Nguyễn Văn Vĩnh: ‘Ông tổ của nghề báo’ Việt Nam

06 Tháng Mười Một 20202:00 CH(Xem: 2854)

“Ờ, báo là đệ tứ quyền, thật thế; nhưng là đệ tứ quyền ở các nước Âu Châu, chớ ở nước ta thì nói như thế làm gì, cho mắc cỡ...
portraitNguyenVanVinh_400

Nhà báo, học giả Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936).

Người viết báo phải quan niệm mình làm nghề không phải là để chơi hay để kiếm tiền, nhưng phải quan niệm mình là những người thừa kế của cách mạng tư sản, mở đầu là cách mạng tư sản Pháp, say sưa với tự do, trung thành với lý tưởng, chống áp bức, chuộng tiến bộ mà quyền lợi tinh thần của con người đã ủy thác nơi báo chí.. (Lời Nguyễn Văn Vĩnh, theo Vũ Bằng kể lại trong hồi ký “40 năm nói láo.”)



Tờ báo Việt ngữ đầu tiên ở Đông Dương xuất bản ở Sài Gòn (1) chứ không phải ở Hà Nội, tuy nhiên Nam Việt lúc ấy ở dưới quyền cai trị của một thống đốc Pháp, nên khi ông Nguyễn Văn Vĩnh (chủ bút sáng lập Đăng Cổ tùng báo, 1907), từ trần ngày 2 tháng 5, 1936, đám tang ông được tham dự đông đảo các đại diện làng báo của cả 3 kỳ Nam Trung Bắc, trọng thể và đông đảo, diễn hành trên đường phố dưới dòng chữ vinh danh “Ông tổ của nghề báo” Việt Nam.

Xem tiểu truyện nghề nghiệp và thân thế của ông, Nguyễn Văn Vĩnh xứng đáng được dương danh như thế, vì ngay từ nhỏ, cho tới khi vỡ nợ vì tờ Nhật báo Annam Nouveau (1931-1934), ông đã tự học nghề báo, tự ra báo lấy, và gây dựng nên những tờ báo còn được nhắc nhở mãi trong lịch sử báo chí Việt Nam, không ngừng là một người sáng lập và canh tân báo chí đất nước. Nguyễn Văn Vĩnh từng làm chủ bút “Đại Nam đăng cổ tùng báo” (Hà Nội, 1907) “Lục Tỉnh Tân văn” (Saigon, 1910), chủ trương tờ Notre Journal (1908-1909), xuất bản tờ Notre Revue (1910), chủ bút “Đông Dương Tạp Chí” (1913) và Trung Bắc Tân Văn (1915). Năm 1919, ông mua lại “Trung Bắc Tân Văn” của một người Pháp và biến nó thành nhật báo. (2)



Nguyễn Văn Vĩnh sinh ngày 15 tháng 6 năm 1882, tại Hà Nội nhưng quê ở phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông và qua đời vào ngày 2 tháng 5, năm 1936 nghe đâu trên một con thuyền độc mộc ở dòng sông Tchépone bên Lào vì bệnh sốt rét ác tính. Ông chết thế kể là quá trẻ, mà lại là một cái chết xa gia đình xa quê hương. Nhưng ông không bao giờ xa ngòi bút: ông vẫn viết bài từng kỳ trong loạt ký sự về những người mạo hiểm vào nơi ma thiêng nước độc như ông để tìm vàng và tương truyền trong thuyền vẫn còn tập giấy và cây bút ông đương dùng để viết loạt này khi ông lìa đời. Cho tới nay, chưa có một hay lẽ ra nhiều công trình nghiên cứu hẳn hòi về sự nghiệp lẫy lừng đa dạng của ông từ dịch thuật, báo chí cho đến xuất bản và sự vận động cho phong trào quốc văn. Nhưng đã có những cố gắng rất tốt đẹp mới đây của cả hậu duệ và giới chuyên môn Việt Nam nhắm đặt một chỗ ngồi xứng đáng hơn cho ông trên văn đàn, nhất là đã có một website cung cấp rất nhiều tư liệu giá trị và tin cậy về ông. Nhân ngày qua đời của ông cách đây gần 80 năm, chúng tôi xin được tưởng niệm “thủy tổ nhà báo xứ sở” Nguyễn Văn Vĩnh bằng một số tin tức góp lại từ nhiều tác giả kỳ cựu.

