Các điều kiện lãnh Ơn Toàn Xá trong tháng 11 được điều chỉnh

26 Tháng Mười 20204:00 SA(Xem: 73)

Các điều kiện lãnh Ơn Toàn Xá trong tháng 11 được điều chỉnh

Do đại dịch Covid-19, để đảm bảo các điều kiện an toàn sức khoẻ, Toà Ân giải Tối cao đã ban hành một sắc lệch cho phép việc lãnh nhận Ơn Toàn Xá cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời có thể được thực hiện trong suốt tháng 11.
Cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời

Văn Yên, SJ - Vatican News

Sắc lệnh giải thích, Toà Ân giải Tối cao đã nhận được nhiều thỉnh nguyện của các mục tử xin cho việc thực hành đạo đức “cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời” được thực hiện phù hợp với bối cảnh đại dịch, Toà Ân giải Tối cao đã quyết định:

“Ơn Toàn Xá được ban cho những ai viếng nghĩa trang và cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời, thông thường chỉ trong những ngày từ 1-8/11, có thể chuyển sang các ngày khác đến hết tháng 11. Những ngày này, do mỗi tín hữu tự chọn, có thể tách biệt nhau” (không cần các ngày liên tiếp).

Bên cạnh đó, sắc lệnh cũng điều chỉnh việc lãnh nhận Ơn Toàn Xá vào ngày 2/11, ngày lễ “cầu nguyện cho các tín hữu qua đời”, khi viếng nhà thờ hoặc nhà nguyện và đọc một Kinh Lạy Cha và một Kinh Tin Kính, có thể dời không chỉ vào ngày Chúa Nhật trước hoặc sau đó, hoặc vào ngày lễ Các Thánh, mà còn có thể vào một ngày nào khác của tháng 11, do mỗi tín hữu tự chọn.

Thêm vào đó, riêng đối với những người già, người bệnh hoặc những ai vì lý do nghiêm trọng không thể ra khỏi nhà, cũng có thể lãnh nhận Ơn Toàn Xá, miễn là họ hiệp nhất thiêng liêng với các tín hữu khác, hoàn toàn xa lánh tội lỗi và với ý hướng thực hành ba điều kiện thông thường: xưng tội, rước lễ và cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng. Họ có thể làm việc này trước một bức ảnh Chúa Giêsu hay Đức Mẹ, đọc kinh cầu cho những người đã qua đời hoặc một bài đọc Kinh Thánh vv… để dâng cho Chúa những đau khổ và khó khăn của mình.

Sắc lệnh cũng kêu gọi các linh mục, trong năng quyền của mình, quảng đại cử hành bí tích Giải Tội và trao Mình Thánh Chúa cho bệnh nhân. Đồng thời, vì lợi ích cho các linh hồn trong Luyện ngục, tất cả các linh mục đều được mời gọi cử hành ba Thánh Lễ trong ngày cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời, theo Tông hiến Incruentum Altaris, do Đức Benedictô XV ban hành 10/08/1915.
Đài Vatican

ĐTC Phanxicô: Không ai được cứu độ một mình

Trong bài diễn văn tại Cuộc Gặp gỡ Quốc tế vì Hòa bình, được Cộng đồng thánh Egidio tổ chức tại Roma với tựa đề “Không ai được cứu một mình. Hòa bình và Tình huynh đệ", Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi các nhà lãnh đạo của các tín ngưỡng khác cùng hợp tác “với sức mạnh hiền dịu của đức tin để chấm dứt mọi xung đột".

Hồng Thủy - Vatican News

Sau giờ cầu nguyện, các lãnh đạo tôn giáo và các quan khách đến quảng trường Campidoglio trước tòa thị trưởng Roma để bắt đầu cuộc gặp gỡ liên tôn. Tổng thống Sergio Mattarella của Ý chào Đức Thánh Cha và Đức Thượng phụ Bartolomeo. Sau đó các lãnh đạo các tôn giáo ngoài Ki-tô giáo cũng chào Đức Thánh Cha.

