Nỗi Lòng Mẹ Maria.

10 Tháng Tư 20203:00 SA(Xem: 5287)

Nỗi Lòng Mẹ Maria.
Vào một buổi sáng sớm, trời còn sương mù thoang thoảng khắp triền đồi miền núi, Maria vừa thức dậy, nàng cầu nguyện thật sốt sắng. Tiếng chim hót sau hiên nhà làm nàng cảm thấy như một điệu nhạc thiên nhiên, nhè nhẹ len vào tâm hồn đạo đức của nàng. Hôm nay một nghi thức hôn ước với Giuse sẽ được bà con xếp đặt. Nàng phó thác mọi chuyện cho Chúa, nàng dâng cả cuộc đời, tuổi thanh xuân cho Chúa, nàng chỉ ao ước được trở thành Tân nương trong một tiệc cưới mà Tân lang là Thiên Chúa mà thôi.


Maria

Bà con họ hàng ai cũng biết đến đức độ của Maria, họ hãnh diện đã có một người bà con như thế. Với độ tuổi trăng tròn, Maria có một nét đẹp khả ái, đầy thánh thiện trong giọng nói nụ cười. Nàng rất khiêm nhường luôn coi mình là thua kém, chỉ đáng tôi tớ cho Thiên Chúa và cho cả mọi người . Biết đươc ý định của nàng là dâng mình cho Thiên Chúa, bà con đã dạm ý nàng cho Giuse, một thanh niên đứng tuổi, cũng có lòng đạo đức sâu xa chẳng thua kém Maria. Họ kết hôn trong giao ước của sự trong sạch và thánh thiện qua sự chứng giám của họ hàng trước Thiên Chúa Tối Cao.



Maria cảm thấy vui trong lòng với cuộc đời mới, chẳng phải niềm vui như bao cô gái xuân thì khác, khi đến tuổi lấy chồng tạo dựng được một gia đình riêng cho mình. Nàng vui vì từ đây ý định thực sự dâng mình cho Thiên Chúa đã trọn vẹn. Nàng cũng cảm thấy vui vì người chồng của nàng, Giuse cũng đã có cùng ước nguyện. Ý hiệp tâm đầu trong đôi vợ chồng Giuse-Maria thực là cao siêu thánh thiện vượt trên các cuộc hôn nhân trần thế này.



Quả đúng là cây tốt được vun tưới bằng hồng ân, sẽ sinh hoa quả tốt.



Trước ngày cưới, Maria được Thiên sứ báo tin một trọng trách mà Thiên Chúa đã lựa chọn nàng để giao phó, và Chúa Thánh Thần đã ngự xuống trong lòng nàng. Thoạt tiên, nàng đã quyết liệt từ chối trọng trách đó, vì cho rằng không đủ tư cách, nhưng Thiên Chúa đã hứa sẽ ở bên nàng để giúp nàng chu toàn tất cả sứ mạng mà Ngài giao phó. Nàng đã vâng theo ý Chúa, và cũng từ giờ phút đó, nàng luôn cầu nguyện không ngừng để đón nhận những gì Thiên Chúa gởi đến. Nàng biết, Thiên Chúa sẽ không đưa mật ngọt cho nàng, vì đó chính là liều thuốc phá hỏng sự thánh thiện, làm biến tan sự sốt mến cầu nguyện. Ngay cả việc vâng theo ý Chúa cũng đã là một điều làm cho nàng băn khoăn, xung đột nội tâm giữa sự mặc cảm không xứng đáng và hồng ân cao trọng.



Thế rồi, hai người chung sống trong một gia đình. Chuyện phải đến đã đến, nàng biết Giuse đứng ngồi không yên, khi thấy nàng bụng mang dạ chửa.



