Cánh đồng mùa đông

12 Tháng Mười Một 20207:39 SA(Xem: 440)
Cánh đồng mùa đông
- tạp văn của Phan Cẩm Thượng
 
blankLúc ấu thơ, khi còn chưa biết rét là gì, tôi thường đi chơi trên những cánh đồng mùa đông. Lúa tháng mười vừa gặt xong, thửa ruộng cạn chỉ còn những gốc rạ trơ trụi. Từ gốc rạ ấy, những mầm lúa lại mọc lên xanh non, nếu để lâu chúng cũng kết bông trổ hạt, người ta gọi đó là lúa trau, có thể lùa trâu bò xuống ăn. Ngoài đồng, phân trâu bò được đắp thành những đụn tròn cao dần lên trên chừng nửa thước. Phân ủ trong đó rất ấm tỏa ra làn khói mờ. Đi cắt rạ lâu trên đồng, những ngón chân lạnh cóng đến mức không còn cảm giác gì, người ta phải hong chân trên nóc đống phân đó. Vài nhà nông tranh thủ cầy ải. Họ xới đất lật lên thành luống, để cho gió bấc hong khô đất, đợi sang xuân có nước về lùa những luống đất đó tan ra như bùn.

Đôi khi người ta dùng vồ đập cho đất vỡ tan trước. Thơ Đỗ Trung Lai có câu rằng: Vài ba thửa ruộng cầy sớm / Đất quằn như vỏ đỗ phơi. Nhiều cánh đồng mùa đông thường bỏ hoang, người ta bảo là cho đất nghỉ. Nhưng nhà nông không dư giả, chẳng trồng lúa thì trồng mầu. Ở huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn, người Nùng Phản Sình thường trồng đỗ tương, thuốc lá và mía trên những dộc ruộng chạy sâu vào khe núi. Trong nhà ai nấy đều có những chum to. Chum thì đựng mật đã kéo, chum đựng thuốc lá mà cúi đầu vào mùi thơm phức, chum thì đựng đỗ tương. Ngay trong thời bao cấp đói kém, nông dân ở đây sống khá sung túc.

Ở huyện Yên Dũng, Bắc Giang, mùa đông đồng được trồng bạt ngàn xu hào, có củ to đến hai cân. Xu hào nhiều khi bán rẻ cũng không được vì quá nhiều đành để thối. Mía, rau cải, xu hào, súp lơ, bắt cải… đều là những cây mùa đông cả. Bắp cải cần rét để quấn lá, cùng với súp lơ, xu hào tương truyền giống chúng từ tận phương Tây đưa sang ta, nhưng sang từ lúc nào không ai biết. Người thì bảo rằng hai trăm năm lại đây khi người Pháp mon men sang Đông Dương, người bảo rằng sớm hơn có đến bốn trăm năm, chắc do người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha đưa sang. Ý kiến khác lại cho rằng sớm hơn nữa qua con đường Trung Quốc. Những cánh đồng mùa đông bớt trơ trụi, khi có hoa mầu, mà hoa mầu thì nhiều mầu sắc, vừa đẹp lại vừa tăng thu nhập cho nhà nông. Cánh đồng qua đất Phú Thị, từ Sủi đến Keo, người ta trông rất nhiều hoa cải cúc để ươm giống. Từ đầu đông đến tết , nơi đây rực một mầu vàng hoa cải trải dài vài cây số, hương sắc trong veo. Tiếc rằng vài doanh nghiệp đã cắm đất. Đồng hoa cải bị cắt đoạn và thu hẹp, cảnh tượng cũng không còn biết bao lâu.

