Tại Sao Thánh Giá Lại Mang Tượng Chúa Phục Sinh?

14 Tháng Giêng 20219:59 SA(Xem: 182)

Phan Tấn Thành

Tại một số nhà thờ mới cất bên Việt Nam, người ta thấy trên Thập giá thay vì tượng Chúa chịu nạn lại có tượng Chúa Phục sinh hay Linh mục Thượng phẩm. Tại sao lại có sự thay đổi ấy? 
chuaphucsinh

Từ sau công đồng Vaticanô II, người ta chứng kiến một số thay đổi trong lãnh vực phụng vụ. Thoạt tiên xem ra có vẻ mới, và khiến cho có người băn khoăn: phải chăng công đồng Vaticanô II đã thay đổi đức tin của Giáo hội? Thế nhưng nếu xét kỹ ra, thì nhiều sự thay đổi không hoàn toàn mới nhưng lấy lại truyền thống từ lâu đời của Giáo hội mà thôi. Tỉ như ngôn ngữ dùng trong phụng vụ: vào những thế kỷ đầu, phụng vụ được cử hành bằng tiếng địa phương, và thậm chí tại Rôma ngôn ngữ của phụng vụ là tiếng Hy-lạp, tức là tiếng giao thông thương mại thời đó, chứ không phải là tiếng La-tinh. Ta cũng có thể nói một cách tương tự như vậy về việc thay đổi tượng Chúa chịu nạn bằng tượng Chúa Phục sinh: đây không phải là sự canh tân, song là trở về nguồn. Ta cần phải lồng vấn đề này trong lịch sử của việc người Kitô hữu tôn kính thánh giá của Chúa. Đại khái, ta có thể chia ra bốn giai đoạn như sau.

Thứ nhất, trong những thế kỷ đầu, người Kitô hữu không có trưng bày thập giá nơi công. Lý do vì thời ấy, thập giá la nhục hình của người Rôma để xử những tên đại phạm. Ta có thể tưởng tượng rằng dân tộc mình tuy có ghi ơn các anh hùng liệt sĩ chống thực dân Pháp, nhưng chắc không ai lại xây đài kỷ niệm để tôn kính cái máy chém mà người Pháp đã xử tử các liệt sĩ ấy. Ngoài ra có thể còn lý do khác nữa: cảnh sát Rôma đang lùng bắt các Kitô hữu; thập giá mà họ mang có thể trở nên dấu hiệu phát lộ căn cước của mình và có nguy cơ bị chộp.

Tuy nhiên tình trạng vừa nói bị lật ngược từ thế kỷ IV. Và ta có thể gọi là giai đoạn hai. Giáo hội được hưởng hoà bình. Không cần phải giấu diếm các thập tự nữa, nhất là từ khi Constantinô nhìn nhận ông đã thắng trận nhờ một dấu Thánh giá hiện ra trên trời. Ông cũng ra lệnh bãi bõ hình phạt xử tử trên thập giá. Việc tôn kính thập giá được phát triển mạnh kể từ khi chính vua Constantinô tìm thấy thánh giá của Chúa Giêsu tại Giêrusalem nam 326.

Tuy nhiên, ta nên biết rằng cho đến lúc này việc trưng bày và tôn kính chỉ dành cho chính Thập giá mà thôi, nghĩa là không có hình ảnh của Chúa Giêsu. Thực vậy, tuy những Thập giá được trang hoàng với những viên ngọc quý báu, với những tia sáng tỏa ra, nhưng chỉ là thập giá trần trụi. Tại sao vậy? Có lẽ người tín hữu thời đó không muốn nhìn thấy Đức Giêsu trần truồng trên thập giá, nhưng muốn nhìn thấy Thập giá như là nguồn sống, dấu hiệu của sự chiến thắng tội lỗi, và vinh quang Phục sinh.

Từ đó, chúng ta bước sang một giai đoạn thứ ba. Mỗi khi muốn trình bày đức Kitô trên Thập giá, thì hoặc là người ta trình bày biểu tượng tỉ như hai chữ mẫu tự Hy-lạp bắt đầu tên đức Kitô, hoặc hình ảnh Chiên Thiên Chúa (chiên hiến tế nói trong sách Khải huyền), hoặc đức Kitô vinh hiển.

