Đề Tài Này Vẫn Còn Tranh Cãi Mãi? "d" Hay "gi"? "dòng" Hay "giòng"?

06 Tháng Giêng 20219:42 SA(Xem: 67)

ĐỀ TÀI NÀY VẪN CÒN TRANH CÃI MÃI? "D" HAY "GI"? "DÒNG" HAY "GIÒNG"?


- Chúng ta đa số đều biết rằng các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn từ 1934 - 1940 có gốc gác khởi xuất từ miền Bắc, viết văn, viết sách, thơ, truyện, thường họ chỉ dùng (GI) cho "giòng sông, giòng nước". Thí dụ như:
tiengviet
a) Nhất Linh: "Giòng Sông Thanh Thủy".
b) Tú Mỡ: "Giòng Nước Ngược".
c) Thạch Lam: "Theo Giòng". 

- Còn các nhà văn, trí thức lớp sau, thường có xuất thân tại miền Nam, trước khi xảy ra biến cố 1975, họ hầu hết sử dụng (D) cho "dòng sông, dòng nước". Thí dụ như:

a) Doãn Quốc Sỹ: "Dòng Sông Định Mệnh (1959).
b) Nhật Tiến: "Tặng Phẩm Của Dòng Sông (1972).
c) Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy: "Dòng Nước Sông Hồng" (viết 1945, in lại vào thi tập năm 1985).

- Và sau hơn nữa đó là:

a) Ngô Thế Vinh: "Mekong, Dòng Sông Nghẽn Mạch (2007). 

I. Vậy câu hỏi ở đây là chúng ta nên sử dụng theo ai cho hợp lý, cho đúng cách dùng? Theo các nhà văn lớp trước hay các nhà văn lớp sau? 

1/ Đầu tiên, trong ba cuốn tự điển Việt Ngữ ta có thể cho là có uy tín nhất của Việt Nam tới hiện nay, TẤT CẢ cùng viết là "dòng". Đó là:

a) "Việt Nam Tự Điển" của Hội Khai Trí Tiến Đức (trang 155).
b) "Tự Điển Việt Nam" của Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ (quyển Thượng, trang 376).
c) "Đại Nam Quấc Âm Tự Vị" của Huỳnh Tịnh Của (quyển I, trang 243).
d) Ngoài ra cuốn "Việt Ngữ Chánh Tả Tự Vị" do nhà ngữ học Lê Ngọc Trụ biên soạn cũng viết "dòng" (trang 141).

2/ Các tự điển do những học giả có uy tín khác biên soạn cũng viết "dòng". Thí dụ như:

a) "Vietnamese-English Dictionary" của giáo sư Nguyễn Đình Hòa (trang 126).
b) "Giúp Đọc Nôm Và Hán Việt" của linh mục Trần Văn Kiệm (trang 388).

3/ Hầu hết các tự điển Việt Ngữ xuất bản ở trong nước hiện nay và tự điển chữ Nôm (ở trong nước cũng như ở hải ngoại) cùng đều viết “dòng”:

a) "Tự Điển Chữ Nôm Trích Dẫn" (Westminster, CA, 2009 - trang 299).
b) "Tự Điển Chữ Nôm Dẫn Giải (Hà Nội, 2012) - trang 452).

- Các nhà biên soạn tự điển có lý do để viết “dòng” (với D) bởi vì:

a) Trong chữ Nôm, chữ "dòng" ấy được viết như sau (𣳔).
b) Phía trước là bộ Thủy (氵= nước) để cho biết có "liên quan đến nước".
c) Phía sau là chữ Dụng (用 = dùng) để chỉ cách "phát âm". 

- Vậy đó là một chữ có "liên quan đến nước", và "phát âm" giống chữ DỤNG (trong chữ Nôm đọc là DÙNG).

- Và do phát âm giống “dụng” và "dùng", chúng ta cũng thấy âm thanh khi phát ra là “dòng” rõ ràng gần và tự nhiên hơn.

- Khi đã phát âm là “dòng,” thì viết với mẫu tự D là đúng. 

- Vì lẽ đó, những ai năng tra cứu tự điển hoặc biết qua chữ Nôm (các giáo sư Doãn Quốc Sỹ, Trần Trọng San... và những người tốt nghiệp Văn Khoa sau các ông) đều có khuynh hướng viết là “dòng”.