Ba mươi năm trước, nhiều người không biết đến áo rét và tất là gì. Cơm ba bát , áo ba manh, thế là không lo đói và rét. Ra đồng , rét quá thì so vai rụt cổ bận áo tơi, một thứ áo trùm như cái tùm hum làm bằng lá gồi , chủ yếu để che mưa, tay cầm cái bùi nhùi bện bằng rơm cong và dài như sừng trâu, có thể giữ lửa. Gom vài cọng rơm, gốc rạ và củi rác, lá cây thành đống và đốt sưởi ngoài đồng. Có thể lùi vài đoạn mía, củ khoai, củ sắn vào đó, ăn thì ngon vô cùng. Trẻ nghịch có khi bắt được con gà đi hoang, vặt lông đắp bùn nướng, thế là có đại tiệc. Tiệc xong, thì lựa theo hướng gió mà ngồi giữa đồng đại tiện. Nhất quận công / Nhì ỉa đồng chính là cái này.


Xưa kia mùa đông thường kéo theo những cơn mưa, gọi là mưa phùn gió bấc, thì khiếp lắm . Nay mùa đông khô cằn , rét lại không liên tục, xen kẽ những đợt nóng như mùa hè, nên khí âm – dương trong người thường đảo lộn, sinh nhiều bệnh tật . Những cơn gió Bắc tuy vậy cũng rất lạnh, và càng có tuổi , người ta càng sợ nó. Người Việt gọi là gió Bấc. Khi gió bấc về là trở giời. Tục ngữ có câu: Trở dạ thì ngay. Trở ngày thì cữ . Nghĩa là trở giời ban đêm thì thường sẽ ấm trong một hai hôm, nếu trở giời ban ngày thì rét đến một tuần. Có hỏi vài nhà khoa học về điều này, cũng là gió phương bắc xuống, tại sao xuống ban đêm thì rét ngắn, xuống ban ngày thì rét dài, không ai giải thích thấu đáo. Nhưng tôi thích gió bắc như là một cảm hứng thi ca nhiều hơn.

Cổ thi có câu: Việt điểu sào Nam chi / Hồ mã tê Bắc phong. Nghĩa là : Chim Việt làm tổ cành hướng Nam / Ngựa Hồ hí gió Bắc. Câu này ý nói loài vật còn có quê hương, nữa là con người. Cụ Phan Bội Châu lấy tự hiệu cho mình là Sào Nam, chắc là ý như vậy. Khi mùa xuân tới, những làn gió thổi từ biển Đông vào đất liền, không khí dần ấm áp, nên người xưa gọi gió Xuân là Đông phong. Như câu : Đông phong bất độ Ngọc Môn quan – Gió xuân chẳng thổi qua Ngọc Môn quan. Ngọc Môn quan là nơi hẻo lánh ở miền tây Trung Quốc, vừa lạnh vừa khô, nên buồn lắm.

Vua Trần Nhân Tông có câu: Như kim khám phá Đông hoàng diện / Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng – Chúa xuân nay đã từng quen mặt / Chiếu cọ gường sư ngắm bóng hồng. Ban đêm, nằm trong nhà tranh vách đất , nghe gió bấc hú mà ớn lạnh, một bữa thấy đợt gió ấm áp thổi tới, là biết xuân về. Ở nước Nam ta, thì lúc giao thời đôi khi có cả gió bấc, gió xuân và gió nam.