“Lời nói không mất tiền mua,

“Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.”(ca-dao)



Nàng cũng không biết phải nói như thế nào, phải lựa lời nào nữa trong trường hợp này. Lời giao ước khiết tịnh giữa hai người hầu như chưa ráo mực! Giuse im lặng, có vẻ như chàng sẽ khăn gói ra đi. Maria rất đau khổ, nàng van xin Thiên Chúa hãy thanh minh cho nàng, Maria chỉ biết cầu nguyện, phó thác để Chúa sắp đặt mọi chuyện, vì điều này ngoài sức tưởng tượng của nàng.



Giuse chắc chắn được Thiên Chúa hướng ý cho biết về thai nhi, vì chỉ sau đó vài ngày, chàng lại vui vẻ như không có chuyện gì xảy ra, vẫn tiếp tục công việc hàng ngày một cách hăng hái, chàng lo lắng cho Maria hết lòng. Maria vui mừng cảm tạ Chúa, vì trút được nỗi lo buồn bị hiểu lầm, chưa kể nếu Giuse không cao thượng nàng có thể bị xử theo luật nữa. Tất cả mọi chuyện, Maria đều tin chắc Thiên Chúa sẽ ra tay giải quyết, nàng không mảy may nghi ngờ, nhưng với sự khôn ngoan nàng vẫn lo lắng nghĩ đến những hậu quả nếu Thiên Chúa không can thiệp.

blank


Qua khỏi được bước đầu, đến giai đoạn sinh nở, nàng cũng biết sẽ được Thiên Chúa quan phòng, tuy vậy nàng vẫn lo sợ những điều ngoài dự đoán.



“Đàn ông đi biển có đôi,

“Đàn bà đi biển mồ côi một mình”.(ca-dao)



Cái lo lắng của nàng thật không ngờ lại đúng. Chính đang lúc gần ngày sinh nở lại phải chiếu theo lệnh nhà vua để về nguyên quán khai sổ bộ. Và cuộc sinh nở của nàng đã xảy ra một nơi mà nàng cũng không ngờ được trước. Ôm con vào lòng, Maria cảm thấy diễm phúc làm Mẹ của một người nữ thật cao vời.



Ngày sinh con nơi hang lừa

Mẹ biết con là Đức Vua

Dù đêm đông có giá lạnh

Mẹ ấm lòng hát ầu ơ!



Như những người Mẹ khác, Maria nuôi con khôn lớn trong muôn ngàn khó khăn của một gia đình nghèo. Chín tháng cưu mang rồi nuôi con khôn lớn, chỉ mong con hay ăn chóng lớn, vui chơi khoẻ mạnh là cha mẹ vui rồi. Từ những ngày còn bú mớm, nằm trong nôi được Mẹ ru ngủ bằng câu hò điệu hát dân quê, đến lúc biết đi biết chạy vui đùa cùng chúng bạn, quả là một chuỗi tháng ngày dài bao thao thức đêm trường.



Giêsu con hãy ngủ đi!

Mẹ ru con ngủ, ướt mi lệ đời

Sinh con ra, con Chúa Trời

Cơ hàn khốn khổ làm người dương gian

Dẫu bao sóng gió chẳng màng

Chỉ mong con lớn sáng danh Chúa Trời.



Maria biết thời điểm của Thiên Chúa khởi sự một giai đoạn mới đã gần kề. Nàng cũng không còn thanh xuân, trẻ trung như ngày xưa nữa, nhưng trong tâm lòng nàng thì mọi chuyện như mới xảy ra hôm qua, từ chuyện gặp Thiên sứ đến chuyện dâng con trên đền thờ. Nàng ôm ấp những điều được nghe biết và suy nghĩ trong lòng ngày này qua ngày khác. Đối với nàng là một sự chờ đợi trong ân sủng, nhưng cũng đầy giá buốt của đêm đông ngày nào.