- Giáo sư, nhà văn Doãn Quốc Sỹ là con rể nhà thơ Tú Mỡ. Là một giáo sư Quốc Văn, dạy về "Tự Lực Văn Đoàn", ông biết rất rõ nhạc phụ đã viết "Giòng Nước Ngược", cũng như Nhất Linh, Thạch Lam đã viết "Giòng Sông Thanh Thủy", "Theo Giòng", nhưng ông không theo. 

- Trong cương vị một nhà giáo, ông viết "Dòng Sông Định Mệnh" vì nghĩ rằng như thế đúng hơn. 

- Nhà văn Nhật Tiến có giao tình thân với văn hào Nhất Linh. Ông là người đọc lời vĩnh biệt khi hạ huyệt trong tang lễ Nhất Linh ở Sàigòn ngày 13.07.1963. Tuy biết rất rõ Nhất Linh đặt tên cho tác phẩm cuối đời của mình là "Giòng Sông Thanh Thủy", nhưng năm 1972 Nhật Tiến vẫn đặt tên cho một tập truyện mới ra đời của ông là "Tặng Phẩm Của Dòng Sông". 

- Trong "Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển", khi cho in các tác phẩm văn học, giáo sư Dương Quảng Hàm cũng viết "dòng":

a) Sông Lục đầu sáu khúc nước chảy xuôi một DÒNG (Ca dao).
b) Bình bạc vỡ tuôn đầy DÒNG nước (bản dịch Tỳ bà hành). 

- Khi phiên âm Truyện Kiều, các học giả Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh cũng đều viết "dòng":

a) Nao nao DÒNG nước uốn quanh (câu 55).
b) Đem mình gieo xuống giữa DÒNG trường giang (câu 2636). 

- Các học giả của Miền Nam trước 1975 như Giáo sư Trần Trọng San trong cuốn "Văn Học Trung Quốc Đời Chu Tần", cũng luôn luôn viết: "ngược dòng, xuôi dòng, dòng dõi...".  

II. Tại sao các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn lại viết “giòng”? 

- Khi các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn viết "Giòng Nước Ngược" và "Theo Giòng", tuy lúc ấy "Tự Điển Việt Nam" của Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ cùng "Việt Ngữ Chánh Tả Tự Vị" của Lê Ngọc Trụ chưa ra đời, nhưng hai bộ tự điển của Huỳnh Tịnh Của và Hội Khai Trí Tiến Đức đã xuất hiện (1895 và 1931). 

- Rất có thể các vị lớp trước ngoài Bắc không lưu tâm đúng mức đến bộ tự điển của Huỳnh Tịnh Của được xuất bản ở trong Nam. Nhưng cũng có nhiều phần vì các vị này có "thành kiến" với Hội Khai Trí Tiến Đức. 

- Báo Phong Hóa đã đăng rất nhiều thơ văn giễu cợt, châm biếm Hội này. Trong khung cảnh ấy, việc theo những đề nghị về phương diện chính tả do tự điển Khai Trí Tiến Đức đưa ra là ĐIỀU KHÓ XẢY RA. (ML: do ganh tỵ, coi thường, thủ cựu?)

III. "Tự Lực Văn Đoàn" cũng có mắc phải những sai lầm khác về phương diện chính tả. 

- Khi xuất bản lần đầu năm 1936, tập truyện ngắn của Khái Hưng mà nay chúng ta gọi là “Dọc Đường Gió Bụi” đã được in với nhan đề "Giọc Đường Gió Bụi" (http://www.worldcat.org/title/gioc-ng-gio-bui-truyen-ngan/oclc/64086678). 

- Thời nay chúng ta cùng biết rằng viết như thế là sai. Câu đầu bài “Chí làm trai” của Nguyễn Công Trứ vẫn được phiên âm là: 

"Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc"
(Nguyễn Công Trứ) 

- Tự Lực Văn Đoàn có những đóng góp rất quý giá về phương diện văn học và xã hội. Về văn học, đóng góp của Tự Lực Văn Đoàn cho nền văn xuôi Việt Nam (và cho cả Thơ Mới) rất đáng kể. Nhưng cách viết chữ quốc ngữ ở thời Tự Lực Văn Đoàn chưa hoàn hảo về phương diện chính tả. Đọc lại báo Phong Hóa, chúng ta thấy lỗi chính tả khá nhiều.