Nhiều cụ già nông thôn rét mấy cũng không đi tất. Đối với đôi bàn chân quen trần, hình như bít tất rất vướng. Da chân nhà nông cũng dầy hơn da chân người thành thị. Mùa đông, cũng vẫn phải lội ruộng cầy bừa và cấy. Đôi khi muốn cải thiện, đi bắt ếch nằm trong hang. Tương truyền rằng, đầu rét, mỗi con ếch ngậm một con cua và ở lỳ trong hang cho hết đông. Đầu làng, đầu ruộng nhiều đống rác và đống rơm rạ được đốt lên khói bay nghi ngút . Tro than này lại tải ra ruộng làm phân bón. Làn khói xanh trong giá lạnh hình như làm cho giời ấm hơn . Xưa nông dân đun bằng củi và rơm, khói xanh trườn trên mái bếp, rồi tỏa vào lũy tre đượm một vẻ thanh bình. Nên họa sỹ thời Đường Hàn Hoảng khi vẽ tranh Năm con bò, có chua câu thơ rằng: Thái bình bản vô tượng / Thảo xá xuy yên phủ . Nghĩa là: Cảnh thái bình vốn không có hình tượng / Hãy nhìn lớp khói xanh trườn trên mái nhà tranh. Gió mùa đông thổi ù ù trên những ngọn cây, đôi khi rít lên, quấn rơm rạ quay tròn rồi tung lên trời. Gió làm búi tre cọ vào nhau kêu kẽo kẹt và dứt từng tầm liếp ra khỏi cửa . Mèo chó chúi hết vào bếp và những cây rơm. Ông bà già ho húng hắng, chỉ lo ngã là chầu trời. Gió bấc là một ma lực, hơn cả việc đem cái lạnh từ phương bắc tới, nó làm cho thanh niên rất hứng tình, nhưng lại tháo từng khớp xương của người già. Những cánh đồng làng trông hoang vu hơn, đất như bạc mầu hơn khi những cơn gió lướt qua mặt và những ngôi miếu giữa đồng trông ảm đạm hơn bên gốc cây đa cổ kính. Cuối đông vài cây đu tre sẽ được dựng trên vạt ruộng, cho nay mai tha hồ mà anh đu chị nhún, úp ngửa trên gió giời, mới thích làm sao .
Phan Cẩm Thượng
2008
*Bài viết do Họa sĩ Phan Cẩm Thượng gửi Tễu-Blog.
Xin chân thành cảm ơn tác giả!
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Khi nói về lịch sử Việt Nam, người ta thường hay nhắc đến cụm từ “Việt Nam có bốn nghìn năm văn hiến” mà văn hiến là truyển thống văn hóa lâu đời. Người ta cũng nói đến hai chữ văn vật vốn là truyền thống văn hóa biểu hiện ở nhiều nhân tài và nhiều di tích lịch sử.../09 Tháng Sáu 20122:00 CH(Xem: 4568)/
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh ("Tây tiến", thơ Quang Dũng) Xa nhìn thấp thoáng trong mây muôn bóng quân Nam chập chùng... (1) Câu hát ấy, từ bao năm nay vẫn cứ theo tôi, theo tôi mãi. Câu chuyện bắt đầu tư những ngày xa xưa, thuở tôi còn là cậu học trò nhỏ vừa bước vào năm học đầu tiên của một trường trung học ở thành phố cao nguyên có cái biệt danh nghe buồn buồn là "Buồn-muôn-thuở". Cậu học trò ấy, vào mỗi sáng thứ Hai, cùng chúng bạn đứng xếp hàng ngay ngắn trước sân cờ nao nức chờ đợi phút giây được tham dự vào nghi thức thượng kỳ đầu tuần trong bầu không khí thật trang nghiêm giữa sân trường thuở ấy.
