Suy tư về cái nghèo

19 Tháng Mười Hai 202012:09 CH(Xem: 141)

Suy tư về cái nghèo

Giáng Sinh gợi những suy tư
Chúa Giêsu hóa Hài Nhi đơn nghèo

Cái lạnh và cái nghèo liên quan lẫn nhau. Người nghèo thiếu quần áo, chăn mền,… thế nên phải chịu lạnh. Cái lạnh thân xác dẫn tới cái lạnh tâm hồn – vì cô đơn. Nghèo thì Khó, Khó thì Khổ. Việt ngữ gọi là Nghèo Khó hoặc Nghèo Khổ.

Lễ Giáng Sinh luôn rất lạ. Lạ đủ thứ. Lạ từ nội tại tới ngoại tại. Giáng Sinh tại Việt Nam chỉ se lạnh một chút, chẳng thấm gì so với cái lạnh của Hài Nhi Giêsu năm xưa, nhưng cũng là lời nhắc để chúng ta nhớ tới cái lạnh của những phận người cơ nhỡ, những kẻ cô đơn, nghèo khó, thiếu thốn những thứ cơ bản nhất,… Việt ngữ thật chí lý khi nói là giá lạnh hoặc lạnh giá, cái “giá” này mới “đáng giá,” chứ cái “lạnh” chưa thấm thía chi đâu.

Điều đáng quan tâm là cái lạnh ngoại tại gợi nhớ tới cái lạnh tâm hồn, cái lạnh linh hồn, cái lạnh tâm linh. Cái lạnh này khủng khiếp, cái lạnh giá băng. Có nhiều kiểu lạnh.

1. Cái lạnh tâm hồn hoặc cõi lòng là cái lạnh của những người cô độc, mồ côi, neo đơn, thất vọng, bị xa lánh, bị ghen ghét,… Họ không có ai để chia sẻ, mà có chia sẻ cũng chẳng ai quan tâm. Thật khổ tâm với “khoảng lạnh” khôn tả như vậy!

2. Cái lạnh linh hồn là cái lạnh của những người khô khan, nguội lạnh, tội lỗi, niềm tin lung lay, bước đời chao đảo, mất phương hướng,… Thật đáng thương.

3. Cái lạnh tâm linh là cái lạnh của những người vô cảm trước nỗi khổ của người khác – như ông Simon chê phụ nữ tội lỗi kia xức dầu thơm chân Chúa Giêsu và khóc vì sám hối, (Lc 7:36-50) như Thầy tư tế và Thầy Lêvi không hề chạnh lòng thương xót “người lân cận” mà cam tâm bỏ mặc nạn nhân sống dở chết dở, (Lc 10:30-37) hoặc như người Pharisêu kiêu hãnh khi cầu nguyện tại đền thờ, (Lc 18:10-14) người Pharisêu phạm tội ngay trong lúc cầu nguyện, thờ phượng. Thật khủng khiếp!

Mỗi dịp Giáng Sinh, chúng ta lại nghe bài thánh ca “Hang Belem” (nhạc: Hải Linh, lời: Minh Châu và Võ Thanh) ngân vang đây đó: “Đêm Đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời, Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá, nơi máng lừa…”

Thiên Chúa là Chúa của các vua chúa, thế mà Ngài lại sinh nơi hang đá, trên máng lừa, thế mới kỳ lạ. Thiên Chúa là Đấng tạo tác muôn loài, làm cho mọi sự hiện hữu từ hư vô, vậy mà Ngài lại xuống thế gian ở với loài người, sinh ra nơi hèn hạ và nghèo khó nhất, chứ không uy nghi như người ta tưởng. Chúa giáng sinh là sự kiện vô cùng kỳ diệu, phàm nhân không thể hiểu thấu. Quả thật, không chỉ không thể tưởng tượng nổi mà phàm nhân còn không thể lý giải được. Thật vậy, vì đó là mầu nhiệm – Mầu Nhiệm Giáng Sinh, Mầu Nhiệm Nhập Thể.