Tuần báo Đông Tây viếng ông một câu đối hàm ý đó:

“Chẳng quan mà quý, chẳng phú mà hào, giữa trời Nam gió thổi tung mây, gan óc dễ đâu vùi chín suối. Có lưỡi như cồng, có bút như thép, trong làng báo mở cờ khua trống, văn chương âu cũng đủ nghìn thu.”



Về mặt xuất bản, ông cùng một người Pháp là Vayrac thành lập nhà xuất bản Âu Tây Tư Tưởng (La pensée de l'Occident) in ấn và phát hành các sách do ông dịch thuật. Những nhan đề sau đây sẽ nhắc nhở cùng bạn đọc các công trình dịch thuật to lớn của vị tiền bối mà người viết bài này tin rằng không nhiều thì ít, chúng ta từng đã nghe nói đến, nếu không là đã đọc qua: Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ (dịch Les trois mousquetaires của Dumas, père), Mai Nương Lệ Cốt (dịch Manon Lescault của A. Prevost), Thơ Ngụ Ngôn La Fontaine (dịch Les Fables của La Fontaine), Những Kẻ Khốn Nạn (dịch Les Miserables của V. Hugo), Trưởng Giả Học Làm Sang, Kẻ Biển Lận, dịch Molière v.v... còn rất nhiều. Và Nguyễn Văn Vĩnh chính là người đầu tiên đã dịch Kim Vân Kiều của Nguyễn Du ra Pháp ngữ.



Trên hết thẩy, sự nghiệp làm báo, chứa đựng tâm huyết của ông qua những bài xã luận và dịch thuật, là một điều những người đi sau ông cần nghiên cứu kỹ. Ông đúng là một ký giả chuyên nghiệp và đầy lương tâm, đã từ chối những ân huệ của người Pháp để tranh đấu cho tổ quốc và lý tưởng của mình bằng ngòi bút. (Hai lần từ chối huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh của Pháp.) Như thế, ngay trong những ngày phôi thai của làng báo Việt ngữ, đã có người dám so sánh kẻ làm báo với “những nhà cách mạng.” Đó là điều đáng cho giới hành nghề truyền thông ngẫm nghĩ, gần 80 năm sau khi ký giả Nguyễn Văn Vĩnh qua đời với loạt ký sự dở dang kia.

tho-nguyenvanvinhtho_400Trang đầu nguyên văn bài thơ của Thơ La Fontaine do Nguyễn Văn Vĩnh dịch, in trong cuốn sách xuất bản năm 1951 tại Hà Nội.



Để nhớ Nguyễn Văn Vĩnh, và nhớ thời còn nhi đồng, xin đọc vài lời thơ dịch của ông:

Con ve và con kiến

Ve sầu kêu ve ve,

Suốt mùa hè.

Đến kỳ gió bấc thổi,

Nguồn cơn thật bối rối.

Một miếng cơm chẳng còn,

Ruồi bọ không một con.

Vác miệng chịu khúm núm

Sang chị Kiến hàng xóm,

Xin cùng chị cho vay,

Dăm ba hạt qua ngày.

“Từ nay sang tháng hạ,

Em lại xin đem trả.

Trước thu, thề Đất Giời!

Xin đủ cả vốn lời.”