Mãi đến thời Trung cổ, với sự phát triển của nền thần bí chú trọng đến nhân tính đau khổ của đức Kitô, người ta mới thấy tạc tượng Chúa chịu nạn, đầu đội mão gai với những thương tích trên thân mình. Ta có thể coi đây là giai đoạn thứ bốn. Tóm lại, xét theo lịch sử, thì việc trình bày Chúa chịu nạn trên Thập gia xuất hiện sau việc trình bày Chúa Phục sinh.

Tuy nhiên, nếu muốn trung thực với lịch sử, thì phải trình bày Chúa chịu nạn mới đúng chứ: Chúa chết trên Thập giá chứ khi sống lại thì đâu có còn Thập giá nữa. Nhất là khi dâng Thánh lễ, tưởng niệm việc Chúa chịu chết, thì Thập giá trên bàn thờ phải trình bày Chúa chịu nạn mới hợp với ý nghĩa thần học chứ.

Dĩ nhiên, nếu muốn trung thực với lịch sử thì tượng Chúa trên thập giá phải là Chúa chịu nạn mới đúng. Nhưng nếu xét theo thần học thì khác, xét về thần học của Thập giá lẫn thần học của Thánh Lễ.

Xét về thần học của Thập giá, thì thánh Gioan đồng hóa việc Chúa Giêsu bị treo lên Thập giá với việc tôn vinh: việc treo lên đồng hóa với việc cất nhắc lên. Thập giá không phải chỉ là biểu hiệu của đau khổ, nhưng cũng là biểu hiệu của vinh quang, mở đường cho cuộc Phục sinh nữa.

Còn xét về thần học Thánh lễ, thì chúng ta cũng không được quên rằng Thánh lễ không những chỉ tưởng niệm việc Chúa chịu chết, nhưng còn tưởng niệm việc Chúa sống lại nữa. Nói tóm lại, xét dưới khía cạnh thần học, thì tượng Chúa chịu nạn hay tượng Chúa phục sinh đều đúng cả. Mầu nhiệm Vượt qua của đức Kitô bao gồm cả sự chết và sống lại. Nhưng một hoạ sĩ khó có thể trình bày hai khía cạnh ấy trong một tác phẩm được. Ngoài ra, ta có thể thêm một tư tưởng khác khác nữa: việc Chúa dang tay ra cũng hàm ngụ ý nghĩa cầu nguyện; vì thế không lạ gì có những hoạ sĩ muốn trình bày Đức Kitô trên Thập giá trong phẩm phục Thượng tế: không những Ngài chỉ dâng hiến lễ một làn trên thập giá, nhưng Ngài vẫn còn tiếp tục chuyển cầu cho chúng ta, theo thần học của lá thư gửi Do thái.

Luôn tiện, xét về lịch sử của việc đặt thánh giá trong nhà thờ, nên biết rằng bên Đông phương người ta đã đặt Thánh giá trên bàn thờ từ thế kỷ V; nhưng bên Tây phương thì muộn hơn. Lúc đầu, chỉ có thánh giá (không có tượng) dùng để rước kiệu; và thánh giá được đặt cạnh bàn thờ trong buổi cử hành phụng vụ, sau đó lại theo đoàn kiệu cất vào phòng áo. Mãi đến thế kỷ XIII, Đức Giáo hoàng Innôcentê III mới buộc đặt Thánh giá trên (chứ không phải cạnh) bàn thờ. Và sang thế kỷ sau, mới thêm rằng Thánh giá phải mang tượng Chúa chịu nạn.

Thế thì phải đặt Thập giá trên bàn thờ hay trên tường?

Cho đến công đồng Vaticanô II, khi các bàn thờ xây sát vào tường cuối nhà thờ, vấn đề không được đặt ra. Thánh giá ở trên tường cũng là ở trên bàn thờ. Nhưng sau công đồng, bàn thờ được tách ra khỏi tường vì linh mục làm lễ quay xuống bổn đạo. Tôi nghĩ thánh giá trên tường đã đủ. Đó là chưa kể ở những nhà thờ đã được cung hiến theo luật phụng vụ còn có 12 dấu thập giá ở hai tường bên hông nhà thờ.

Nhân nói về thập giá, con muốn hỏi cha: tại sao có cha làm dấu thánh giá ban phép lành với ba ngón tay còn hai ngón kia chụm lại; có cha thì giơ thẳng cả năm ngón?