- Vì những lẽ ấy, tuy vẫn nên viết tên các tác phẩm của Nhất Linh, Tú Mỡ, Thạch Lam là "Giòng Sông Thanh Thủy", "Giòng Nước Ngược", "Theo Giòng" (đó là những danh từ riêng, tên các tác phẩm đã có địa vị trong văn học sử), chúng ta vẫn nên viết “dòng” (dòng nước, dòng dõi, dòng tu...) trong những trường hợp khác.

* PHẦN GÓP Ý:

1) Nhà văn Nhật Tiến (California):

- Dĩ nhiên ta tôn trọng các tác phẩm đã in thành sách như của Nhất Linh "Giòng Sông Thanh Thủy", Tú Mỡ "Giòng Nước Ngược"... và biết ơn công trình làm mới văn chương của Tự Lực Văn Đoàn từ giữa thế kỷ trước. Nhưng phải nói rằng trong hai cơ quan ngôn luận của văn đoàn này, tờ Phong Hóa và tờ Ngày Nay hãy còn chứa đầy rẫy lời văn thô sơ hay lỗi chính tả. 

- Như một số mục chính trên tờ Phong Hóa đã dùng những từ mà cho đến nay không còn ai dùng nữa như CHUYỆN Ngắn thay vì Truyện Ngắn, Từ Nhỏ Đến NHỚN thay vì Từ Nhỏ Đến Lớn, Hạt Đậu DỌN thay vì Hạt Đậu Nhọn, tòa soạn quảng cáo: “Xem Phong Hóa số Tết, 20 trang. In MÙI, có bìa giấy trắng” thay vì “Xem Phong Hóa số Tết, 20 trang. In mầu, có bìa giấy trắng” ..v..v...

- Cho nên tôi hoàn toàn đồng ý với những nhận định xác đáng của anh Trần Huy Bích về việc viết chữ “dòng sông,” thay vì viết “giòng sông”.

2) Bác Sĩ Hà Ngọc Thuần (Brisbane, Úc Châu):

- Bài viết của Anh Trần Huy Bích có thể gọi là “tường-tận”. "Tường" là nói rõ ràng, và "tận" là đã nói tới cùng. Có hai hệ-luận như sau: một là trong tương-lai chúng ta nên cùng đồng ý viết “dòng”, nhưng vì Việt Nam không có Hàn Lâm Viện để quy định chính tả nên việc này tuy dễ mà khó. Vả lại trong văn chương chẳng nên có sự bức bách, bắt người viết phải theo ý kiến mình, dù đó là ý kiến của số đông.

- Cũng không nên có sự chê trách vội vã đối với một bài văn vì một vài “lỗi” chính tả mà quên đi ý tưởng của toàn thể bài viết. Việc này thường đưa đến những mối bất hòa không cần thiết. Hai là sau này khi tái bản chúng ta có dám, hay có nên, thay đổi tựa đề của tác giả mà in là “Dòng Sông Thanh Thủy” (Nhất Linh), “Theo Dòng” (Thạch Lam) và “Dòng Nước Ngược” (Tú Mỡ), hay là chúng ta bắt buộc phải tôn trọng các tác giả và giữ nguyên tựa đề như đã viết trong quá khứ?

3) Nha Sĩ Nguyễn Thị Mỹ Ngọc (Columbus, Ohio):

- Bản thân tôi nhiều khi cũng lúng túng vì chữ “dòng sông” và “giòng sông”.

- Cám ơn anh Huy Bích đã tra cứu và giảng giải rất cặn kẽ. Từ nay tôi sẽ dùng chữ “dòng” mà không còn phải lưỡng lự gì nữa.

- Còn chữ “giòng” coi như chữ cổ, vì ngôn ngữ theo thời gian có thể đọc khác đi một chút, như “ông trời” ngày trước ta gọi là “ông giời” vậy.

