"Câu - Cá" Trong Ca Dao Nam Bộ

23 Tháng Bảy 20203:00 CH(Xem: 2911)

Trong bài viết nầy, chúng tôi khảo sát hình ảnh “cá, câu-cá” chủ yếu trên phương diện phương tiện nghệ thuật của ca dao. Với tư cách phương tiện nghệ thuật, trong quá trình biểu trưng hóa (quá trình chuyển nghĩa để những hình ảnh trở thành những ẩn dụ, những biểu trưng nghệ thuật) hình ảnh cá, câu-cá với những nét nghĩa biểu trưng của nó, đã để lại dấu ấn văn hóa của cư dân nông nghiệp vùng sông nước.
blankcauca_02
Phần đông người Việt nói chung, cư dân Nam bộ nói riêng làm nông nghiệp. Chính vì vậy mà con cá có một vị trí khá đặc biệt trong đời sống người Nam bộ. Con cá trong đời sống vật chất thường nhật được nhìn nhận trong ca dao. Cá ở Nam bộ không chỉ được ăn tươi mà còn được làm mắm, làm khô để tích trữ ăn dần. Hiện thực nầy cũng để lại dấu ấu trong ca dao Nam bộ, cụ thể là trong lời ru của người mẹ:
Con ơi ở lại với bà,
Má đi làm mắm tháng ba má về,
Má về có mắm con ăn,
Có khô con nướng, có em con bồng.

Xem hình ảnh cá như một phương tiện nghệ thuật, tác giả dân gian Nam bộ đã tiến tới miêu tả đặc điểm của cá nói chung, từng loại cá nói riêng để nói về con người:

Cá lưỡi trâu sầu ai méo miệng,
Cá trèn bầu nhiều chuyện trớt môi.

Quá trình biểu trưng hóa để hình ảnh con cá biểu trưng cho nhân vật trữ tình trong ca dao là một quá trình liên tưởng, so sánh. Đặc điểm chung nhất của các loài cá là sống trong nước. Nước trong một không gian cụ thể là biển, sông, kinh, đìa, ao. Cá trong nước ( hoặc trong chậu, lờ, lưới ) dễ dàng được hình dung như con người trong cuộc đời với những hoàn cảnh cụ thể khác nhau:

Bể sâu con cá vẫy vùng,
Trời cao muôn trượng, cánh chim hồng cao bay.
Đôi ta như con cá ở đìa,
Ngày ăn tán lạc, tối về đủ đôi
.

Với cặp biểu trưng câu - cá thì cá luôn luôn đại diện cho cô gái, còn câu đại diện chàng trai - hoặc là thái độ tình cảm của chàng trai. Câu cá là một hình thức lao động sản xuất của cư dân sông nước. Việc câu cá không dành riêng cho bất cứ ai, ai cũng có thể câu được bởi công việc nầy tương đối dễ dàng. Tuy vậy, trong ca dao Nam bộ chỉ có chàng trai mới câu và câu là chàng trai:

Anh ngồi bực lở anh câu,
Khen ai khéo mách, cá sầu không ăn.
Câu vàng lưỡi bạc nhợ tơ,
Câu thời câu vậy cá chờ có nơi.
Liều mình lội xuống ao sâu,
Đặng đo miệng cá uốn câu cho vừa.
Anh ơi, gá duyên đừng kén đừng lừa,
Cụm mây kia đen đặc, ngọn gió lùa còn tan.