Và còn kỳ lạ hơn nữa, Chúa Giêsu không chỉ sinh ra ở ngoài đồng, mà Ngài còn sống ở ngoài đường, và rồi chịu chết trên đồi hoang, dẫu chỉ một chỗ tựa đầu cũng không có, (Mt 8:20; Lc 9:58) trong khi con chồn còn có hang, con chim còn có tổ, chính chúng ta là thụ tạo và là tội nhân, vậy cũng có mái nhà – dù nghèo nàn, dù ở thuê, dù ăn nhờ ở đậu. Chúng ta cảm thấy thế nào khi nhìn ngắm Hang Đá, nơi Đấng Tối Cao ngự xuống?

Là Con Thiên Chúa, là Ngôi Hai Thiên Chúa, là Tạo Hóa, Chúa Giêsu giàu có và sang trọng bậc nhất, nhưng vì thương xót phàm nhân nghèo hèn và khốn khổ mà Ngài chấp nhận hóa thân là một Hài Nhi. Không chỉ vậy, Ngài còn sinh trong cảnh thiếu thốn tột cùng tại một hang chiên lừa nơi Belem. Dĩ nhiên Thiên Chúa có nhiều cách để cứu độ chúng ta, thậm chí Ngài chỉ cần phán một lời thì mọi tội lỗi của cả nhân loại này đều được tha bổng, nhưng Ngài đã chọn cách mặc xác phàm để trí óc phàm nhân chúng ta có thể hiểu và phần nào khả dĩ cảm nhận được lòng thương xót vô biên của Ngài, chứ chúng ta không thể thấu hiểu tình yêu thương cao cả đó.


Người nghèo giống như kẻ “vô phúc” vậy, bởi vì người khác không ưa, thậm chí còn bị ghét bỏ, bị xa lánh như tránh dịch bệnh. Nhưng đối với Thiên Chúa, cái nghèo vô phúc đó lại hóa thành mối phúc: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.” (Mt 5:3) Muốn được phúc mà lại sợ nghèo. Có mâu thuẫn chăng?

Cái nghèo không ai ưa, nhưng nó lại quan trọng và liên quan vận mệnh đời đời của chúng ta. Trong trình thuật Tin Mừng nói về cảnh Phán Xét Chung, Chúa chúc phúc cho những ai biết thương người nghèo khổ: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han.” (Mt 25:34-36)

Mùa Vọng và Mùa Giáng Sinh mà đọc trình thuật này, có lẽ nhiều người cho rằng “lệch pha.” Nhưng không phải vậy đâu. Không “lệch pha” thì tại sao? Cái gì cũng có lý do. Ai cũng biết rằng Lễ Giáng Sinh là lời mời gọi yêu thương – yêu thương bằng cả tâm hồn và hành động cụ thể. Trình thuật về Cuộc Phán Xét là trường hợp rất cụ thể về Đức Ái Kitô giáo – thương yêu và thương xót.

blank

Chính đoạn Kinh Thánh Mt 23:34-40 đã gợi hứng cho điêu khắc gia Timothy P. Schmalz (sinh năm 1970) tạc một pho tượng đồng lớn bằng người thật (2,5m), nằm co ro và trùm chăn kín mít, nhưng đôi chân thò ra ngoài và có dấu đinh. Thì ra đó là Chúa Giêsu vô gia cư, Đấng giàu sang cao cả đã trở nên tứ cố vô thân. Bức tượng có tên là “Homeless Jesus” – Chúa Giêsu không nhà, Chúa Giêsu vô gia cư.