Ngày con ra đời lớn khôn

Rao lời Chúa cho muôn dân

Mẹ cầu cho con an mạnh

Trong ân sủng Chúa Thánh Thần



Lúc này con của Mẹ đã ba mươi tuổi đời. “Tam thập nhi lập”, Mẹ vừa sung sướng vừa lo lắng, khi thấy con mình bắt đầu thi hành sứ mạng trọng đại, mà chính Mẹ là người đã thực hiện được một phần. Mẹ luôn trông mong con mình khoẻ mạnh, đầy ân thánh để giữa muôn người lành kẻ dữ, có thể giữ vững được chân lý, chịu đựng được bao khổ nhục. Mẹ nghĩ đến thuở con còn nhỏ trong nhà, Mẹ luôn lo cho con cơm ăn áo mặc, bây giờ trong cảnh rày đây mai đó, biết ai là người sẽ lo cơm nước cho con đây. Mẹ nhớ câu hò ngày xưa ru cho con ngủ, mong con sớm tối được an lành.



Giêsu lòng Mẹ hân hoan!

Con đang thực hiện chu toàn ý Cha

Dù con đây đó bôn ba

Mẹ luôn dõi bước con ra chợ đời

Mẹ biết con, con Chúa Trời

Sinh ra xuống thế cứu người lầm than!



Mỗi lần có người báo tin con mình bị người ta chửi rủa, bị chế giễu, thậm chí có lần suýt bị ném đá nữa, những lúc đó Mẹ lo buồn biết bao nhiêu. Mẹ luôn lo lắng thấp thỏm trong lòng, chẳng biết ngày giờ nào lời tiên tri ngày xưa trên đền Thánh sẽ xảy ra. Mẹ luôn cầu nguyện phó thác để chấp nhận, chịu đựng được tất cả nghịch cảnh, nhưng có lẽ sự chờ đợi còn làm cho Mẹ khổ tâm nhiều hơn nữa. Rồi cũng đến ngày có người tất tả chạy đến báo hung tin cho Mẹ, con Mẹ bị phản bội, đã bị bắt đem ra trước toà. Tay chân Mẹ rụng rời, nước mắt Mẹ trào ra.



Ngày tin con bị bắt giam

Mẹ bàng hoàng trong tâm can

Nhớ ngày xưa lên đền Thánh

Dâng con, lòng Mẹ, lưỡi gươm…



Theo chân các môn đệ, Mẹ đến toà nhìn con tan nát cả thân mình. Mẹ buồn sầu biết bao nhiêu khi thấy mọi người chẳng được mấy ai hô hào để thanh minh cho con mình vô tội. Lòng Mẹ đau như cắt khi hiểu được tại sao con Mẹ phải gánh lấy từng ấy oan khiên, nghiệt ngã. Mẹ cầu xin cho con mình đủ sức chiụ đựng tất cả những gì sẽ xảy ra. Nhìn cây Thập giá trên vai con mà lưng Mẹ như cong oằn xuống. Nhìn con lê lết với cây Thập giá, hơi thở dồn dập hết cả sức lực, Mẹ như nghẹt thở. Còn nhớ ngày nào con cảm nóng, Mẹ sắc thuốc cho con uống, con đau đớn rên rỉ Mẹ xoa bóp cho con. Lời ru ngày nào, bên giường con nằm im thiêm thiếp vẫn vang lên trong tâm trí, Mẹ chỉ muốn làm sao cho con đỡ đau một chút!



Giêsu con Mẹ yêu thương!

Con đang đi đến đoạn đường khổ đau

Con đau lòng Mẹ cũng đau

Gặp con, con Mẹ nhìn nhau quặn lòng

Ai mang Thánh giá cho con?

Con ơi! Chịu khó cho tròn ý Cha!

jesus meet mother

Không có cực hình nào đau đớn hơn cho một bà Mẹ là phải chứng kiến con mình bị hành hạ, giết chết một cách oan ức, Mẹ đã can đảm chịu đựng. Mẹ là một bà Mẹ Macabê mới, dù đau lòng mấy cũng chấp nhận hy sinh để con mình chiụ chết.



Ngày Mẹ vừa sinh con ra

Ẵm con, lòng Mẹ thiết tha

Giờ Mẹ ẵm con lần cuối

Xác con! Lòng Mẹ xót xa!



