Nàng Nhung Nữ

19 Tháng Giêng 20211:38 SA(Xem: 263)

Nàng Nhung Nữ

Dương Như Nguyện

Tên nàng là Nhung Nữ. Dân làng đặt tên nàng là Nhung Nữ vì nàng có mái tóc dài, gợn sóng, nhung huyền, gần chấm đất những khi nàng cong tấm lưng thon, biểu diễn điệu múa quyến rũ, mỗi lần làng họp chợ.
nguoi_ca

Nàng là một kỳ công tuyệt diệu của tạo hóa, với sóng mắt xếch như mang theo sự huyền bí của miền Đông Á. Da nàng là màu nắng mặt trời. Tóc nàng, nhung đen như đêm Ba Tư thần thoại, một suối nhung huyền trên tấm lưng thanh nhã, lượn sóng trên bờ eo nhỏ mỗi khi nàng dạo bước trên bãi biển. Môi nàng lúc nào cũng như tiềm ẩn một nụ cười, chờ đợi một chuỗi cười hồn nhiên, và viền môi cong như đón mời một nụ hôn nồng nàn làm tiêu tan nghị lực. Khuôn mặt nàng ẩn giấu nét rộn rã của đứa trẻ nhỏ, nhưng đồng thời chung quanh khóe mắt đẹp và hơi buồn đã thấp thoáng những nét nhăn như chứng tích của sự trưởng thành.

Nàng là đàn bà trẻ thơ.

Không ai biết nàng từ đâu tới. Nàng sống với một người đàn ông trung niên trong căn nhà gỗ gần bãi biển yên lặng và vắng vẻ, nơi mà thông thường chỉ có dân làng đi kiếm vỏ sò. Chợ ở xa nhưng nàng vẫn hay ra chợ để trình diễn những điệu vũ. Buổi chiều nàng trở về nhà trên con đường nhỏ băng qua rừng dừa. Nàng đem về nhà một rổ trái cây, hạt và mè. Trên đường về nhà, nàng ngân nga bằng giọng trẻ thơ những ca khúc thổ ngữ của vùng nhiệt đới. Thỉnh thoảng, người đàn ông trung niên ra đón nàng ở ngưỡng cửa. Họ hôn nhau, tóc nàng bay bay trong chiều tà đỏ ửng.

Khi bình minh ló dạng, nàng đứng trước cổng nhà chải tóc bằng những ngón tay xinh xắn, rồi nàng ngân lên điệu khúc nhiệt đới. Với đôi chân bé bỏng nàng chạy dài trên bãi biển như con chim rạng rỡ học bay buổi đầu tiên. Nàng đứng hằng giờ chôn đôi cổ chân hồng dưới cát nóng, và từ từ nàng nằm xuống cho những tia nắng đầu ngày của mặt trời ôm lấy thân nàng.

Và một ngày kia khi Nhung Nữ ra chốn họp chợ để biểu diễn điệu múa của nàng trên chiếc bục nhỏ ngăn cách nàng với đám dân làng tụ họp phía dưới. Như một nữ thần thanh thoát, nàng di chuyển thật duyên dáng, nụ cười luôn nở trên môi như thể nàng đang trình diễn trên đất thánh. Đám dân làng yêu mến nàng như yêu một đứa trẻ thần đồng. Thân thể nàng uốn éo, đôi cánh tay nàng vươn cao dịu dàng như thể nàng đang đuổi bắt một vì sao lạc. Nàng múa như cành liễu rủ trong gió nhẹ, tựa như sóng gợn của biển chiều. Nàng cau đôi mày rồi hé môi cười như muốn đong lấy hạnh phúc lẫn với đau khổ trong thân thể bé nhỏ và trên gót chân linh hoạt.

Khi điệu vũ chấm dứt, dân làng đem tặng nàng những đồng tiền và những đóa hoa.

