Cánh đồng mùa đông

12 Tháng Mười Một 20207:39 SA(Xem: 65)
Cánh đồng mùa đông
- tạp văn của Phan Cẩm Thượng
 
blankLúc ấu thơ, khi còn chưa biết rét là gì, tôi thường đi chơi trên những cánh đồng mùa đông. Lúa tháng mười vừa gặt xong, thửa ruộng cạn chỉ còn những gốc rạ trơ trụi. Từ gốc rạ ấy, những mầm lúa lại mọc lên xanh non, nếu để lâu chúng cũng kết bông trổ hạt, người ta gọi đó là lúa trau, có thể lùa trâu bò xuống ăn. Ngoài đồng, phân trâu bò được đắp thành những đụn tròn cao dần lên trên chừng nửa thước. Phân ủ trong đó rất ấm tỏa ra làn khói mờ. Đi cắt rạ lâu trên đồng, những ngón chân lạnh cóng đến mức không còn cảm giác gì, người ta phải hong chân trên nóc đống phân đó. Vài nhà nông tranh thủ cầy ải. Họ xới đất lật lên thành luống, để cho gió bấc hong khô đất, đợi sang xuân có nước về lùa những luống đất đó tan ra như bùn.

Đôi khi người ta dùng vồ đập cho đất vỡ tan trước. Thơ Đỗ Trung Lai có câu rằng: Vài ba thửa ruộng cầy sớm / Đất quằn như vỏ đỗ phơi. Nhiều cánh đồng mùa đông thường bỏ hoang, người ta bảo là cho đất nghỉ. Nhưng nhà nông không dư giả, chẳng trồng lúa thì trồng mầu. Ở huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn, người Nùng Phản Sình thường trồng đỗ tương, thuốc lá và mía trên những dộc ruộng chạy sâu vào khe núi. Trong nhà ai nấy đều có những chum to. Chum thì đựng mật đã kéo, chum đựng thuốc lá mà cúi đầu vào mùi thơm phức, chum thì đựng đỗ tương. Ngay trong thời bao cấp đói kém, nông dân ở đây sống khá sung túc.

Ở huyện Yên Dũng, Bắc Giang, mùa đông đồng được trồng bạt ngàn xu hào, có củ to đến hai cân. Xu hào nhiều khi bán rẻ cũng không được vì quá nhiều đành để thối. Mía, rau cải, xu hào, súp lơ, bắt cải… đều là những cây mùa đông cả. Bắp cải cần rét để quấn lá, cùng với súp lơ, xu hào tương truyền giống chúng từ tận phương Tây đưa sang ta, nhưng sang từ lúc nào không ai biết. Người thì bảo rằng hai trăm năm lại đây khi người Pháp mon men sang Đông Dương, người bảo rằng sớm hơn có đến bốn trăm năm, chắc do người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha đưa sang. Ý kiến khác lại cho rằng sớm hơn nữa qua con đường Trung Quốc. Những cánh đồng mùa đông bớt trơ trụi, khi có hoa mầu, mà hoa mầu thì nhiều mầu sắc, vừa đẹp lại vừa tăng thu nhập cho nhà nông. Cánh đồng qua đất Phú Thị, từ Sủi đến Keo, người ta trông rất nhiều hoa cải cúc để ươm giống. Từ đầu đông đến tết , nơi đây rực một mầu vàng hoa cải trải dài vài cây số, hương sắc trong veo. Tiếc rằng vài doanh nghiệp đã cắm đất. Đồng hoa cải bị cắt đoạn và thu hẹp, cảnh tượng cũng không còn biết bao lâu.

Ba mươi năm trước, nhiều người không biết đến áo rét và tất là gì. Cơm ba bát , áo ba manh, thế là không lo đói và rét. Ra đồng , rét quá thì so vai rụt cổ bận áo tơi, một thứ áo trùm như cái tùm hum làm bằng lá gồi , chủ yếu để che mưa, tay cầm cái bùi nhùi bện bằng rơm cong và dài như sừng trâu, có thể giữ lửa. Gom vài cọng rơm, gốc rạ và củi rác, lá cây thành đống và đốt sưởi ngoài đồng. Có thể lùi vài đoạn mía, củ khoai, củ sắn vào đó, ăn thì ngon vô cùng. Trẻ nghịch có khi bắt được con gà đi hoang, vặt lông đắp bùn nướng, thế là có đại tiệc. Tiệc xong, thì lựa theo hướng gió mà ngồi giữa đồng đại tiện. Nhất quận công / Nhì ỉa đồng chính là cái này.