“Thế là cậu đã nhẹ nhàng ra đi, rời xa cái thế giới mà cậu đã để lại rất nhiều sau hơn 80 năm góp mặt và đã sống tràn đầy từng phút từng giây. Trước hết, là một nhạc sĩ, cậu đã để lại hơn 200 nhạc phẩm, đã làm phong phú đời sống tinh thần và tình cảm của hàng triệu người nghe, và sẽ còn làm rung động tâm hồn hàng triệu người yêu nhạc nữa trong những thế hệ mai sau. Là một nghệ sĩ tài danh, cậu không kiêu căng lập dị. Trái lại, cậu đã luôn luôn cư xử khiêm tốn, nhún nhường, tôn trọng người khác như tác phong của con người có văn hóa, một đức tính đã khiến cậu được nhiều người mến mộ và noi gương. Là một nghệ sĩ chân chính, cậu đã không để đồng tiền làm vẩn đục tâm hồn. Cậu không đòi hỏi những ca sĩ trình diễn nhạc phẩm của mình phải trả tiền tác quyền mà chỉ nhận tiền của những ban nhạc lớn nhưng hầu hết số tiền thu được cậu đã đem tặng cho các hội từ thiện.
Thầy Cô thân mến, (Nếu được sự đồng ý của các bạn đồng lớp) Ngày mùng ba tết Năm Tân Sửu, con và các bạn học cùng lớp mừng tuổi Thầy Cô. Chúng con không có rượu, không có bánh tét, không có cặp trứng để mừng tuổi Thầy Cô, chỉ có mấy hàng chữ mà Thầy đã dạy chúng con học viết trong những năm tại trường Tấn Đức và lòng tôn trong với một người Thầy Giáo khả kính, hiền lành.
1. Nếu chịu khó đọc đủ nhiều và nghiên cứu sách tỉ mỉ, bạn sẽ không cần và không thích nghe bất cứ diễn giả nào chia sẻ. Nói cách khác, tất cả những gì một diễn giả, một nhà đào tạo nói với bạn đều có sẵn trong sách. 2. Diễn giả, nhà đào tạo ở ta là những kẻ nói lại sách của người khác để trục lợi. Có thể họ nói hùng hồn và dễ hiểu hơn nhưng phần lớn không sâu sắc và không đủ ý. Kiến thức mà thiếu ý là thứ kiến thức nguy hại. Giống như thầy lang đọc sách đau bụng uống nhân sâm. 3. Diễn giả đẳng cấp là kẻ phải ham đọc và ham viết. Họ thường là tác giả có tầm cỡ. Đương nhiên, diễn giả rởm cũng tỏ ra vẻ như mình đọc nhiều sách và khoe mình hay đọc sách. Chết là ở đó. Nhưng tinh ý, bạn sẽ biết họ đọc nhiều thật hay đang nói dối. Ngồi cạnh người đọc sách nhiều và đúng cách, bạn sẽ học được ít nhiều chỉ sau 5 phút. Kẻ đọc sách nhiều không đay nghiến và kì thị ai quá đáng. Họ ghét ai cũng là cái ghét từ bi. Yêu ai cũng không vồ vập.
Thật khó hình dung được thời gian qua nhanh, đã hơn mấy chục năm sống cuộc đời lưu vong tại Calgary, Alberta, miền Tây Canada. Dẫu muốn hay không cũng phải chấp nhận nơi đây là quê hương thứ hai, nơi đã mang và nuôi dưỡng chúng tôi hơn nửa đời người. Tạ ơn Chúa và Canada. Sự kiện đặc biệt đang xảy ra tại vùng này là trong suốt mấy chục năm qua chưa từng có một mùa Đông có nhiều ngày nắng và ấm như thế. Vào những ngày này của tháng giêng, mặt trời chiếu tỏa từ sáng tới chiều và nhiệt độ ấm lên từ 5c-6c vào khoảng một giờ chiều và đã kéo dài hơn hai tuần nay. Toàn tỉnh đang bị lockdown vì covid-19 mà có những ngày đẹp trời cũng tạo cho tâm lý bà con vui vẻ hơn; người người bước ra ngoài để hớp những không khí trong lành của thiên nhiên. Trẻ em thì háo hức chơi đủ trò trên tuyết – người lớn thì đi bộ dọc hai bên đường cùng với những chú chó bị nhốt lâu ngày trong nhà nay có dịp ra ngoài.