Việc câu trong ca dao Nam bộ là sự thuyết phục, là bày tỏ tình yêu của chàng trai. Trong thực tế đời sống của cư dân Nam bộ, công việc câu cá cũng là một hoạt động lao động kiếm sống. Người ta hay dùng hai từ “ câu cơm “ để chỉ một hoạt động nào đó nhằm mục đích kiếm tiền, cụ thể hơn là kiếm tiền cho cuộc sống thường nhật của gia đình và bản thân. Có lẽ ngay từ những ngày đầu khai phá vùng đất mới nầy, việc bắt cá, câu cá là việc phổ biến, thường xuyên đồng thời là việc buộc phải làm. Cá trong sông, rạch rất nhiều nhưng phải câu, bắt mới có. Do vậy “ cá ăn câu “ trong ca dao mang ý nghĩa là một kết quả tốt cho chàng trai.
Hình ảnh câu- cá khá phổ biến trong ca dao các miền. Sau đây là một trường hợp được ca dao Bắc bộ sử dụng:

Anh ngồi vực lở anh câu,
Khen ai xui giục con cá sầu không ăn,
Con cá không ăn câu anh con cá dại,
Con cá ăn câu anh thì có ngãi có nhân.

Hình ảnh câu- cá được tác giả sử dụng theo lối tư duy thuận chiều: cô gái yêu chàng trai thì mọi việc đều tốt đẹp, còn như không yêu là mất mát, dại khờ. Ca dao Nam bộ một mặt tiếp nối kiểu suy nghĩ ấy:

Cá không ăn câu thật là con cá dại,
Bởi câu anh cầm, câu ngãi câu nhân.

Nhưng mặt khác, tác giả ca dao Nam bộ lại suy nghĩ theo kiểu “phản đề”: không phải lúc nào yêu anh cũng đều tốt đẹp cả:

Cá không ăn câu thật là con cá dại,
Vác cần câu về nghĩ lại con cá khôn.
Cá không ăn câu chê rằng con cá dại,
Cá mắc câu rồi nói tại cá tham ăn.

Đó là kiểu tư duy phóng khoáng, luôn dành cho đối tượng nhiều khả năng lựa chọn, thậm chí là sự lựa chọn ngược lại với ý định ban đầu.
Vấn đề chỉ có chàng trai câu mà cô gái không câu trong ca dao Nam bộ, có thể lý giải rằng đây là phản ánh một tập quán xã hội: chàng trai phải bày tỏ tình yêu trước, phải chủ động trong quan hệ lứa đôi. Cô gái trong ca dao Nam bộ - với hình ảnh con cá - có thể chủ động chờ đợi, một hình thức tạo điều kiện thuận tiện cho đối tượng:

Con cá vẩn vơ núp tại bóng cầu,
Chờ anh khác thể sao hầu chờ trăng.

***
Hình ảnh “ cá hóa rồng “ ( cá hóa long ) gắn với một khía cạnh khác của văn hóa. Đó là sự sùng bái đối với loài cá chép ( cá lý ngư). Cá chép có thể hóa rồng bay lên mây, là loại cá thiêng cho các vị thần tiên cỡi về trời mang theo những thông điệp của trần gian. Đặc biệt, trong tín ngưỡng dân gian Nam bộ cá sấu cũng có thể trở thành rồng. Quá trình cá sấu đắc đạo là quá trình từ khi hình thành cho đến khi sụp lở của một cù lao. Hiện tượng cù lao sụp lở gọi là cù dậy.Khi cá sấu bắt đầu tu là khi nó nằm im dưới đáy sông. Phù sa của dòng sông theo thời gian ngưng tụ lại trên mình cá sấu, trở thành cù lao. Đến lúc cá sấu đắc đạo thành rồng, cựa mình, vụt bay lên không trung thì cù lao sụp lở. Có thể nói niềm tin cá hóa rồng là niềm tin về hiện tượng thăng hoa diễn ra trong vũ trụ và trong cả cuộc đời trần tục. Từ trong sâu thẳm, đó còn là ước vọng về sự chiến thắng của cái thiện trước cái ác, về khả năng cải tạo cái ác, cái xấu. Trong ca dao Nam bộ, “cá hóa rồng” mở ra hướng phát triển tiến tới sự hoàn thiện hơn. Do vậy mà trong một số trường hợp, cá biểu trưng cho một nhân cách thanh cao dạng tiềm ẩn hoặc là hướng tới một kết qủa tốt đẹp:

Trên trời có cây hóa kiểng,
Dưới biển có cá hóa long,
Con cá lòng tong ẩn móng ăn rong
Anh đi lục tỉnh giáp vòng,
Đến đây trời khiến động lòng thương em (1).
Bậu chê anh quân tử lỡ thì,
Anh tỷ như con cá ở cạn chờ khi hóa rồng
Ngày nào nên ngãi vợ chồng,
Đôi lứa ta như thể cá hóa rồng lên mây (2).
Mù u nhỏ rễ ăn lan,
Sợ mình nói gạt qua đàng đấy thôi.
Phụng hoàng chấp cánh bay xuôi,
Liệu bề thương đặng, mình ơi, tôi chờ.
Nước lên khỏi bực tràn bờ,
Thương mình thương vậy, biết chờ đặng không?
Đặng không tôi cũng gắng công,
Đợi cho con cá hóa rồng sẽ hay.
Gặp mình may quá là may,
Trông cho trời tối bắt tay đặng về (3)
.

Ở (1), hình ảnh “ cá hóa long “ chưa mang ý nghĩa biểu trưng rõ ràng, nó chỉ phản ánh cách suy nghĩ gắn với tín ngưỡng về một loài cá thiêng. Ở (2) nghĩa biểu trưng của “cá hóa rồng” được thiết lập bằng hình thức so sánh. Cơ sở hình thành nghĩa biểu trưng trong hai bài ca dao nầy chính là tín ngưỡng vừa nói. Ở (3), hình ảnh “cá hóa rồng” là một ẩn dụ tượng trưng. Nghĩa bóng của nó đã được tác giả dân gian sử dụng như là ý nghĩa duy nhất của hình ảnh nầy.

Như vậy, hình ảnh cá, câu-cá trong ca dao Nam bộ phản ánh một nét của nền văn hóa vật chất, đó là công việc đánh bắt thủy sản, trường hợp cụ thể ở đây là nghề câu cá. Mối tương quan giữa câu và cá ở một số trường hợp, trong một chừng mực nào đó thể hiện cách suy nghĩ phóng khoáng của người Việt Nam bộ. Quan niệm về một loài cá thiêng có thể hóa thành rồng, phản ánh tín ngưỡng sùng bái loài vật, một tín ngưỡng của người Việt thời cổ còn lưu giữ.

Do tác động của thủy triều, trên các dòng sông Nam bộ thường xuyên có những cù lao, cồn cát hình thành và sụp lở. Hiện thực này được nhìn nhận theo chiều hướng tốt đẹp: đó là quá trình hoàn thiện của tạo vật. Đáng nói hơn, đó là tư tưởng hướng thiện của người Nam bộ. Chính tư tưởng này mà con người tìm thấy trong cái đổ vỡ (cù lao sụp) một điều gì đó tốt đẹp hơn (rồng bay lên).

Không phải ngẫu nhiên mà hình ảnh thuyền (ghe, tàu, đò, xuồng) xuất hiện với tần số dày đặc trong ca dao Nam bộ. Sự xuất hiện của chúng bắt nguồn từ thực tế ứng xử của người Việt Nam bộ với môi trường sông nước. Nói khác đi, đó là chứng tích của một nền văn minh sông nước trong ca dao, bởi vì con thuyền, chiếc ghe, chiếc xuồng... từ bao đời nay đã gắn chặt với đời sống miền sông nước, chúng đi vào tiềm thức con người và xuất hiện trở lại trong ca dao. Tương tự như vậy, hình ảnh cá, câu-cá trong ca dao Nam bộ cũng là biểu hiện của nền văn minh kinh rạch.