Xưa kia mùa đông thường kéo theo những cơn mưa, gọi là mưa phùn gió bấc, thì khiếp lắm . Nay mùa đông khô cằn , rét lại không liên tục, xen kẽ những đợt nóng như mùa hè, nên khí âm – dương trong người thường đảo lộn, sinh nhiều bệnh tật . Những cơn gió Bắc tuy vậy cũng rất lạnh, và càng có tuổi , người ta càng sợ nó. Người Việt gọi là gió Bấc. Khi gió bấc về là trở giời. Tục ngữ có câu: Trở dạ thì ngay. Trở ngày thì cữ . Nghĩa là trở giời ban đêm thì thường sẽ ấm trong một hai hôm, nếu trở giời ban ngày thì rét đến một tuần. Có hỏi vài nhà khoa học về điều này, cũng là gió phương bắc xuống, tại sao xuống ban đêm thì rét ngắn, xuống ban ngày thì rét dài, không ai giải thích thấu đáo. Nhưng tôi thích gió bắc như là một cảm hứng thi ca nhiều hơn.

Cổ thi có câu: Việt điểu sào Nam chi / Hồ mã tê Bắc phong. Nghĩa là : Chim Việt làm tổ cành hướng Nam / Ngựa Hồ hí gió Bắc. Câu này ý nói loài vật còn có quê hương, nữa là con người. Cụ Phan Bội Châu lấy tự hiệu cho mình là Sào Nam, chắc là ý như vậy. Khi mùa xuân tới, những làn gió thổi từ biển Đông vào đất liền, không khí dần ấm áp, nên người xưa gọi gió Xuân là Đông phong. Như câu : Đông phong bất độ Ngọc Môn quan – Gió xuân chẳng thổi qua Ngọc Môn quan. Ngọc Môn quan là nơi hẻo lánh ở miền tây Trung Quốc, vừa lạnh vừa khô, nên buồn lắm.

Vua Trần Nhân Tông có câu: Như kim khám phá Đông hoàng diện / Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng – Chúa xuân nay đã từng quen mặt / Chiếu cọ gường sư ngắm bóng hồng. Ban đêm, nằm trong nhà tranh vách đất , nghe gió bấc hú mà ớn lạnh, một bữa thấy đợt gió ấm áp thổi tới, là biết xuân về. Ở nước Nam ta, thì lúc giao thời đôi khi có cả gió bấc, gió xuân và gió nam.