Tên nàng là Nhung Nữ. Dân làng đặt tên nàng là Nhung Nữ vì nàng có mái tóc dài, gợn sóng, nhung huyền, gần chấm đất những khi nàng cong tấm lưng thon, biểu diễn điệu múa quyến rũ, mỗi lần làng họp chợ. Nàng là một kỳ công tuyệt diệu của tạo hóa, với sóng mắt xếch như mang theo sự huyền bí của miền Đông Á. Da nàng là màu nắng mặt trời. Tóc nàng, nhung đen như đêm Ba Tư thần thoại, một suối nhung huyền trên tấm lưng thanh nhã, lượn sóng trên bờ eo nhỏ mỗi khi nàng dạo bước trên bãi biển. Môi nàng lúc nào cũng như tiềm ẩn một nụ cười, chờ đợi một chuỗi cười hồn nhiên, và viền môi cong như đón mời một nụ hôn nồng nàn làm tiêu tan nghị lực. Khuôn mặt nàng ẩn giấu nét rộn rã của đứa trẻ nhỏ, nhưng đồng thời chung quanh khóe mắt đẹp và hơi buồn đã thấp thoáng những nét nhăn như chứng tích của sự trưởng thành. Nàng là đàn bà trẻ thơ.
Sài Gòn vẫn rất dễ thương Cái tên dù lạ con đường vẫn quen Tôi hay “viện dẫn” hai câu thơ của mình mỗi khi phải hồi âm một cánh thư xa nào đó, thường là câu hỏi “Sài Gòn bây giờ ra sao?” Thật ra trong cảm nhận của tôi, Sài Gòn vẫn thế. Bởi dù trải qua nhiêu bao biến cố thăng trầm, thì Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông, thủ đô trong những trái tim miền Nam ngày nào vẫn không bao giờ thay đổi. Sài Gòn của một thời tôi mới lớn, những “con đường tình ta đi” Duy Tân, Trần Quý Cáp, Tú Xương, Công Lý. Những chiều bát phố Lê Lợi, Tự Do. Những rạp cine. Món bánh tôm hẻm Casino (Sài Gòn). Những xe bò viên Nguyễn Thiện Thuật. Bánh mì thịt trước chợ Trương Minh Giảng, gỏi đu đủ – khô bò – nước mía Viễn Đông (góc Lê Lợi – Pasteur)…
...chỉ với Mùa Xuân chín, Hàn Mặc Tử đã luôn là một nỗi nhớ khôn nguôi của người yêu thơ, yêu cái đẹp khi xuân về. Trong làn nắng ửng: khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng. Sột soạt gió trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang. Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời Bao cô thôn nữ hát trên đồi; Ngày mai trong đám xuân xanh ấy, Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi… Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi, Hổn hển như lời của nước mây, Thầm thì với ai ngồi dưới trúc, Nghe ra ý vị và thơ ngây… Khách xa gặp lúc mùa xuân chín, Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng: “Chị ấy, năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?” Có một chàng thi sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh sống vào khoảng nửa đầu thế kỷ 20 ở Nam Trung Bộ. 16 tuổi, chàng đã làm bài thơ đầu tiên. Chàng đã sống, đã đi, đã yêu tha thiết và đã đau đớn cùng cực.
Truyện Kiều là một tuyệt tác trong văn học sử Việt Nam, điều này ai cũng công nhận. Theo Phạm Quỳnh, “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”, nhưng ông và nhiều học giả khác không phân tích rõ Truyện Kiều hay như thế nào và tại sao tác phẩm này đặc biệt. Dù sao thì Truyện Kiều cũng có ảnh hưởng rất rộng với đại chúng, đa số người Việt biết thưởng thức thơ hay và ít quan tâm đến những phân tích phê bình của những nhà nghiên cứu. Lãng Nhân có nhận xét về một điểm vô lý trong Truyện Kiều: Khi mấy chị em đi chơi lễ Thanh Minh và thấy một nấm mồ hoang, em trai Thúy Kiều là Vương Quan chỉ là một cậu bé học trò 14-15 tuổi, vậy mà kể rành rẽ tiểu sử người kỹ nữ quá cố giống như một tay ăn chơi lão luyện: Vương Quan mới dẫn gần xa, Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi Nổi danh tài sắc một thì, Xôn xao ngoài cửa thiếu gì yến anh. Phận hồng nhan có mong manh, Nửa chừng xuân, thoắt gẫy cành thiên hương!
Bảo Trợ