá vỡ tung và kìa, trước sự ngạc nhiên của cô, tất cả những mảnh vụn thoát ra khỏi lớp vỏ thạch cao đều là những viên kim cương óng ánh...
“Thì giờ hay đời sống là món quà quý Đức Chúa Trời ban cho mỗi người chúng ta. Đời sống quý vì nó đến từ chính Chúa là Đấng Tạo Hóa.” Đời sống thật mong manh và ngắn ngủi. Con người sống đó rồi chết đó cũng mấy hồi. Bởi vậy, con người quy về Thiên Chúa là cội nguồn của sự sống và hạnh phúc. Tiền bạc quan trọng nhưng không là tất cả. Quyền lực, thú vui rồi cũng chỉ là cát bụi mà thôi. Vì thế, một nhạc sĩ đã từng cảm nhận: “Làm con người trong cuộc đời được bấy nhiêu năm. Ai vốn giàu sang, ai vốn kiếp bần hàn, ai giãi dầu một nắng hai sương, mai lìa đời nhắm mắt xuôi tay. Đua đòi nhiều chỉ khổ thêm thôi”. /post 19 Tháng Tám 2012(Xem: 7000) Tâm Thương - TgpSaigonnet/
Nếu vào một ngày nào đó tôi không còn sống nơi trần gian này nữa, thì những đứa trẻ vẫn lần lượt lớn lên, người thân người thương của tôi họ vẫn ăn, vẫn uống và làm việc theo lẽ sinh tồn, những ngôi nhà, con đường tôi quen thuộc bỗng chốc trở nên xa lạ, mặt trời vẫn giải nắng trên đồng cỏ xanh và cơn mưa vẫn tưới mát trên những thửa ruộng khô cằn… Không gian yên tĩnh ngày nào chẳng còn, khi người viếng, kẻ thăm, người khóc, kẻ cười,… tạo nên khung cảnh bi đát, chua xót và đau thương. Thân xác tôi vẫn nằm đó chẳng cử động hay nhúc nhích, chẳng thở than hay kêu gào mặc cho lũ ruồi muỗi đậu bay. Người ta thức cố thức tôi dậy sau giấc ngủ dài nhưng kết quả nhận được là sự thinh lặng chẳng một lời hồi âm phát ra. Tôi biết và tôi cố gồng mình ngồi dậy để an ủi những người thân đang ngồi than khóc, nhưng bàng hoàng chợt nhận ra tôi đã chết rồi!
Bảo Trợ