Có lẽ sợ “nhiễm” cái nghèo (với chút dị đoan chăng?) nên nhiều nơi không chịu tiếp nhận bức tượng này. Nhưng sau hai năm bị nhiều nơi từ chối, bức tượng đã được “dừng chân” và “cư ngụ” tại Quảng trường Thánh Phêrô vào dịp Giáng Sinh năm 2013. Ý tưởng của Timothy Schmalz thật sâu sắc và độc đáo. Bức tượng “Chúa Giêsu Không Nhà” là tiếng chuông cảnh báo mỗi chúng ta về việc thực hành đức ái sao cho đúng nghĩa, đúng ý Chúa, với cả lòng thành chứ không chỉ hình thức theo phong trào.

Hang đá Belem ngày xưa không là hang động hấp dẫn như ngày nay thu hút du khách thập phương, mà là hang đá xấu xí, tăm tối, hôi tanh, bẩn thỉu,… Nơi cho đàn chiên, lừa,… nghỉ đêm. Theo kiểu nói khôi hài ngày nay thì người ta gọi hang đá Belem đó là “khách sạn ngàn sao.” Thế nhưng, có gì đó “bất thường” khi nhìn vào Hang Đá ngày nay. Tại sao? Vì nhìn không thấy “chất nghèo” mà thấy quá sang trọng, có thể ví như khách sạn nhiều sao, đạt tiêu chuẩn quốc tế.

Có vẻ như đua nhau hoặc khoe mẽ, thế nên càng ngày người ta càng “xây dựng” những hang đá đồ sộ, trang trí rườm rà, cầu kỳ, và tất nhiên chi phí tốn kém lắm – có nơi tốn cả trăm triệu đồng Việt Nam. Chúng ta chê người ta xây dựng tượng này, đài nọ, tốn bạc tỷ, trong khi chúng ta có hơn gì họ? Nhà này đua với nhà kia, giáo xứ này cạnh tranh với giáo xứ nọ, hang đá càng to càng hãnh diện.

Nhìn vào hang đá mà chỉ thấy vẻ hào nhoáng cho vui mắt, cái chính bị che khuất, còn những cái phụ lại quá nổi bật, thậm chí có nhiều hang đá nhìn mãi mới thấy Hài Nhi Giêsu, Đức Maria và Đức Giuse. Hang Belem ngày nay sang quá, trái ngược với Hang Belem ngày xưa, tất nhiên cũng mất đi tầm quan trọng của sứ điệp yêu thương và nghèo khó. Thiên Chúa muốn dạy chúng ta về nhân đức “khó nghèo” mà chúng ta lại theo kiểu “khó (mà) nghèo.” Con cháu Lạc Hồng chúng ta muốn Việt hóa nên có nơi làm một mái tranh, nhưng cái lều hoặc cái chòi đó lại lấp lánh ánh điện lung linh và nhiều màu sắc. Không nhà nghèo nào mà sang như vậy. Phi thực tế!

Chắc chắn Chúa không muốn ai “chơi nổi” một cách lãng phí. Dĩ nhiên Ngài không cấm chúng ta trang trí một chút để kỷ niệm ngày Con Thiên Chúa giáng trần, nhưng đừng quá đáng, vì xung quanh chúng ta còn biết bao người chịu cảnh khốn cùng. Chúng ta muốn vinh danh Chúa hay vinh danh chính chúng ta? Cuối cùng, chỉ có Chúa vẫn phải tiếp tục chịu đựng chúng ta. Đại dịch chưa thực sự kết thúc, nguy cơ tiềm ẩn cao. Nhiều nơi trên thế giới không được tham dự Thánh Lễ cả năm nay rồi. Cái khổ kéo theo cái khó, khó vì kinh tế bị ảnh hưởng, và cái nghèo kéo theo. Tại sao người ta vẫn chưa tỉnh giấc ảo mộng? Vì ỷ lại và cố chấp chăng? Rất có thể. Thế thì thực sự nguy hiểm quá!