4) Huy Văn Trương (Bellflower, California):

- Tôi thường viết “dòng sông, dòng dõi, dòng họ” vì tôi dựa theo tự điển của Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ do nhà sách Khai Trí xuất bản năm 1970 tại Sài Gòn.

- Trong cuốn tự điển này KHÔNG có chữ “giòng” nào hết. Tôi dùng cuốn tự điển này vì tôi thấy nó tạm đủ so với nhiều cuốn khác. Tuy vậy trong đó cũng có nhiều chữ, theo tôi nghĩ vẫn còn trong vòng tranh cãi, như người ta thường viết là “chia sẻ”, thì trong Tự Điển Lê Văn Đức viết là “chia xẻ”...

- Từ trước tới giờ tôi viết “dòng sông” vì theo tự điển nhưng vẫn thấy lấn cấn thế nào đó. Đọc bài viết của anh xong, tôi không còn thấy lấn cấn nữa, mọi thắc mắc đã được giải toả. Đề nghị anh đăng bài này lên nhiều tờ báo để mọi người cùng được đọc.

5) Nguyễn Thị Ngọc Dung, cựu giáo sư Trung Học Võ Tánh, Nha Trang:

- Xin cảm ơn anh đã gửi một câu chuyện thú vị về văn chương, ngôn ngữ Việt Nam, cách viết chữ “giòng” hay “dòng.”

- Ngọc Dung cũng xin mạo muội chen vào, bày tỏ một vài ý kiến riêng, nho nhỏ:

a/ Ngọc Dung cũng quen với chữ “dòng” để chỉ “dòng sông” hay “dòng đời,” và chữ “giòng” để chỉ “giòng dõi”.

b/ Tuy nhiên, theo thiển ý, dù viết “giòng đời” hay “dòng dõi” cũng vẫn được. Điều quan trọng là KHÔNG SAI về ý nghĩa.