- Nguon http://e-cadao.com
    Ts. TRẦN VĂN NAM
-------------
Tư liệu tham khảo:
1. Jean Chevalier, Alain Gheebrant ( 1997), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới (Nhiều người dịch), Nxb Đà Nẵng, TP. HCM.
2. Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị(1984), Ca dao dân ca Nam Bộ,Nxb TP. HCM.
3. Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật...(1995), Kho tàng ca dao người Việt (KTCDNV), Nxb Văn hóa, Hà Nội.
4. Trần Ngọc Thêm (1997), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Trường đại học KHXH và NV TP. HCM.
5.Lê Trí Viễn (chủ biên) (1986), Thơ văn Đồng Tháp tập I, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp.
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Theo các công trình nghiên cứu thì cư dân Hòa Bình đã định cư thành từng xóm làng, trồng rau, củ như khoai mỡ ở thung lũng đồi và chế tạo đồ gốm. Đó là thời kỳ văn hóa nương rẫy của cư dân Hòa Bình. Di tích hang Tham Fi là hang ma (spirit cave) tại Đông Bắc Thái Lan có niên đại khoảng từ 8 đến 10 ngàn năm. Tại đây, nhà khảo cổ Mỹ Chester Gorman đã tìm thấy nhiều hóa thạch lớn của các loại cây trồng như trám, cau, bàng và một số loại rau như rau sắng chùa Hương nửa hoang dại nửa trồng trọt. Thời kỳ này, cư dân đã chuyển hẳn sang chăn nuôi trồng trọt nhỏ tuy vẫn còn hái lượm và săn bắt cá và nghề trồng lúa nước đã bắt đầu từ vùng thung lũng rồi phát triển lên vùng cao.
Ngay từ đầu thế kỷ hai mươi, người Pháp đã nỗ lực để tìm biết nguồn gốc của địa danh Sài Gòn, tên của một thành phố mà qua phong cách lãng mạn tây phương họ biến nó thành “Hòn Ngọc Viễn Đông” (La perle de l’Extrêm Orient).../08 Tháng Sáu 2012(Xem: 4337) Bình Nguyên Lộc - Vantuyen/
Bình thường việc người Tàu nghiên cứu hay viết về Việt nam là một việc làm bình thường, không có gì đáng chú ý vì nước Tàu và nước ta là hai nước kế cận nhau...nhưng thời điểm mà người Tàu đẩy mạnh công tác nghiên cứu về Việt Nam nhằm những mục đính riêng của họ là điều chúng ta cần phải suy nghĩ. Thời điểm đó là năm 1978. /1 Tháng Bảy 2012 (Xem: 2909) Phạm Cao Dương - vanchuongviet.org
Trong cuốn văn phạm của mình, Arte da lingoa de Iapam (Ngữ pháp tiếng Nhật), ấn hành tại Trường Kỳ (Nagasaki) năm 1604, linh mục Bồ Đào Nha dòng Tên João Rodrigues khẳng định: “Muốn viết ngôn ngữ này bằng mẫu tự của chúng ta, chúng ta chủ yếu phải sử dụng cách viết La Tinh và Bồ Đào Nha,/ 28 Tháng Năm 2012 (Xem: 2556) Roland Jacques, Canada - GS Đoàn Xuân Kiên chuyển ngữ
Ngoài tên họ, tên đệm, tên riêng, người Công Giáo Việt Nam còn có thêm một tên thánh được đặt khi chịu phép rửa tội. Trong khi đó, người Công Giáo Âu Mỹ không có hẳn một tên thánh. Bài viết này nhằm mục đích tìm hiểu sự khác biệt giữa tên thánh của người Công Giáo Tây Phương và Đông Phương ?/07 Tháng Sáu 2012(Xem: 4032)/
Câu nói của đại văn hào Thánh Augustinô là âm vang phổ quát nhất đi lọt vào tất cả các nền văn hóa cổ kim, đông cũng như tây, trong tất cả các chiều kích của cuộc sống con người. Thật thế tôn giáo là gì nếu không phải vì yêu thương mà con người được tạo dựng.../07 Tháng Sáu 2012(Xem: 4093) Nguyễn Đăng Trúc - VanchuongViet/
Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng sinh năm 1259. Năm 1285 khi quân Nguyên Mông sang xâm lược nước ta, mới 26 tuổi, “Trần Bình Trọng được Hưng Đạo Vương và Lưỡng cung giao cho một nhiệm vụ nặng nề: giữ vùng Đà Mạc – Thiên Mạc, ngăn chặn và cầm chân quân Nguyên, đảm bảo cho bộ chỉ huy quân kháng chiến rút lui an toàn và bí mật, không để lại dấu vết” (Wikipedia). Đại Việt Sử Kí Toàn Thư (ĐVSKTT [1]) chép rằng, “Khi bị bắt, Vương không chịu ăn, giặc hỏi việc nước, Vương không trả lời, giặc hỏi Vương: “Có muốn làm vương đất bắc không?”. Vương thét to: “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất bắc”, rồi bị giết”. Sự kiện bi hùng này người Việt có lẽ ai ai cũng biết. Nhưng ít ai nhấn mạnh rằng, ông thực hiện công trạng vĩ đại đời đời lưu truyền này khi ông mới 26 tuổi! Quả thực, ngày nay, cứ thử gõ Trần Bình Trọng vào Google mà xem, sẽ hiện ra hình một ông lão tầm 50 tuổi gầy gò hom hem.
Thoạt đầu, việc ký âm tiếng Việt của mấy nhà truyền giáo Dòng Tên là để cho chính các ngài học tiếng Việt, và cũng giúp những thừa sai đến sau dễ dàng hơn trong việc học tiếng ấy, một thứ tiếng chẳng có chút dây mơ rễ má gì với tiếng Hy Lạp, Latinh, Ý, Bồ Đào Nha, Pháp, Đức… Thực ra đây là một cách bắt chước các nhà truyền giáo Dòng Tên Tây phương ở Nhật Bản. Vì đầu thế kỷ 17, họ cũng đã đưa ra một lối chữ viết mới với mẫu tự abc qua hai cuốn ngữ vựng và ngữ pháp Nhật. Tiếp đến, các ngài muốn sáng tạo một thứ chữ mới, có lẽ lúc đầu chỉ coi nó là phương tiện trong cuộc giới thiệu Tin Mừng với con người Việt, mà chính cha Đắc Lộ đã nhắc tới trong phần đầu cuốn từ điển của cha: “giúp các nhà truyền giáo học tiếng Việt” và “làm theo ý muốn của một số vị Hồng y ở La Mã là thêm chữ Latinh vào để người Việt có thể học thêm La ngữ.”
Người viết báo phải quan niệm mình làm nghề không phải là để chơi hay để kiếm tiền, nhưng phải quan niệm mình là những người thừa kế của cách mạng tư sản, mở đầu là cách mạng tư sản Pháp, say sưa với tự do, trung thành với lý tưởng, chống áp bức, chuộng tiến bộ mà quyền lợi tinh thần của con người đã ủy thác nơi báo chí.. (Lời Nguyễn Văn Vĩnh, theo Vũ Bằng kể lại trong hồi ký “40 năm nói láo.”) /post 31 Tháng Năm 2012(Xem: 2776)/
Sau khi tranh luận lâu như vậy, văn kiện được chép lại và đặt lên bàn của Chủ tịch, mỗi đại biểu Quốc hội bước lên phía trước ký tên, không khí nặng nề đến nghẹt thở. Vào thời điểm đó, những chữ ký này có nghĩa là - tất cả mọi người trong danh sách đều có chung nguy cơ bị Vua nước Anh treo cổ. Bản Tuyên ngôn Độc lập, là một văn kiện lập quốc quan trọng nhất của Hoa Kỳ, được trình bày trước Quốc hội Lục địa Hoa kỳ bởi Ủy ban Năm Nghị sĩ. Khi ấy, Quốc hội Lục địa đã chỉ định một ủy ban để soạn thảo ra Bản Tuyên ngôn Độc Lập, sử gọi là Ủy ban Năm Nghị sĩ. Ủy ban này gồm: Thomas Jefferson, John Adams, Benjamin Franklin, Roger Sherman và Robert Livingston, hoạt động từ ngày 11 tháng 6 năm 1776 cho đến ngày 5 Tháng 7 năm 1776, ngày mà Tuyên ngôn Độc lập được xuất bản.
Bảo Trợ