Chúa Giêsu nói rằng người nghèo lúc nào cũng có bên cạnh chúng ta. (Mt 26:5; Mc 14:7; Ga 12:8) Thật vậy, thế giới còn biết bao người nghèo, xung quanh chúng ta cũng không thiếu người nghèo, làm hang đá giản dị không chỉ gợi lên ý nghĩa của việc Con Chúa giáng sinh, và còn có tiền để làm việc khác. Bác ái là việc làm cần thiết, nhất là vào dịp lễ Giáng Sinh. Chúa Giêsu sinh ra trong cảnh nghèo là lời nhắc nhở về việc thương xót những kẻ khốn cùng. Bớt chi phí cho việc làm hang đá để chia sẻ với người nghèo bằng hiện vật, vậy mới là sống đúng tinh thần giáng sinh một cách thực tế, chắc chắn Hài Nhi Giêsu thích như vậy, và Ngài cũng sẽ mỉm cười với chúng ta như đã mỉm cười với Chú Bé Đánh Trống sau khi chú bé này khua một bài trống làm món quà kính dâng Vương Nhi Giêsu. [*] Ước gì mỗi chúng ta cũng có “điệu trống” của riêng mình, đơn giản nhưng thành tín.

Lạy Chúa, xin cho mọi người tận hưởng ơn bình an của Chúa giáng sinh qua việc yêu thương nhau chân thành. Xin giải thoát thế giới khỏi đại dịch, được an tâm kỷ niệm ngày Đấng Cứu Thế giáng lâm lần thứ nhất. Chúng con cầu xin nhân danh Đấng Emmanuel. Amen.

TRẦM THIÊN THU
Mừng Chúa Giáng Sinh – 2020

[*] Katherine K. Davis, Henry Onorati và Harry Simeone viết ca khúc “The Little Drummer Boy” (Chú Bé Đánh Trống, L’Enfant au Tambour) năm 1958 – https://www.youtube.com/watch?v=J0CR7zbO0Ss
Giaophanving
.net