(Mich Long sưu tầm - Tác giả Trần Huy Bích)
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Tên nàng là Nhung Nữ. Dân làng đặt tên nàng là Nhung Nữ vì nàng có mái tóc dài, gợn sóng, nhung huyền, gần chấm đất những khi nàng cong tấm lưng thon, biểu diễn điệu múa quyến rũ, mỗi lần làng họp chợ. Nàng là một kỳ công tuyệt diệu của tạo hóa, với sóng mắt xếch như mang theo sự huyền bí của miền Đông Á. Da nàng là màu nắng mặt trời. Tóc nàng, nhung đen như đêm Ba Tư thần thoại, một suối nhung huyền trên tấm lưng thanh nhã, lượn sóng trên bờ eo nhỏ mỗi khi nàng dạo bước trên bãi biển. Môi nàng lúc nào cũng như tiềm ẩn một nụ cười, chờ đợi một chuỗi cười hồn nhiên, và viền môi cong như đón mời một nụ hôn nồng nàn làm tiêu tan nghị lực. Khuôn mặt nàng ẩn giấu nét rộn rã của đứa trẻ nhỏ, nhưng đồng thời chung quanh khóe mắt đẹp và hơi buồn đã thấp thoáng những nét nhăn như chứng tích của sự trưởng thành. Nàng là đàn bà trẻ thơ.
Sài Gòn vẫn rất dễ thương Cái tên dù lạ con đường vẫn quen Tôi hay “viện dẫn” hai câu thơ của mình mỗi khi phải hồi âm một cánh thư xa nào đó, thường là câu hỏi “Sài Gòn bây giờ ra sao?” Thật ra trong cảm nhận của tôi, Sài Gòn vẫn thế. Bởi dù trải qua nhiêu bao biến cố thăng trầm, thì Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông, thủ đô trong những trái tim miền Nam ngày nào vẫn không bao giờ thay đổi. Sài Gòn của một thời tôi mới lớn, những “con đường tình ta đi” Duy Tân, Trần Quý Cáp, Tú Xương, Công Lý. Những chiều bát phố Lê Lợi, Tự Do. Những rạp cine. Món bánh tôm hẻm Casino (Sài Gòn). Những xe bò viên Nguyễn Thiện Thuật. Bánh mì thịt trước chợ Trương Minh Giảng, gỏi đu đủ – khô bò – nước mía Viễn Đông (góc Lê Lợi – Pasteur)…
...chỉ với Mùa Xuân chín, Hàn Mặc Tử đã luôn là một nỗi nhớ khôn nguôi của người yêu thơ, yêu cái đẹp khi xuân về. Trong làn nắng ửng: khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng. Sột soạt gió trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang. Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời Bao cô thôn nữ hát trên đồi; Ngày mai trong đám xuân xanh ấy, Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi… Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi, Hổn hển như lời của nước mây, Thầm thì với ai ngồi dưới trúc, Nghe ra ý vị và thơ ngây… Khách xa gặp lúc mùa xuân chín, Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng: “Chị ấy, năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?” Có một chàng thi sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh sống vào khoảng nửa đầu thế kỷ 20 ở Nam Trung Bộ. 16 tuổi, chàng đã làm bài thơ đầu tiên. Chàng đã sống, đã đi, đã yêu tha thiết và đã đau đớn cùng cực.
Truyện Kiều là một tuyệt tác trong văn học sử Việt Nam, điều này ai cũng công nhận. Theo Phạm Quỳnh, “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”, nhưng ông và nhiều học giả khác không phân tích rõ Truyện Kiều hay như thế nào và tại sao tác phẩm này đặc biệt. Dù sao thì Truyện Kiều cũng có ảnh hưởng rất rộng với đại chúng, đa số người Việt biết thưởng thức thơ hay và ít quan tâm đến những phân tích phê bình của những nhà nghiên cứu. Lãng Nhân có nhận xét về một điểm vô lý trong Truyện Kiều: Khi mấy chị em đi chơi lễ Thanh Minh và thấy một nấm mồ hoang, em trai Thúy Kiều là Vương Quan chỉ là một cậu bé học trò 14-15 tuổi, vậy mà kể rành rẽ tiểu sử người kỹ nữ quá cố giống như một tay ăn chơi lão luyện: Vương Quan mới dẫn gần xa, Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi Nổi danh tài sắc một thì, Xôn xao ngoài cửa thiếu gì yến anh. Phận hồng nhan có mong manh, Nửa chừng xuân, thoắt gẫy cành thiên hương!