Người đàn ông đứng tuổi là một người im lặng, không hay ra khỏi nhà trừ phi đi dạo biển. Chiếc áo len rộng, sẫm màu làm nổi bật mái tóc đã bắt đầu ngả màu xám. Người đàn ông đẹp vô cùng như thể ông ta là biểu tượng của kiến thức. Tia nhìn ấm và dịu dàng từ đôi mắt thắm màu khói chiều làm nhẹ đi sự căng thẳng trên khóe miệng mím và trên vầng trán suy tư. Người đàn ông có vẻ trầm ngâm bận bịu vì nhiều thứ — bất cứ thứ gì ngoài hình bóng của Nhung Nữ. Bên khung cửa sổ nhìn ra bờ biển, ông ta hay ngồi cặm cụi đánh máy. (Chiếc máy chữ là liên hệ độc nhất giữa ông ta và thế giới văn minh bên ngoài.) Những khi người đàn ông lục soạn đống sách vở, trông ông ta mang đầy vẻ nóng nảy của tuổi trẻ. Nhưng đôi khi, hình bóng ông ta chống tay che trán lại biểu hiện cái mệt mỏi của đời người. Mỗi khi Nhung Nữ từ chợ về, nàng hay co người ngồi dưới chân ông, ngước nhìn người đàn ông bằng cặp mắt thán phục trong khi ông ta cặm cụi đánh máy.

Ông đang viết một cuốn sách về loài người.

Nhung Nữ có nhiều thời giờ hơn người bạn đường của nàng. Nàng cảm thấy buồn trong khi ông ta đắm mình theo hành trình sáng tạo. Nàng đi dạo trong rừng dừa, hoặc dọc theo bờ biển nhặt vỏ sò. Nàng chạy rồi múa cho đến khi đôi chân nàng quặn đau trên cát nóng. Khi màn đêm xuống, thỉnh thoảng Nhung Nữ dạo cung đàn trên các nhạc khí thô sơ nàng hay đeo trên cổ — những bài ca buồn bã lạc trong tiếng sóng đại dương. Có khi nàng chỉ ngồi yên trên bờ biển lắng nghe tiếng nói của những sinh vật bí hiểm từ lòng biển. Nàng mơ đến một cuộc sống nàng có thể có. Cuộc sống bên kia quán chợ, xa, xa  tít đến thành phố vạn dặm. Áo đẹp và rượu ngon. Kim cương và ngọc thạch. Những thanh niên biết ca tụng.  Rồi tư tưởng nàng trở về với một cuộc sống nàng đã từng có. Cuộc sống ở vùng đất xa thẳm bên kia bờ đại dương.Cuộc sống ở  quê  hương trước kia của nàng.

Khoảng nửa đêm, Nhung Nữ quay trở về căn nhà gỗ. Người đàn ông vừa mới hoàn thành chương sách nói về lòng tham và sự ganh đua của con người. Khi họ cùng buông mình trên tấm nệm rơm, Nhung Nữ hôn lên mắt người yêu như muốn khép lại lối du hành tâm não. Và nàng khẽ lăn người trong chờ đợi. Nàng cong lưng như đang múa một điệu thần thánh. Rồi họ yêu nhau vào tận cùng đêm tối.

Đời sống lặng lẽ trôi qua với nàng Nhung Nữ. Bản thảo của người đàn ông dày hơn mỗi ngày. Vào mùa Đông khi biển cả và mặt trời không còn là những người bạn thiết của Nhung Nữ, nàng bỏ nhiều thời giờ ở trong nhà. Nàng đeo một bông hoa trên mái tóc để tạo sự chú ý của người đàn ông. Lúc này ông ta đang bắt đầu chương sách khó nhất — chương sách nói về chiến tranh và hòa bình. Khi cánh hoa tàn, Nhung Nữ đem giấu hoa vào trong áo để giữ lấy hương thơm.

Trong những đêm bão tố, khi biển dậy sóng đen tối đầy dọa nạt, Nhung Nữ nép người bên cạnh người đàn ông giữa những trang bản thảo. Nàng bắt đầu đọc.

Khi mùa Xuân trở về, Nhung Nữ đã đọc hết trang bản thảo. Càng đọc nàng càng thấy sợ chính nàng.