Việc làm dấu Thánh giá với ba hay năm ngón tay có cả một lịch sử của nó. Theo các sử gia, tục lệ làm dấu Thánh giá với hai hay ba ngón tay xuất hiện bên Đông phương hồi thế kỷ VI với lý do thần học. Làm dấu với hai ngón tay nhằm tuyên xưng đức Kitô gồm có thiên tính và nhân tính, để chống lại lạc giáo Monophysit (chủ trương đức Kitô chỉ có thiên tính); còn làm dấu với ba ngón nhằm tuyên xưng Ba Ngôi Thiên Chúa. Tục lệ ấy về sau được du nhập vào Tây phương, cách riêng khi các linh mục làm dấu Thánh giá trên của lễ hoặc khi ban phép lành cho giáo dân.

Thế còn các giáo dân có được làm dấu Thánh giá với 3 ngón hay 5 ngón tay không?

Điều đó không ai cấm cũng không ai buộc. Nên biết là trong lịch sử có nhiều hình thức làm dấu thánh giá. Từ thế kỷ II, người tín hữu đã có thói quen vạch dấu thánh giá trên trán bằng ngón tay cái hay ngón hay trỏ. Đến thế kỷ IV thì làm dấu thánh giá trên ngực nữa. Còn dấu thánh giá trên môi thì mãi tới thế kỷ VIII mới thấy nói tới. Đó là cái mà chúng ta quen gọi là làm dấu thánh giá kép.

Còn dấu thánh giá đơn vạch từ trán xuống ngực và qua hai vai thì xuất hiện riêng tư từ thế kỷ V, nhưng chỉ được phổ biến từ thế kỷ X trong các đan viện. Hồi thế kỷ XIII, ĐGH Innôcentê III khuyên nên làm dấu thánh giá như vậy với ba ngón tay, từ trán xuống ngực, rồi từ vai phải sang vai trái. Thế nhưng qua thế kỷ sau, thì người ta làm dấu với 5 ngón tay, và đổi ngược thứ tự hai vai, nghĩa là từ trái sang phải. Trong khi bên Tây phương, thì khi làm dấu thánh giá người ta quen đọc: “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”; bên Đông phương thì người ta dùng nhiều công thức khác nhau, tỉ như:

“Lạy Chúa chí thánh, Lạy Chúa Chí thánh và Hùng mạnh, Lạy Chúa Chí thánh, Hùng mạnh và Bất tử, xin thương xót chúng con”.

– Dù sao, theo tôi nghĩ, vấn đề quan trọng không phải là làm dấu với mấy ngón hoặc vai nào trước vai nào sau, nhưng tiên vàn là vạch cho ra hình thập giá chứ không phải nguệch ngoặc như đuổi ruồi. Thứ đến chúng ta nên ý thức ý nghĩa của việc làm dấu như vậy. Nó là sự tuyên xưng rằng chúng ta là người Kitô; tuyên xưng rằng chúng ta để cho Ngài ghi ấn trên bản thân chúng ta, cũng như tuyên xưng rằng Ngài đã cứu rỗi chúng ta nhờ Thập giá. Mặt khác dấu ấy cũng là lời kêu van, xin Chúa đến giúp chúng ta nhờ sức mạnh cứu rỗi từ thập giá. Sau cùng, nó cũng có nghĩa hiến dâng: chúng ta dâng cho Chúa công việc sắp khởi sự, ngõ hầu làm vinh danh cho Thiên Chúa Ba Ngôi.