Chú thích:

1. Tờ Gia Định báo với giám đốc Trương Vĩnh Ký và chủ bút Huỳnh Tịnh Của, ra ngày 15 tháng 4, 1865.

2. Theo Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam Văn học sử Giản ước Tân biên-Tân học hiện đại 1862-1945.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Mười Một 2014 (Xem: 1602) Vào khoảng thế kỷ 16-17, một tộc người thường được gọi là Pilgrim ở Anh bị hoàng đế lúc đó bắt cải đạo để theo tôn giáo của ông ta. Những người này không chấp nhận và bị giam vào tù. Sau khi giam một thời gian vị hoàng đế truyền họ lại và hỏi lần nữa
Thoạt đầu, việc ký âm tiếng Việt của mấy nhà truyền giáo Dòng Tên là để cho chính các ngài học tiếng Việt, và cũng giúp những thừa sai đến sau dễ dàng hơn trong việc học tiếng ấy, một thứ tiếng chẳng có chút dây mơ rễ má gì với tiếng Hy Lạp, Latinh, Ý, Bồ Đào Nha, Pháp, Đức… Thực ra đây là một cách bắt chước các nhà truyền giáo Dòng Tên Tây phương ở Nhật Bản. Vì đầu thế kỷ 17, họ cũng đã đưa ra một lối chữ viết mới với mẫu tự abc qua hai cuốn ngữ vựng và ngữ pháp Nhật. Tiếp đến, các ngài muốn sáng tạo một thứ chữ mới, có lẽ lúc đầu chỉ coi nó là phương tiện trong cuộc giới thiệu Tin Mừng với con người Việt, mà chính cha Đắc Lộ đã nhắc tới trong phần đầu cuốn từ điển của cha: “giúp các nhà truyền giáo học tiếng Việt” và “làm theo ý muốn của một số vị Hồng y ở La Mã là thêm chữ Latinh vào để người Việt có thể học thêm La ngữ.”
Sau khi tranh luận lâu như vậy, văn kiện được chép lại và đặt lên bàn của Chủ tịch, mỗi đại biểu Quốc hội bước lên phía trước ký tên, không khí nặng nề đến nghẹt thở. Vào thời điểm đó, những chữ ký này có nghĩa là - tất cả mọi người trong danh sách đều có chung nguy cơ bị Vua nước Anh treo cổ. Bản Tuyên ngôn Độc lập, là một văn kiện lập quốc quan trọng nhất của Hoa Kỳ, được trình bày trước Quốc hội Lục địa Hoa kỳ bởi Ủy ban Năm Nghị sĩ. Khi ấy, Quốc hội Lục địa đã chỉ định một ủy ban để soạn thảo ra Bản Tuyên ngôn Độc Lập, sử gọi là Ủy ban Năm Nghị sĩ. Ủy ban này gồm: Thomas Jefferson, John Adams, Benjamin Franklin, Roger Sherman và Robert Livingston, hoạt động từ ngày 11 tháng 6 năm 1776 cho đến ngày 5 Tháng 7 năm 1776, ngày mà Tuyên ngôn Độc lập được xuất bản.
Ngọc Mai | DKN....Lương Thế Vinh sinh ngày 1 tháng 8 năm Tân Dậu (tức ngày 17/8/1441) tại làng Cao Hương, huyện Thiên Bản, Trấn Sơn Nam (nay thuộc Vụ Bản, Nam Định). Ông vẫn được người đời gọi là “Trạng Lường”, lý do là vì từ nhỏ ông đã rất giỏi đo lường, tính toán. Chưa đầy 20 tuổi, tài học của ông đã nổi tiếng khắp vùng Sơn Nam. Năm 1463, Lương Thế Vinh đỗ trạng nguyên khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận thứ 4, đời Lê Thánh Tông.