Ngày còn bé, mỗi lần về quê ghé thăm ông cậu thì cảnh tượng quen thuộc đầu tiên đập vào mắt tôi là hai cái lồng chim cu treo lủng lẳng ở mái hiên nhà. Lồng bằng tre vót nhỏ rứt, bo tròn vành như quả bí, bọc vải bên ngoài kín đáo. Cứ một con gù gù, con lồng bên lại cất tiếng gáy như để hòa điệu, âm thanh trầm buồn. Buổi trưa vắng lặng, chợt nghe tiếng cu gáy êm êm dìu dặt, ai mà không cảm nhận lòng mình xuyến xao gợi nhớ mơ hồ đâu đâu, càng thêm yêu thương sự phóng khoáng, yên bình của đồng nội, hương quê… Người nuôi chim rành rẻ kinh nghiệm cho biết con nào có bộ lông xám thường gáy giọng thổ trầm, con lông nâu thì gáy giọng kim cao. Theo tập tính, chim cu trống cất giọng gáy hay để quyến rũ bạn tình hoặc khoe mẻ, thách thức với con trống khác.
Lúc ấu thơ, khi còn chưa biết rét là gì, tôi thường đi chơi trên những cánh đồng mùa đông. Lúa tháng mười vừa gặt xong, thửa ruộng cạn chỉ còn những gốc rạ trơ trụi. Từ gốc rạ ấy, những mầm lúa lại mọc lên xanh non, nếu để lâu chúng cũng kết bông trổ hạt, người ta gọi đó là lúa trau, có thể lùa trâu bò xuống ăn. Ngoài đồng, phân trâu bò được đắp thành những đụn tròn cao dần lên trên chừng nửa thước. Phân ủ trong đó rất ấm tỏa ra làn khói mờ. Đi cắt rạ lâu trên đồng, những ngón chân lạnh cóng đến mức không còn cảm giác gì, người ta phải hong chân trên nóc đống phân đó. Vài nhà nông tranh thủ cầy ải. Họ xới đất lật lên thành luống, để cho gió bấc hong khô đất, đợi sang xuân có nước về lùa những luống đất đó tan ra như bùn. Đôi khi người ta dùng vồ đập cho đất vỡ tan trước.
Tưởng nhớ người cha thân yêu Chính Thầy là sự sống và là sự sống, ai tin vào Thầy thì dù có chết cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào thấy thì sẽ không phải chết. (Gn 11, 25-26) Ngày 1-11 là ngày giỗ 4 năm của thầy (cha) chúng con là Linh hồn Phêrô Nguyễn Quang Đồng từ giã mọi người về với Chúa ngày 1-11-2016 . Kính xin Mẹ, anh chị em, cháu chắt bạn bè xa gần hiệp ý cầu nguyện cho Linh hồn Phê rô mau dược hưởng hạnh phúc trên nước trới. Amen. Thầy đã ra đi 4 năm rồi mà con không về được, con ao ước và mong muốn được về bên thầy thắp nén hương trầm. Con nhớ thầy nhiều lắm. Nguyễn Thị Đức
Trước khi dùng xú-chiêng như người phụ nữ Tây Phương, người phụ nữ Việt Nam đã biết dùng cái yếm để che kín bộ nhũ hoa. Nói như thế không có nghĩa là cái yếm chỉ có công dụng như cái xú-chiêng của người Tây Phương mà thực sự công dụng của nó còn rộng rãi hơn nhiều. Trong lúc cái xú-chiêng chỉ dùng để che kín và nâng đỡ bộ nhũ hoa thì cái yếm của người phụ nữ Việt Nam đôi khi còn có thể dùng thay thế cho cái áo cụt “ra đường đi đâu gần gần mà chỉ bận yếm thì cũng chẳng ai rầy” hoặc, hơn thế nữa, “mùa nóng nực những người làm việc khó nhọc chỉ mặc yếm che ngực, đủ kín đáo, không mặc áo”. Theo Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ trong Tự Điển Việt Nam (q.I, trang 669) chiếc yếm được định nghĩa như sau: “Yếm: Miếng vải hình tam giác dùng che ngực" Cô kia mặc yếm hoa tằm, Chồng cô đi lính cô nằm với ai.
Cứ mỗi cuối Thu là sinh nhật tôi. Lòng chạnh nhớ một mùa Thu dĩ vãng. Sáng nay, sương mù lơ lững giăng giăng một sớm mai lành lạnh với làn gió khẽ lướt qua kéo theo chiếc lá vàng nhẹ rơi, hơi sương hôn lên mặt tôi lạnh giá. Ngày sinh nhật lại đến. Đã bao mùa Thu hạnh phúc. Đã bao mùa Thu lặng lẽ ngang trời. Đã bao mùa Thu đã chết. Bao lần tôi ngắm Thu qua. Từng ngày từng tháng từng năm trôi đi. Tôi đã sống bình yên trong sự an bày của số phận mặc cho lòng ...
Mẹ giờ đã già rồi nên hay lẫn lộn, mỗi lần tôi gọi điện đến, luôn sốt sốt sắng sắng hỏi một câu: Khi nào con về? Không chỉ cách xa hàng ngàn cây số, phải bắt tận 3 tuyến xe, mà công việc của tôi bận rộn đến nỗi có phân thân ra cũng không làm hết việc, còn lấy đâu ra thời gian mà về quê thăm mẹ. Tai của mẹ cũng lơ đễnh lắm rồi, tôi giải thích đi giải thích lại mà mẹ vẫn như không nghe được gì, vẫn hăm hở hỏi đi hỏi lại: “Khi nào con về?” Quá tam ba bận, cuối cùng tôi đã không giữ được kiên nhẫn nên phải nói như hét vào điện thoại, giờ thì mẹ chắc nghe rõ rồi, nên lặng lẽ không nói thêm gì mà cúp điện thoại. Vài ngày sau mẹ lại gọi điện hỏi tôi câu hỏi đó, chỉ là lần này giọng bà có vẻ ngượng ngùng, không còn tự tin nữa. Giống như một đứa trẻ không được giải hòa nên vẫn chưa cam tâm.
Bảo Trợ