Theo Hocvien Daminh
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
– Vào thứ Ba 8-12-2020, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã công bố Năm Thánh Giuse, để kỷ niệm 150 năm ngày thánh nhân được công bố là người bảo trợ Giáo hội hoàn vũ. Đức Giáo hoàng Phanxicô cho biết ngài thiết lập Năm Thánh này để “mọi tín hữu theo gương Thánh Giuse, củng cố đời sống đức tin bằng cách hằng ngày thực hiện trọn vẹn ý muốn của Chúa.” Dưới đây là những điều bạn cần biết về Năm Thánh Giuse: Tại sao lại có những năm được mang các chủ đề cụ thể (từ Giáo hội)? Giáo hội cử hành diễn trình của thời gian qua lịch phụng vụ - bao gồm các lễ như Phục sinh và Giáng sinh, và các mùa như Mùa Chay và Mùa Vọng. Ngoài ra, các vị Giáo hoàng còn có thể dành riêng những khoảng thời gian nào đó để Giáo hội suy ngẫm sâu sắc hơn về một khía cạnh cụ thể của giáo huấn hoặc niềm tin Công giáo. Một số năm trước đây đã được các vị giáo hoàng gần đây chọn lựa như thế, bao gồm Năm Đức Tin, Năm Thánh Thể và Năm Thánh Lòng Thương Xót.
Tại Việt Nam, ít ai biết được rằng 150 năm trước khi thi hào Nguyễn Du qua đời (1820), văn chương Công giáo đã có một tác phẩm lục bát bằng chữ Nôm đạt mức tuyệt tác: Tác phẩm Sấm Truyền Ca (1670), diễn ca 5 quyển đầu của Cựu Ước, do cha Lữ Y Đoan, một trong những linh mục thế hệ đầu của địa phận Đàng Trong. Cũng chính năm 1820 tác phẩm được phiên âm sang chữ quốc ngữ. Sau một vận mệnh hẩm hiu suốt hơn ba trăm năm, cuối thế kỷ XX chỉ còn hơn 1/5 tác phẩm sống sót: Sách Sáng Thế Ký (Tạo đoan kinh) và 21 chương đầu của sách Xuất Hành (Lập quốc kinh). Năm 1993 một số trí thức Công giáo đã thực hiện hồ sơ “Về các tác giả Công giáo thế kỷ XVII-XIX”, do Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Tp HCM ấn hành. Quyển sách đã giới thiệu tác phẩm Sấm Truyền Ca đến công chúng.
Từ ngữ: tuyên thánh đúng hơn là phong thánh: Từ phong thánh quen dùng trong tiếng Việt, nguyên ngữ từ tiếng Hy Lạp “Kanon” có nghĩa là thước đo hay tiêu chuẩn hay được nhìn nhận là có giá trị. Ý nghĩa nầy được tìm thấy trong động từ canonizare của tiếng La tinh, rồi canoniser trong tiếng Pháp và Canonize trong tiếng Anh. DHYThuan-ChaDiep.jpg Những tín hữu trong thế kỷ đầu đã phong thánh cho các Tông Đồ khi gọi các Ngài là Thánh. Những vị tử đạo cũng được gọi là thánh. Rồi những thế kỷ kế tiếp, những giáo dân có đời sống thánh thiện, nêu gương sáng và thành mực thước cho người đời cũng được tuyên bố “đang ở trên thiên đàng” tức là thánh. Như vậy theo từ Kanon và theo truyền thống, Giáo Hội không hề phong thánh hay không hề làm cho ai thành thánh cả. Giáo Hội, qua thời gian cầu nguyện lâu dài và qua những phép lạ được thực hiện nhờ lời chuyển cầu của ...
I. Nữ vương các thánh tử đạo 1) Tại sao Đức Maria được gọi là Nữ vương các thánh tử đạo? 2) Tại sao chọn Nữ vương các thánh tử đạo làm bổn mạng tỉnh dòng? 3) Tỉnh dòng có tình cảm gì đối với Nữ vương các thánh tử đạo? II. Nữ vương các chứng nhân 1) Tân ước có nền tảng cho tước hiệu Đức Maria “Nữ vương các chứng nhân” không? 2) Đức Maria đã sống đời chứng nhân đức tin như thế nào? 3) Tước hiệu “Nữ vương các chứng nhân” có ý nghĩa gì đối với chúng ta? ————- Đây không phải là lần đầu tiên tôi được mời chia sẻ với anh em nhân dịp bổn mạng tỉnh dòng. Vì không muốn lặp lại những điều đã trình bày cho nên năm nay tôi muốn tìm một lối tiếp cận mới liên quan đến danh hiệu bổn mạng tỉnh dòng, qua tựa đề: “Nữ Vương các tử đạo hay Nữ vương các chứng nhân?” Xin anh em hãy kiên nhẫn chịu tử đạo khi nghe bài suy niệm hơi dài, và có thể gây nhiều cú sốc.