Hơn ba mươi năm trước, nơi một cánh đồng hoang vu, quạnh quẽ, với cái giá lạnh của mùa đông rét mướt cũng không làm Mẹ cảm thấy cô đơn lạnh lẽo. Mẹ ôm con trong lòng mà thấy cả đất trời ấm áp, con đã là niềm vui sướng vô cùng của Mẹ. Hai bàn tay của Mẹ đã ôm trọn cả Vua Đất Trời trong tiếng ru à ơi con hãy ngủ đi!

jesus-cross

Rồi ba mươi năm sau, trên đỉnh đồi Gôn-gô-tha cũng hai bàn tay này, Mẹ ôm con vào lòng, nhưng đau lòng Mẹ quá con ơi! Mẹ muốn ru con thêm một lần nữa! Một lần cho con ngủ mãi mãi trong lòng Mẹ!



Giêsu! Con biết chăng là

Lưỡi gươm ngày ấy thâu qua tâm lòng

Con thì sứ mạng đã xong

Chỉ riêng Mẹ vẫn đau lòng con ơi!

Dù con, con Đức Chúa Trời

Mẹ đây cũng vẫn đời đời Mẹ con

Mẹ đang đau cả xác hồn

Ước chi Mẹ được thay con một lần

Con ơi! Hãy ngủ đi con!

Mẹ ru con ngủ cho lòng Mẹ yên

Giêsu ơi! Mẹ hôn con

Suốt đời Mẹ vẫn đau lòng con ơi!