Một buổi sáng sớm, trong hương vị còn sót lại của tình yêu, người đàn ông khẽ vuốt ve làn da bóng mịn của Nhung Nữ, và ông ta bắt đầu nói đến chuyện đi xa. Đã đến lúc ông ta phải trở về thành phố để một lần nữa theo đuổi công danh. Cuộc hành trình bên này ngọn núi đã qua, ông ta thì thầm. Bây giờ ông ta đã sẵn sàng để bắt đầu trèo lên ngọn núi cao hơn, khó hơn, nhưng thành quả sẽ vô cùng rực rỡ. Và nhẹ nhàng Nhung Nữ quay sang, hôn bàn chân người nàng yêu, và âm thầm nàng tuột khỏi vòng tay ông.

Rồi từ buổi sáng hôm đó, dân làng không còn thấy bóng nàng Nhung Nữ.

Dân làng nhớ nàng và những điệu vũ ngoài chợ. Nhưng lòng thương xót sẽ hết, và đời sống sẽ tiếp tục, những cuộc buôn bán đổi chác dịch vụ, thổ sản giữa đám thổ dân bình dị với những thương gia tứ xứ, đủ mọi văn hóa, từ bốn phương. Đây là hòn đảo hỗn hợp nơi người ta đến để tìm sự yên bình và nơi mà Nhung Nữ đã sống và đã bỏ đi. Không còn một vết tích gì của nàng.

Người đàn ông trung niên cũng đã bỏ đi. Với hành trang cô độc và những trang bản thảo. Tiếng gọi của sự sáng tạo luôn luôn nặng gánh bên người.

Trong cuốn sách nói về loài người của ông ta, không có chương nào nói về Nhung Nữ.

Để rồi từ buổi đó, thổ dân của hải đảo bắt đầu tìm thấy những hòn ngọc trai lóng lánh trong lòng những con sò yên lặng dọc theo bờ biển. Theo tôi thì trong ngày giã biệt, Nhung Nữ đã đứng hằng giờ chôn đôi chân vũ nữ trong cát trắng, nhỏ những giọt nước mắt vào lòng đại dương. Những hạt lệ tuyệt đẹp đã kết tinh trong lòng những con sò vô tình đã uống lấy lệ nàng.

Ngay cả những con sò cũng trở thành thương cảm.

Nhung Nữ đã phải chọn lựa giữa con đường trở về một cuộc sống nàng có thể có, với cuộc sống nàng đã có. Nàng đã chọn con đường thứ hai. Điệu vũ cuối cùng đã đưa nàng vào lòng biển. Nàng đã để mình trôi dạt theo sóng về quê hương bí mật bên kia bờ đại dương. Hình ảnh sau cùng là hình ảnh tà áo nàng bồng bềnh trên sóng như cánh sen đang nở.