Trả lời: Vâng, quả thật hộp sọ xuất hiện rất thường xuyên trong nghệ thuật Ki-tô Giáo và ngay cả ngày nay. Tôi có thể hiểu câu hỏi của bạn về thực hành này; bởi vì việc đặt hộp sọ ở khắp mọi nơi có vẻ như là một cái gì đó không lành mạnh – đặc biệt đối với những người đang sống trong một xã hội tiêu dùng và thế tục, nơi người ta thường lảng tránh suy nghĩ về những điều sâu sắc chẳng hạn như cái chết và những gì xảy ra sau đó. Một hộp sọ lành mạnh Khi nghệ thuật Ki-tô Giáo miêu tả những hộp sọ ở gần các vị thánh, nó tượng trưng cho sự khôn ngoan và thận trọng của các ngài. Hộp sọ là hình ảnh đại diện một cách sống động và hấp dẫn về cái chết của con người.
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma. Hỏi: Thưa cha, liệu Thánh lễ cầu cho người khi còn sống là hiệu lực hơn (mạnh hơn) so với Thánh lễ cầu nguyện sau khi đã chết không? Thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV đã nói Thánh lễ cầu cho khi còn sống là hiệu lực hơn. Xin cha bình luận việc này cho nhiểu người biết. - S. T., Chicago, Hoa Kỳ Đáp: Trong khi bạn đọc trên không cung cấp nguồn của các ý kiến này của thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV, tôi vẫn cho đó là ý riêng của bạn ấy.Bằng cách nào chúng ta có thể nói rằng Thánh Lễ này là "mạnh hơn" (hiệu lực hơn) so với Thánh lễ kia?
Phụng vụ mừng lễ Các Thánh vào ngày đầu tháng 11, và ngày hôm sau, tưởng nhớ các người qua đời. Xét theo nguồn gốc lịch sử, lễ kính nào ra đời trước: việc kính nhớ các người qua đời có trước, hay lễ các thánh có trước? Linh mục Phan Tấn Thành trả lời. Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải phân biệt nhiều vấn đề. Việc kính nhớ các linh hồn qua đời là một chuyện, còn việc dành ra một ngày trong năm để tưởng nhớ tất cả các linh hồn là chuyện khác. Một cách tương tự như vậy, kính nhớ các thánh là một chuyện, còn dành ra một ngày để kính nhớ tất cả các thánh là một chuyện khác. Chúng ta sẽ cố gắng đi từng bước một: chúng ta hãy khởi hành với thực tại ngày nay, rồi chúng ta sẽ đi lùi ngược lại dòng lịch sử. Ngày nay lễ tưởng nhớ các người qua đời diễn ra vào ngày hôm sau lễ các thánh. Từ khi nào lịch phụng vụ ấn định việc cử hành hai ngày lễ đó?
Cùng với lời kinh cầu nguyện với Đức Mẹ đã được Đức Thánh Cha đọc trong video trong Thánh lễ do Đức Hồng y Giám quản Roma cử hành tại đền thánh Đức Mẹ Tình yêu Chúa ngày 11/03 vừa qua, Đức Thánh Cha đề nghị thêm một kinh nguyện để các tín hữu cầu nguyện vào cuối buổi đọc kinh Mân Côi, xin Đức Mẹ bảo vệ thế giới khỏi đại dịch. Hồng Thủy - Vatican
Đây là lời nguyện chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam để cầu nguyện trong cơn dịch bệnh Covid-19. Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi toàn năng chúng con đang họp nhau cầu nguyện, tha thiết nài xin cho cơn dịch bệnh mau chấm dứt. Lạy Chúa Cha giàu lòng thương xót xin nhìn đến nỗi thống khổ của đoàn con trên khắp thế giới, đặc biệt tại những nơi dịch bệnh đang hoành hành. Xin củng cố đức tin của chúng con, cho chúng con hoàn toàn tín thác vào tình yêu quan phòng của Cha. Lạy Chúa Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất, là vị lương y đầy quyền năng và lòng thương xót, xin thương cho các bệnh nhân sớm được chữa lành, và an ủi các gia đình đang gặp khó khăn thử thách. Xin cho lời chúng con khiêm tốn cầu nguyện, được chạm tới trái tim nhân lành của Chúa, xin giảm bớt gánh nặng khổ đau, và cho chúng con cảm nhận được bàn tay Chúa đang ân cần nâng đỡ chúng con.
Những ngày này, cả thế giới hồi hộp với sự lây lan nhanh chóng của virus Corona. Tại Trung Quốc, nhiều thành phố nội bất xuất, ngoại bất nhập. Bầu không khí u ám, chết chóc bao trùm nhiều nơi. Tại Việt Nam cũng như nhiều nước, nhà chức trách ráo riết vào cuộc để ngăn chặn cơn dịch nguy hiểm này. Là người Công Giáo, chúng ta không thể làm gì khác hơn là cầu nguyện trong cơn đại dịch này. Vì virus Corona xuất hiện đầu tiên tại thành phố Vũ Hán bên Trung Quốc, nên virus này được đặt tên là corona/coronavirus Vũ Hán,
Bảo Trợ