Đặng Xuân Hường

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Tên nàng là Nhung Nữ. Dân làng đặt tên nàng là Nhung Nữ vì nàng có mái tóc dài, gợn sóng, nhung huyền, gần chấm đất những khi nàng cong tấm lưng thon, biểu diễn điệu múa quyến rũ, mỗi lần làng họp chợ. Nàng là một kỳ công tuyệt diệu của tạo hóa, với sóng mắt xếch như mang theo sự huyền bí của miền Đông Á. Da nàng là màu nắng mặt trời. Tóc nàng, nhung đen như đêm Ba Tư thần thoại, một suối nhung huyền trên tấm lưng thanh nhã, lượn sóng trên bờ eo nhỏ mỗi khi nàng dạo bước trên bãi biển. Môi nàng lúc nào cũng như tiềm ẩn một nụ cười, chờ đợi một chuỗi cười hồn nhiên, và viền môi cong như đón mời một nụ hôn nồng nàn làm tiêu tan nghị lực. Khuôn mặt nàng ẩn giấu nét rộn rã của đứa trẻ nhỏ, nhưng đồng thời chung quanh khóe mắt đẹp và hơi buồn đã thấp thoáng những nét nhăn như chứng tích của sự trưởng thành. Nàng là đàn bà trẻ thơ.
Sài Gòn vẫn rất dễ thương Cái tên dù lạ con đường vẫn quen Tôi hay “viện dẫn” hai câu thơ của mình mỗi khi phải hồi âm một cánh thư xa nào đó, thường là câu hỏi “Sài Gòn bây giờ ra sao?” Thật ra trong cảm nhận của tôi, Sài Gòn vẫn thế. Bởi dù trải qua nhiêu bao biến cố thăng trầm, thì Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông, thủ đô trong những trái tim miền Nam ngày nào vẫn không bao giờ thay đổi. Sài Gòn của một thời tôi mới lớn, những “con đường tình ta đi” Duy Tân, Trần Quý Cáp, Tú Xương, Công Lý. Những chiều bát phố Lê Lợi, Tự Do. Những rạp cine. Món bánh tôm hẻm Casino (Sài Gòn). Những xe bò viên Nguyễn Thiện Thuật. Bánh mì thịt trước chợ Trương Minh Giảng, gỏi đu đủ – khô bò – nước mía Viễn Đông (góc Lê Lợi – Pasteur)…
...chỉ với Mùa Xuân chín, Hàn Mặc Tử đã luôn là một nỗi nhớ khôn nguôi của người yêu thơ, yêu cái đẹp khi xuân về. Trong làn nắng ửng: khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng. Sột soạt gió trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang. Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời Bao cô thôn nữ hát trên đồi; Ngày mai trong đám xuân xanh ấy, Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi… Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi, Hổn hển như lời của nước mây, Thầm thì với ai ngồi dưới trúc, Nghe ra ý vị và thơ ngây… Khách xa gặp lúc mùa xuân chín, Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng: “Chị ấy, năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?” Có một chàng thi sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh sống vào khoảng nửa đầu thế kỷ 20 ở Nam Trung Bộ. 16 tuổi, chàng đã làm bài thơ đầu tiên. Chàng đã sống, đã đi, đã yêu tha thiết và đã đau đớn cùng cực.
Truyện Kiều là một tuyệt tác trong văn học sử Việt Nam, điều này ai cũng công nhận. Theo Phạm Quỳnh, “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”, nhưng ông và nhiều học giả khác không phân tích rõ Truyện Kiều hay như thế nào và tại sao tác phẩm này đặc biệt. Dù sao thì Truyện Kiều cũng có ảnh hưởng rất rộng với đại chúng, đa số người Việt biết thưởng thức thơ hay và ít quan tâm đến những phân tích phê bình của những nhà nghiên cứu. Lãng Nhân có nhận xét về một điểm vô lý trong Truyện Kiều: Khi mấy chị em đi chơi lễ Thanh Minh và thấy một nấm mồ hoang, em trai Thúy Kiều là Vương Quan chỉ là một cậu bé học trò 14-15 tuổi, vậy mà kể rành rẽ tiểu sử người kỹ nữ quá cố giống như một tay ăn chơi lão luyện: Vương Quan mới dẫn gần xa, Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi Nổi danh tài sắc một thì, Xôn xao ngoài cửa thiếu gì yến anh. Phận hồng nhan có mong manh, Nửa chừng xuân, thoắt gẫy cành thiên hương!