Và theo chuyện kể, thì Nhung Nữ đã biến thành ngư nhân.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Khi nói về lịch sử Việt Nam, người ta thường hay nhắc đến cụm từ “Việt Nam có bốn nghìn năm văn hiến” mà văn hiến là truyển thống văn hóa lâu đời. Người ta cũng nói đến hai chữ văn vật vốn là truyền thống văn hóa biểu hiện ở nhiều nhân tài và nhiều di tích lịch sử.../09 Tháng Sáu 20122:00 CH(Xem: 4568)/
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh ("Tây tiến", thơ Quang Dũng) Xa nhìn thấp thoáng trong mây muôn bóng quân Nam chập chùng... (1) Câu hát ấy, từ bao năm nay vẫn cứ theo tôi, theo tôi mãi. Câu chuyện bắt đầu tư những ngày xa xưa, thuở tôi còn là cậu học trò nhỏ vừa bước vào năm học đầu tiên của một trường trung học ở thành phố cao nguyên có cái biệt danh nghe buồn buồn là "Buồn-muôn-thuở". Cậu học trò ấy, vào mỗi sáng thứ Hai, cùng chúng bạn đứng xếp hàng ngay ngắn trước sân cờ nao nức chờ đợi phút giây được tham dự vào nghi thức thượng kỳ đầu tuần trong bầu không khí thật trang nghiêm giữa sân trường thuở ấy.
“Thế là cậu đã nhẹ nhàng ra đi, rời xa cái thế giới mà cậu đã để lại rất nhiều sau hơn 80 năm góp mặt và đã sống tràn đầy từng phút từng giây. Trước hết, là một nhạc sĩ, cậu đã để lại hơn 200 nhạc phẩm, đã làm phong phú đời sống tinh thần và tình cảm của hàng triệu người nghe, và sẽ còn làm rung động tâm hồn hàng triệu người yêu nhạc nữa trong những thế hệ mai sau. Là một nghệ sĩ tài danh, cậu không kiêu căng lập dị. Trái lại, cậu đã luôn luôn cư xử khiêm tốn, nhún nhường, tôn trọng người khác như tác phong của con người có văn hóa, một đức tính đã khiến cậu được nhiều người mến mộ và noi gương. Là một nghệ sĩ chân chính, cậu đã không để đồng tiền làm vẩn đục tâm hồn. Cậu không đòi hỏi những ca sĩ trình diễn nhạc phẩm của mình phải trả tiền tác quyền mà chỉ nhận tiền của những ban nhạc lớn nhưng hầu hết số tiền thu được cậu đã đem tặng cho các hội từ thiện.
Thầy Cô thân mến, (Nếu được sự đồng ý của các bạn đồng lớp) Ngày mùng ba tết Năm Tân Sửu, con và các bạn học cùng lớp mừng tuổi Thầy Cô. Chúng con không có rượu, không có bánh tét, không có cặp trứng để mừng tuổi Thầy Cô, chỉ có mấy hàng chữ mà Thầy đã dạy chúng con học viết trong những năm tại trường Tấn Đức và lòng tôn trong với một người Thầy Giáo khả kính, hiền lành.
1. Nếu chịu khó đọc đủ nhiều và nghiên cứu sách tỉ mỉ, bạn sẽ không cần và không thích nghe bất cứ diễn giả nào chia sẻ. Nói cách khác, tất cả những gì một diễn giả, một nhà đào tạo nói với bạn đều có sẵn trong sách. 2. Diễn giả, nhà đào tạo ở ta là những kẻ nói lại sách của người khác để trục lợi. Có thể họ nói hùng hồn và dễ hiểu hơn nhưng phần lớn không sâu sắc và không đủ ý. Kiến thức mà thiếu ý là thứ kiến thức nguy hại. Giống như thầy lang đọc sách đau bụng uống nhân sâm. 3. Diễn giả đẳng cấp là kẻ phải ham đọc và ham viết. Họ thường là tác giả có tầm cỡ. Đương nhiên, diễn giả rởm cũng tỏ ra vẻ như mình đọc nhiều sách và khoe mình hay đọc sách. Chết là ở đó. Nhưng tinh ý, bạn sẽ biết họ đọc nhiều thật hay đang nói dối. Ngồi cạnh người đọc sách nhiều và đúng cách, bạn sẽ học được ít nhiều chỉ sau 5 phút. Kẻ đọc sách nhiều không đay nghiến và kì thị ai quá đáng. Họ ghét ai cũng là cái ghét từ bi. Yêu ai cũng không vồ vập.
Thật khó hình dung được thời gian qua nhanh, đã hơn mấy chục năm sống cuộc đời lưu vong tại Calgary, Alberta, miền Tây Canada. Dẫu muốn hay không cũng phải chấp nhận nơi đây là quê hương thứ hai, nơi đã mang và nuôi dưỡng chúng tôi hơn nửa đời người. Tạ ơn Chúa và Canada. Sự kiện đặc biệt đang xảy ra tại vùng này là trong suốt mấy chục năm qua chưa từng có một mùa Đông có nhiều ngày nắng và ấm như thế. Vào những ngày này của tháng giêng, mặt trời chiếu tỏa từ sáng tới chiều và nhiệt độ ấm lên từ 5c-6c vào khoảng một giờ chiều và đã kéo dài hơn hai tuần nay. Toàn tỉnh đang bị lockdown vì covid-19 mà có những ngày đẹp trời cũng tạo cho tâm lý bà con vui vẻ hơn; người người bước ra ngoài để hớp những không khí trong lành của thiên nhiên. Trẻ em thì háo hức chơi đủ trò trên tuyết – người lớn thì đi bộ dọc hai bên đường cùng với những chú chó bị nhốt lâu ngày trong nhà nay có dịp ra ngoài.