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Chúa Nhật 24 tháng Giêng, Giáo Hội cử hành Chúa Nhật thứ Ba mùa Quanh Năm với chủ đề “Anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm”. Tin Mừng theo Thánh Máccô thuật lại cho chúng ta biết hoàn cảnh Chúa kêu gọi các tông đồ đầu tiên như sau: Sau khi Gioan bị bắt, Chúa Giêsu sang xứ Galilêa, rao giảng Tin Mừng nước Thiên Chúa, Người nói: “Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm”. Đang lúc đi dọc theo bờ biển Galilêa, Người thấy Simon và em là Anrê đang thả lưới xuống biển, vì các ông là những người đánh cá. Chúa Giêsu bảo các ông: “Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những kẻ chài lưới người”. Lập tức các ông bỏ lưới theo Người.
Ba Vua là ba khuôn mặt không thể thiếu vắng trong mùa Giáng Sinh. Nhắc đến Giáng Sinh là nhắc đến mục đồng thôn Bêlem và Ba Vua. Nhưng người Kitô hữu nói chung rất mù mờ về thân thế của Ba Vua. Nếu đặt câu hỏi, “Ba Vua tên gì?” nhiều tín hữu sẽ lúng túng và ngập ngừng trước câu hỏi vừa được nêu. I. Ba Vua Trong văn bản tiếng “phổ thông Hy Lạp,” theo như thánh sử Mátthêu, khi “Đức Giêsu sinh ra tại Bêlem, xứ Giuđê, trong đời vua Hêrôđê, mágòi (μάγoi) từ phương Đông tìm đến Giêrusalem. Các ông hỏi, — Vua người Do Thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhìn thấy ngôi sao của Người ở phương Đông, và chúng tôi đến để triều bái Người” (Mátthêu 2:1). Trong tiếng cổ Hy Lạp mágòi (μάγoi) không có nghĩa là vua. Mágòi là danh từ số nhiều của mágọs (μάγos), một danh từ giống đực. Mágói, theo như Raymond Brown, là một thuật ngữ bao gồm nhiều nghĩa: chiêm tinh gia, giải mộng gia, phù thủy (pháp sư), và thầy tư tế của tôn giáo vùng Trung Đông.
Thiên Chúa đã phái các thiên thần đến báo cho những người chăn cừu biết một Đấng Cứu Thế đã được sinh ra: “Thiên thần Chúa bỗng hiện đến bên họ và vinh quang Chúa rạng ngời bao quanh họ, làm họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng thiên thần nói với họ: “Đừng sợ! Này ta đem tin mừng cho các ngươi về một niềm vui to tát, tức là niềm vui cho toàn dân: là hôm nay, đã sinh ra cho các ngươi vì Cứu Chúa, tức là Đức Kitô Chúa, trong thành của Đavit” (Lc 2,9-11). Hôm nay Ngài báo tin cho chúng ta Giáng sinh đã được một thế giới vô thần tục hóa đến nỗi ngày càng nhiều người cùng thời với chúng ta đã quên đi nguồn gốc của nó. Chắc chắn, khung cảnh Chúa giáng sinh cho họ một ý tưởng chung, nhưng họ không biết rằng trẻ nhỏ nằm trong máng cỏ đơn sơ này đã đến để mang lại cho họ tình yêu và niềm vui mà họ tìm kiếm trong vô vọng.
Chuyện kể rằng: Có một người đàn bà giàu có đang hấp hối trên giường bệnh. Trong tờ chúc thư để lại, bà kể tên của tất cả mọi người thân thuộc và xa gần sẽ hưởng gia tài của bà. Tuyệt nhiên, bà không hề đá động đến cô gái nghèo và trung thành hầu hạ bà từng giây từng phút. Quà tặng duy nhất mà bà tặng cho cô đó là một thánh giá được bọc thạch cao. Cô gái nhận lấy món quà nhưng lòng cô đầy cay đắng buồn phiền. Cô tự nghĩ: mình đã trung thành phục vụ, hầu hạ sớm hôm để rồi chỉ được món quà không ra gì. Không còn đủ bình tĩnh để nuốt lấy từng giọt cay đắng, cô đã kéo thập giá xuống khỏi tường và ném tung trên nền nhà. Cây thập giá vỡ tung và kìa, trước sự ngạc nhiên của cô, tất cả những mảnh vụn thoát ra khỏi lớp vỏ thạch cao đều là những viên kim cương óng ánh...