Nhiều cụ già nông thôn rét mấy cũng không đi tất. Đối với đôi bàn chân quen trần, hình như bít tất rất vướng. Da chân nhà nông cũng dầy hơn da chân người thành thị. Mùa đông, cũng vẫn phải lội ruộng cầy bừa và cấy. Đôi khi muốn cải thiện, đi bắt ếch nằm trong hang. Tương truyền rằng, đầu rét, mỗi con ếch ngậm một con cua và ở lỳ trong hang cho hết đông. Đầu làng, đầu ruộng nhiều đống rác và đống rơm rạ được đốt lên khói bay nghi ngút . Tro than này lại tải ra ruộng làm phân bón. Làn khói xanh trong giá lạnh hình như làm cho giời ấm hơn . Xưa nông dân đun bằng củi và rơm, khói xanh trườn trên mái bếp, rồi tỏa vào lũy tre đượm một vẻ thanh bình. Nên họa sỹ thời Đường Hàn Hoảng khi vẽ tranh Năm con bò, có chua câu thơ rằng: Thái bình bản vô tượng / Thảo xá xuy yên phủ . Nghĩa là: Cảnh thái bình vốn không có hình tượng / Hãy nhìn lớp khói xanh trườn trên mái nhà tranh. Gió mùa đông thổi ù ù trên những ngọn cây, đôi khi rít lên, quấn rơm rạ quay tròn rồi tung lên trời. Gió làm búi tre cọ vào nhau kêu kẽo kẹt và dứt từng tầm liếp ra khỏi cửa . Mèo chó chúi hết vào bếp và những cây rơm. Ông bà già ho húng hắng, chỉ lo ngã là chầu trời. Gió bấc là một ma lực, hơn cả việc đem cái lạnh từ phương bắc tới, nó làm cho thanh niên rất hứng tình, nhưng lại tháo từng khớp xương của người già. Những cánh đồng làng trông hoang vu hơn, đất như bạc mầu hơn khi những cơn gió lướt qua mặt và những ngôi miếu giữa đồng trông ảm đạm hơn bên gốc cây đa cổ kính. Cuối đông vài cây đu tre sẽ được dựng trên vạt ruộng, cho nay mai tha hồ mà anh đu chị nhún, úp ngửa trên gió giời, mới thích làm sao .
Phan Cẩm Thượng
2008
*Bài viết do Họa sĩ Phan Cẩm Thượng gửi Tễu-Blog.
Xin chân thành cảm ơn tác giả!
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Ngày còn bé, mỗi lần về quê ghé thăm ông cậu thì cảnh tượng quen thuộc đầu tiên đập vào mắt tôi là hai cái lồng chim cu treo lủng lẳng ở mái hiên nhà. Lồng bằng tre vót nhỏ rứt, bo tròn vành như quả bí, bọc vải bên ngoài kín đáo. Cứ một con gù gù, con lồng bên lại cất tiếng gáy như để hòa điệu, âm thanh trầm buồn. Buổi trưa vắng lặng, chợt nghe tiếng cu gáy êm êm dìu dặt, ai mà không cảm nhận lòng mình xuyến xao gợi nhớ mơ hồ đâu đâu, càng thêm yêu thương sự phóng khoáng, yên bình của đồng nội, hương quê… Người nuôi chim rành rẻ kinh nghiệm cho biết con nào có bộ lông xám thường gáy giọng thổ trầm, con lông nâu thì gáy giọng kim cao. Theo tập tính, chim cu trống cất giọng gáy hay để quyến rũ bạn tình hoặc khoe mẻ, thách thức với con trống khác.
Tưởng nhớ người cha thân yêu Chính Thầy là sự sống và là sự sống, ai tin vào Thầy thì dù có chết cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào thấy thì sẽ không phải chết. (Gn 11, 25-26) Ngày 1-11 là ngày giỗ 4 năm của thầy (cha) chúng con là Linh hồn Phêrô Nguyễn Quang Đồng từ giã mọi người về với Chúa ngày 1-11-2016 . Kính xin Mẹ, anh chị em, cháu chắt bạn bè xa gần hiệp ý cầu nguyện cho Linh hồn Phê rô mau dược hưởng hạnh phúc trên nước trới. Amen. Thầy đã ra đi 4 năm rồi mà con không về được, con ao ước và mong muốn được về bên thầy thắp nén hương trầm. Con nhớ thầy nhiều lắm. Nguyễn Thị Đức
Trước khi dùng xú-chiêng như người phụ nữ Tây Phương, người phụ nữ Việt Nam đã biết dùng cái yếm để che kín bộ nhũ hoa. Nói như thế không có nghĩa là cái yếm chỉ có công dụng như cái xú-chiêng của người Tây Phương mà thực sự công dụng của nó còn rộng rãi hơn nhiều. Trong lúc cái xú-chiêng chỉ dùng để che kín và nâng đỡ bộ nhũ hoa thì cái yếm của người phụ nữ Việt Nam đôi khi còn có thể dùng thay thế cho cái áo cụt “ra đường đi đâu gần gần mà chỉ bận yếm thì cũng chẳng ai rầy” hoặc, hơn thế nữa, “mùa nóng nực những người làm việc khó nhọc chỉ mặc yếm che ngực, đủ kín đáo, không mặc áo”. Theo Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ trong Tự Điển Việt Nam (q.I, trang 669) chiếc yếm được định nghĩa như sau: “Yếm: Miếng vải hình tam giác dùng che ngực" Cô kia mặc yếm hoa tằm, Chồng cô đi lính cô nằm với ai.