Sài Gòn vẫn rất dễ thương Cái tên dù lạ con đường vẫn quen Tôi hay “viện dẫn” hai câu thơ của mình mỗi khi phải hồi âm một cánh thư xa nào đó, thường là câu hỏi “Sài Gòn bây giờ ra sao?” Thật ra trong cảm nhận của tôi, Sài Gòn vẫn thế. Bởi dù trải qua nhiêu bao biến cố thăng trầm, thì Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông, thủ đô trong những trái tim miền Nam ngày nào vẫn không bao giờ thay đổi. Sài Gòn của một thời tôi mới lớn, những “con đường tình ta đi” Duy Tân, Trần Quý Cáp, Tú Xương, Công Lý. Những chiều bát phố Lê Lợi, Tự Do. Những rạp cine. Món bánh tôm hẻm Casino (Sài Gòn). Những xe bò viên Nguyễn Thiện Thuật. Bánh mì thịt trước chợ Trương Minh Giảng, gỏi đu đủ – khô bò – nước mía Viễn Đông (góc Lê Lợi – Pasteur)…
...chỉ với Mùa Xuân chín, Hàn Mặc Tử đã luôn là một nỗi nhớ khôn nguôi của người yêu thơ, yêu cái đẹp khi xuân về. Trong làn nắng ửng: khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng. Sột soạt gió trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang. Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời Bao cô thôn nữ hát trên đồi; Ngày mai trong đám xuân xanh ấy, Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi… Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi, Hổn hển như lời của nước mây, Thầm thì với ai ngồi dưới trúc, Nghe ra ý vị và thơ ngây… Khách xa gặp lúc mùa xuân chín, Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng: “Chị ấy, năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?” Có một chàng thi sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh sống vào khoảng nửa đầu thế kỷ 20 ở Nam Trung Bộ. 16 tuổi, chàng đã làm bài thơ đầu tiên. Chàng đã sống, đã đi, đã yêu tha thiết và đã đau đớn cùng cực.
Truyện Kiều là một tuyệt tác trong văn học sử Việt Nam, điều này ai cũng công nhận. Theo Phạm Quỳnh, “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”, nhưng ông và nhiều học giả khác không phân tích rõ Truyện Kiều hay như thế nào và tại sao tác phẩm này đặc biệt. Dù sao thì Truyện Kiều cũng có ảnh hưởng rất rộng với đại chúng, đa số người Việt biết thưởng thức thơ hay và ít quan tâm đến những phân tích phê bình của những nhà nghiên cứu. Lãng Nhân có nhận xét về một điểm vô lý trong Truyện Kiều: Khi mấy chị em đi chơi lễ Thanh Minh và thấy một nấm mồ hoang, em trai Thúy Kiều là Vương Quan chỉ là một cậu bé học trò 14-15 tuổi, vậy mà kể rành rẽ tiểu sử người kỹ nữ quá cố giống như một tay ăn chơi lão luyện: Vương Quan mới dẫn gần xa, Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi Nổi danh tài sắc một thì, Xôn xao ngoài cửa thiếu gì yến anh. Phận hồng nhan có mong manh, Nửa chừng xuân, thoắt gẫy cành thiên hương!
- Chúng ta đa số đều biết rằng các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn từ 1934 - 1940 có gốc gác khởi xuất từ miền Bắc, viết văn, viết sách, thơ, truyện, thường họ chỉ dùng (GI) cho "giòng sông, giòng nước". Thí dụ như: a) Nhất Linh: "Giòng Sông Thanh Thủy". b) Tú Mỡ: "Giòng Nước Ngược". c) Thạch Lam: "Theo Giòng". - Còn các nhà văn, trí thức lớp sau, thường có xuất thân tại miền Nam, trước khi xảy ra biến cố 1975, họ hầu hết sử dụng (D) cho "dòng sông, dòng nước". Thí dụ như: a) Doãn Quốc Sỹ: "Dòng Sông Định Mệnh (1959). b) Nhật Tiến: "Tặng Phẩm Của Dòng Sông (1972). c) Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy: "Dòng Nước Sông Hồng" (viết 1945, in lại vào thi tập năm 1985). - Và sau hơn nữa đó là: a) Ngô Thế Vinh: "Mekong, Dòng Sông Nghẽn Mạch (2007).
Bảo Trợ