- Chúng ta đa số đều biết rằng các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn từ 1934 - 1940 có gốc gác khởi xuất từ miền Bắc, viết văn, viết sách, thơ, truyện, thường họ chỉ dùng (GI) cho "giòng sông, giòng nước". Thí dụ như: a) Nhất Linh: "Giòng Sông Thanh Thủy". b) Tú Mỡ: "Giòng Nước Ngược". c) Thạch Lam: "Theo Giòng". - Còn các nhà văn, trí thức lớp sau, thường có xuất thân tại miền Nam, trước khi xảy ra biến cố 1975, họ hầu hết sử dụng (D) cho "dòng sông, dòng nước". Thí dụ như: a) Doãn Quốc Sỹ: "Dòng Sông Định Mệnh (1959). b) Nhật Tiến: "Tặng Phẩm Của Dòng Sông (1972). c) Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy: "Dòng Nước Sông Hồng" (viết 1945, in lại vào thi tập năm 1985). - Và sau hơn nữa đó là: a) Ngô Thế Vinh: "Mekong, Dòng Sông Nghẽn Mạch (2007).
Ngày còn bé, mỗi lần về quê ghé thăm ông cậu thì cảnh tượng quen thuộc đầu tiên đập vào mắt tôi là hai cái lồng chim cu treo lủng lẳng ở mái hiên nhà. Lồng bằng tre vót nhỏ rứt, bo tròn vành như quả bí, bọc vải bên ngoài kín đáo. Cứ một con gù gù, con lồng bên lại cất tiếng gáy như để hòa điệu, âm thanh trầm buồn. Buổi trưa vắng lặng, chợt nghe tiếng cu gáy êm êm dìu dặt, ai mà không cảm nhận lòng mình xuyến xao gợi nhớ mơ hồ đâu đâu, càng thêm yêu thương sự phóng khoáng, yên bình của đồng nội, hương quê… Người nuôi chim rành rẻ kinh nghiệm cho biết con nào có bộ lông xám thường gáy giọng thổ trầm, con lông nâu thì gáy giọng kim cao. Theo tập tính, chim cu trống cất giọng gáy hay để quyến rũ bạn tình hoặc khoe mẻ, thách thức với con trống khác.
Lúc ấu thơ, khi còn chưa biết rét là gì, tôi thường đi chơi trên những cánh đồng mùa đông. Lúa tháng mười vừa gặt xong, thửa ruộng cạn chỉ còn những gốc rạ trơ trụi. Từ gốc rạ ấy, những mầm lúa lại mọc lên xanh non, nếu để lâu chúng cũng kết bông trổ hạt, người ta gọi đó là lúa trau, có thể lùa trâu bò xuống ăn. Ngoài đồng, phân trâu bò được đắp thành những đụn tròn cao dần lên trên chừng nửa thước. Phân ủ trong đó rất ấm tỏa ra làn khói mờ. Đi cắt rạ lâu trên đồng, những ngón chân lạnh cóng đến mức không còn cảm giác gì, người ta phải hong chân trên nóc đống phân đó. Vài nhà nông tranh thủ cầy ải. Họ xới đất lật lên thành luống, để cho gió bấc hong khô đất, đợi sang xuân có nước về lùa những luống đất đó tan ra như bùn. Đôi khi người ta dùng vồ đập cho đất vỡ tan trước.
Tưởng nhớ người cha thân yêu Chính Thầy là sự sống và là sự sống, ai tin vào Thầy thì dù có chết cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào thấy thì sẽ không phải chết. (Gn 11, 25-26) Ngày 1-11 là ngày giỗ 4 năm của thầy (cha) chúng con là Linh hồn Phêrô Nguyễn Quang Đồng từ giã mọi người về với Chúa ngày 1-11-2016 . Kính xin Mẹ, anh chị em, cháu chắt bạn bè xa gần hiệp ý cầu nguyện cho Linh hồn Phê rô mau dược hưởng hạnh phúc trên nước trới. Amen. Thầy đã ra đi 4 năm rồi mà con không về được, con ao ước và mong muốn được về bên thầy thắp nén hương trầm. Con nhớ thầy nhiều lắm. Nguyễn Thị Đức
Trước khi dùng xú-chiêng như người phụ nữ Tây Phương, người phụ nữ Việt Nam đã biết dùng cái yếm để che kín bộ nhũ hoa. Nói như thế không có nghĩa là cái yếm chỉ có công dụng như cái xú-chiêng của người Tây Phương mà thực sự công dụng của nó còn rộng rãi hơn nhiều. Trong lúc cái xú-chiêng chỉ dùng để che kín và nâng đỡ bộ nhũ hoa thì cái yếm của người phụ nữ Việt Nam đôi khi còn có thể dùng thay thế cho cái áo cụt “ra đường đi đâu gần gần mà chỉ bận yếm thì cũng chẳng ai rầy” hoặc, hơn thế nữa, “mùa nóng nực những người làm việc khó nhọc chỉ mặc yếm che ngực, đủ kín đáo, không mặc áo”. Theo Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ trong Tự Điển Việt Nam (q.I, trang 669) chiếc yếm được định nghĩa như sau: “Yếm: Miếng vải hình tam giác dùng che ngực" Cô kia mặc yếm hoa tằm, Chồng cô đi lính cô nằm với ai.
Cứ mỗi cuối Thu là sinh nhật tôi. Lòng chạnh nhớ một mùa Thu dĩ vãng. Sáng nay, sương mù lơ lững giăng giăng một sớm mai lành lạnh với làn gió khẽ lướt qua kéo theo chiếc lá vàng nhẹ rơi, hơi sương hôn lên mặt tôi lạnh giá. Ngày sinh nhật lại đến. Đã bao mùa Thu hạnh phúc. Đã bao mùa Thu lặng lẽ ngang trời. Đã bao mùa Thu đã chết. Bao lần tôi ngắm Thu qua. Từng ngày từng tháng từng năm trôi đi. Tôi đã sống bình yên trong sự an bày của số phận mặc cho lòng ...
Bảo Trợ