Cứ mỗi cuối Thu là sinh nhật tôi. Lòng chạnh nhớ một mùa Thu dĩ vãng. Sáng nay, sương mù lơ lững giăng giăng một sớm mai lành lạnh với làn gió khẽ lướt qua kéo theo chiếc lá vàng nhẹ rơi, hơi sương hôn lên mặt tôi lạnh giá. Ngày sinh nhật lại đến. Đã bao mùa Thu hạnh phúc. Đã bao mùa Thu lặng lẽ ngang trời. Đã bao mùa Thu đã chết. Bao lần tôi ngắm Thu qua. Từng ngày từng tháng từng năm trôi đi. Tôi đã sống bình yên trong sự an bày của số phận mặc cho lòng ...
Mẹ giờ đã già rồi nên hay lẫn lộn, mỗi lần tôi gọi điện đến, luôn sốt sốt sắng sắng hỏi một câu: Khi nào con về? Không chỉ cách xa hàng ngàn cây số, phải bắt tận 3 tuyến xe, mà công việc của tôi bận rộn đến nỗi có phân thân ra cũng không làm hết việc, còn lấy đâu ra thời gian mà về quê thăm mẹ. Tai của mẹ cũng lơ đễnh lắm rồi, tôi giải thích đi giải thích lại mà mẹ vẫn như không nghe được gì, vẫn hăm hở hỏi đi hỏi lại: “Khi nào con về?” Quá tam ba bận, cuối cùng tôi đã không giữ được kiên nhẫn nên phải nói như hét vào điện thoại, giờ thì mẹ chắc nghe rõ rồi, nên lặng lẽ không nói thêm gì mà cúp điện thoại. Vài ngày sau mẹ lại gọi điện hỏi tôi câu hỏi đó, chỉ là lần này giọng bà có vẻ ngượng ngùng, không còn tự tin nữa. Giống như một đứa trẻ không được giải hòa nên vẫn chưa cam tâm.
Bây giờ là tháng Tám. Tháng Tám là mùa Thu với hoa cúc vàng, với lá đỏ, với gió heo may và với trời se lạnh. Tháng Tám ở đây bây giờ cũng y như thế dù rằng không phải mùa Thu. Nắng đang trải đường đi. Vàng óng và ấm áp. Đây này, em ngồi bên cửa sổ (nhưng không có ai dựa tường hoa vì anh và vài người em yêu mến thì đã đi xa mất rồi) và ngắm nắng vàng trải đường đi này. Em vẫn có cái thú ngồi bên cửa sổ viết lách và ngắm cảnh bên ngoài vì con đường của em rất thanh bình và yên tĩnh anh ạ. Vào mùa hè, con đường rợp hoa phượng tím nữa cơ
Lê Anh Tuấn - Hàng ngày chúng ta vẫn sử dụng những thành ngữ quen thuộc do ông cha để lại trong khi nói chuyện hay viết lách. Tuy nhiên, có nhiều thành ngữ mặc dù thường xuyên sử dụng, nhưng câu gốc hay ý nghĩa của nó lại khác xa so với những gì ta nghĩ. Sau đây là một số những thành ngữ như vậy. Nghèo rớt mùng tơi Nhiều người vẫn nhầm tưởng mùng tơi ở đây là cây mùng tơi mà chúng ta vẫn thường nấu canh hay dậu mùng tơi trong thơ Nguyễn Bính.
"Ngày bố mẹ già đi, con hãy cố gắng kiên nhẫn và hiểu cho bố mẹ. Nếu như bố mẹ ăn uống rớt vung vãi... Nếu như bố mẹ gặp khó khăn ngay cả đến cái ăn cái mặc... Xin con hãy bao dung! Con hãy nhớ những ngày, giờ mà bố mẹ đã trải qua với con, để dạy cho con bao điều lúc thuở bé./post 14 Tháng Sáu 2013(Xem: 2522)/
Giờ đây, chúng đang ở nơi nào ? Trong những căn phòng ấm cúng, có thể chúng cũng lặp lại y hệt những cử chỉ của cha chúng ngày xưa, cũng tung con lên, đùa đùa giỡn giỡn… Hỡi những người con còn có trái tim, hãy đi và hãy đến những nơi gọi là “nhà già”, nơi chỉ có cặp mắt là sáng, còn mọi vật đều tối đen !/post 14 Tháng Sáu 2013(Xem: 2306) Chu tất Tiến/
Văn hào Nga Dostoievski đã từng nói: “Nếu không có Chúa người ta dám làm mọi sự”. Và một câu châm ngôn đã nổi tiếng trên toàn thế giới nói rằng: “Khởi sự của đạo đức là biết sợ”. Trong lịch sử dài đằng đẵng của nhân loại, học thuyết vô Thần chỉ mới xuất hiện từ khoảng thế kỷ 14. So với những tín ngưỡng cổ xưa và các học thuyết về Thần học đã có mặt từ thời kỳ hồng hoang của văn minh nhân loại, thuyết vô Thần chỉ như đứa trẻ, nhưng lại có ảnh hưởng rất nhanh và lan rộng trên toàn thế giới. Nhưng ít có ai biết rằng, học thuyết vô Thần lại có nguồn gốc hữu Thần.
Bảo Trợ