“Thì giờ hay đời sống là món quà quý Đức Chúa Trời ban cho mỗi người chúng ta. Đời sống quý vì nó đến từ chính Chúa là Đấng Tạo Hóa.” Đời sống thật mong manh và ngắn ngủi. Con người sống đó rồi chết đó cũng mấy hồi. Bởi vậy, con người quy về Thiên Chúa là cội nguồn của sự sống và hạnh phúc. Tiền bạc quan trọng nhưng không là tất cả. Quyền lực, thú vui rồi cũng chỉ là cát bụi mà thôi. Vì thế, một nhạc sĩ đã từng cảm nhận: “Làm con người trong cuộc đời được bấy nhiêu năm. Ai vốn giàu sang, ai vốn kiếp bần hàn, ai giãi dầu một nắng hai sương, mai lìa đời nhắm mắt xuôi tay. Đua đòi nhiều chỉ khổ thêm thôi”. /post 19 Tháng Tám 2012(Xem: 7000) Tâm Thương - TgpSaigonnet/
Nếu vào một ngày nào đó tôi không còn sống nơi trần gian này nữa, thì những đứa trẻ vẫn lần lượt lớn lên, người thân người thương của tôi họ vẫn ăn, vẫn uống và làm việc theo lẽ sinh tồn, những ngôi nhà, con đường tôi quen thuộc bỗng chốc trở nên xa lạ, mặt trời vẫn giải nắng trên đồng cỏ xanh và cơn mưa vẫn tưới mát trên những thửa ruộng khô cằn… Không gian yên tĩnh ngày nào chẳng còn, khi người viếng, kẻ thăm, người khóc, kẻ cười,… tạo nên khung cảnh bi đát, chua xót và đau thương. Thân xác tôi vẫn nằm đó chẳng cử động hay nhúc nhích, chẳng thở than hay kêu gào mặc cho lũ ruồi muỗi đậu bay. Người ta thức cố thức tôi dậy sau giấc ngủ dài nhưng kết quả nhận được là sự thinh lặng chẳng một lời hồi âm phát ra. Tôi biết và tôi cố gồng mình ngồi dậy để an ủi những người thân đang ngồi than khóc, nhưng bàng hoàng chợt nhận ra tôi đã chết rồi!
Khi những chồi non đua nhau chởm nở, đó là lúc báo hiệu về một mùa xuân đang kéo đến. Khi những áng mây đen kéo về phía cuối trời, cũng là khi báo hiệu cơn mưa. Và khi những biến cố xảy ra trong đời là khi báo hiệu cho ta về dấu chỉ của lòng thương xót của Thiên Chúa. Thiên Chúa muôn đời là tình yêu. Ngài cảm thấu nỗi đau, nỗi mất mát của phận người. Những cảnh tượng xảy ra trong thời đại hôm nay mà ta chứng kiến, như thiên tai, đại dịch Covid 19, như một màu tím đang bao trùm toàn nhân loại. Trước những cảnh tượng đó, có ý kiến cho rằng đó là một cuộc đại thanh tẩy của Đấng Tạo Hóa, cũng có người cho rằng, nếu Thiên Chúa là Đấng toàn năng và tình yêu, tại sao Ngài lại để những thảm họa khủng khiếp ấy xảy ra? Phải chăng đó là một dấu chỉ mà Thiên Chúa gửi đến để cảnh tỉnh nhân loại này?
Diễn đàn Quốc tế vì Sự Sống đã phát động sáng kiến có tên “Một cây nến cho trẻ em không được chào đời” nhắm cổ võ một loạt các Thánh lễ, từ ngày 25/10 đến 2/11, với những ý chỉ đặc biệt, cầu nguyện cho các trẻ em không được chào đời. - Sáng kiến được nhiều thành phố ở Slovakia tham gia. Mục đích của sáng kiến là “hy vọng rằng người dân mở lòng và hộ trợ tài chính cho tất cả các phụ nữ chờ sinh con và cho các tổ chức giúp đỡ họ.” Sáng kiến cũng “cầu nguyện cho những cặp vợ chồng có ý định thực hành thụ tinh nhân tạo và cho những người trẻ để họ bảo vệ sự sống từ khi thụ thai đến khi chết tự nhiên.”
GNsP (04.03.2018) – Ngay từ khi tạo dựng nên con người, Thiên Chúa đã ban thiên chức là mẹ cho người phụ nữ, niềm yêu mến sâu xa dành cho người mẹ định cư trong đáy thâm sâu của trái tim con người khiến tất cả mọi hoạt động của loài người cách này cách khác đều bày tỏ lòng yêu mến và trân trọng dành cho người mẹ. Thánh Phanxico Assi đã cất cao lời ca tụng “Mẹ trái đất”, người Việt Nam gọi ba chữ “Mẹ tổ quốc” với tất cả lòng trìu mến yêu thương, Dòng Chúa Cứu Thế gọi “Mẹ nhà dòng” trong một bài thánh ca truyền thống.
Sự ra đời của mỗi một con người luôn mang đến niềm vui và hạnh phúc cho mỗi gia đình và toàn nhân loại. Hơn thế, sự hiện diện của một con người mới trên cõi đời như là dấu chỉ của hy vọng cho thế gian. Qua tình yêu, người cha và người mẹ đã cộng tác với Thiên Chúa trong công việc sáng tạo và vun đắp cho sự sống của con người. Mỗi người con sinh ra sẽ là những tia hy vọng cho cả Giáo hội và xã hội, vì qua những mảnh đời nhỏ bé ấy, tình yêu và bình an của Thiên Chúa được trao ban đến cho thế giới.
Bảo Trợ