Hoàn toàn vô ích khi hy vọng rằng cách mạng có thể cải tạo bản chất con người, tuy nhiên đó là điều mà cuộc cách mạng của quý vị, và đặc biệt cuộc cách mạng Nga của chúng tôi đã hy vọng rất nhiều. Cách mạng Pháp khai màn dưới lá cờ của khẩu hiệu mà tự mâu thuẫn và bất khả thi, “tự do, bình đẳng, bác ái”. Nhưng trong cuộc sống xã hội, tự do và bình đẳng là những khái niệm không dung hòa nhau, thậm chí còn chống đối nhau. Tự do tiêu diệt bình đẳng xã hội vì đó là bản chất của tự do. Còn bình đẳng cản trở tự do-vì nếu không như thế không thể nào có bình đẳng
Đền thờ thần núi Đồng Cổ (Yên Định - Thanh Hoá). Ảnh tư liệu HTC LÀM GÌ CÓ “THẦN TRỐNG ĐỒNG”? Hoàng Tuấn Công Sách “Di tích núi và đền Đồng Cổ” (Lê Ngọc Tạo - Nguyễn Ngọc Khiếu” - NXB Thanh Hoá - 2016) là kết quả đề tài khoa học “Sưu tầm, khảo sát và phục dựng nghi lễ của Đền Đồng Cổ”, của Ban Nghiên cứu và Biên soạn Lịch sử Thanh Hoá, do Tiến sĩ Lê Ngọc Tạo chủ trì, cử nhân Nguyễn Ngọc Khiếu thực hiện (sau đây gọi tắt là Nhóm Lê Ngọc Tạo). Sách báo viết về đền Đồng Cổ thì nhiều, nhưng có lẽ “Di tích núi và đền Đồng Cổ” là công trình chuyên khảo công phu nhất từ trước đến nay về ngôi đền này. Sách có hai phần: “I. Núi Đồng Cổ-Tam Thai và vùng thắng tích Đan Nê”, công bố kết quả sưu tầm trên thực địa và khai quật khảo cổ học; phần “II. Đền Đồng Cổ-Di tích và lễ hội”, công bố thần tích, tư liệu, trải qua các thời kỳ Trần - Hồ (1225 – 1407); Hậu Lê (1428 - 1788)
Lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam là một bản trường ca về các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Từ thế hệ này đến thế hệ khác, người Việt Nam luôn nêu cao tinh thần bất khuất và bảo vệ bằng mọi giá chủ quyền lãnh thổ thiêng thiêng./ Lê Phước | RFI - post 09 Tháng Mười Một 2012 (Xem: 2226)/
Người ta hay nói mỹ thuật Việt Nam nghèo nàn; mỹ thuật miền Nam trong thời kỳ 1954-75 lại càng nghèo nàn hơn nữa; trong mỹ thuật miền Nam, bộ phận mỹ thuật Công giáo thì gần như không có gì đáng kể. Với những nhà nghiên cứu có công tâm, những nhận định vừa nêu hoàn toàn sai. Nhưng tuy sai, chúng lại có cơ sở từ hiện thực. /post 13 Tháng Sáu 2012 (Xem: 3298) Nguyên Hưng - TgpSaigonnet/
Phần đông người Việt nói chung, cư dân Nam bộ nói riêng làm nông nghiệp. Chính vì vậy mà con cá có một vị trí khá đặc biệt trong đời sống người Nam bộ. Con cá trong đời sống vật chất thường nhật được nhìn nhận trong ca dao./post 31 Tháng Mười Hai 2012 (Xem: 1951) - Nguon http://e-cadao.com Ts. TRẦN VĂN NAM /
Sinh hoạt hò đối đáp nam nữ ở Bình Trị Thiên được thể hiện trong lao động tập thể, trong các hình thức giải trí vui chơi, và ngay trong các ngày hội lễ, mặc dù tính chất trang nghiêm, nhưng không vì thế mà hò đối đáp không được sử dụng. /TÔN THẤT BÌNH - TapchisongHuong - post 26 Tháng Sáu 2012 (Xem: 2966)/
Bảo Trợ