Lúc gần 5 giờ rưỡi, cuộc gặp gỡ liên tôn tại quảng trường Campidoglio bắt đầu. Sau lời chào mừng khai mạc của ông Andrea Riccardo, người sáng lập cộng đoàn thánh Egidio, và của Tổng thống Mattarella, các vị lãnh đạo các tôn giáo đã lần lượt phát biểu. Trước hết là Đức Thượng phụ Bartolomeo I của Chính Thống Constantinople, rồi đến ông Haim Korsia, Rabbi trưởng ở Pháp; tiến sĩ Mohamed Abdelsalam Abdellatif, Tổng Thư ký Ủy ban Cao cấp về tình Huynh đệ nhân loại. Sau một bản nhạc, cuộc gặp gỡ tiếp tục với bài phát biểu của Hòa thượng Shoten Minegishi và của tiến sĩ Karrmaljit Singh Dillon của Ủy ban Quốc gia tín hữu Sikh.

Lên tiếng cuối cùng là Đức Thánh Cha Phanxicô. Mở đầu bài diễn văn Đức Thánh Cha nói: “Tôi vui mừng và tạ ơn Chúa vì tại đây trên Đồi Capitol, ở trung tâm của Roma, tôi có thể gặp gỡ quý vị, các nhà lãnh đạo tôn giáo, các cơ quan công quyền và rất nhiều bạn bè yêu chuộng hòa bình. Bên cạnh nhau, chúng ta đã cầu nguyện cho hòa bình.”

Sau khi chào Tổng thống Ý, Đức Thượng Phụ Bartolomeo và các vị lãnh đạo hiện diện, Đức Thánh Cha nhắc lại cuộc gặp gỡ tại Assisi vào năm 1986, lần đầu tiên Đức Giáo hoàng mời các vị lãnh đạo các tôn giáo khác cùng ngài cầu nguyện cho hòa bình cho gia đình nhân loại.

Ngài nhận định rằng Cuộc Gặp gỡ Assisi và tầm nhìn hòa bình của nó có hạt giống tiên tri mà nhờ ơn Chúa đã dần dần chín mùi qua những cuộc gặp gỡ chưa từng có, những hành động kiến tạo hòa bình và những sáng kiến mới mẻ của tình huynh đệ. Đức Thánh Cha nói: "Dù những năm qua đã chứng kiến những sự kiện đau đớn, bao gồm xung đột, khủng bố và chủ nghĩa cực đoan, đôi khi nhân danh tôn giáo, nhưng chúng ta cũng phải ghi nhận những bước tiến hiệu quả được thực hiện trong cuộc đối thoại giữa các tôn giáo. Đây là một dấu hiệu của hy vọng khuyến khích chúng ta tiếp tục hợp tác như anh chị em. Bằng cách này, chúng ta đã đến được Văn kiện quan trọng về Tình huynh đệ con người vì Hòa bình Thế giới và sự Chung sống, mà tôi đã ký với Đại Imam của Al-Azhar, Ahmad Al-Tayyeb, vào năm 2019.”

Các tôn giáo phục vụ hòa bình và tình huynh đệ

Đức Thánh Cha khẳng định: “Giới răn về hòa bình được khắc sâu trong các truyền thống tôn giáo”(Fratelli Tutti, 284). Các tín đồ đã hiểu rằng sự khác biệt tôn giáo không biện minh cho sự thờ ơ hay thù hận. Đúng hơn, trên nền tảng đức tin tôn giáo của mình, chúng ta có khả năng trở thành những người kiến tạo hòa bình, thay vì đứng im, bị động trước sự ác của chiến tranh và hận thù. Các tôn giáo phục vụ hòa bình và tình huynh đệ. Vì lý do này, cuộc gặp gỡ này thúc đẩy các lãnh đạo tôn giáo và tất cả các tín đồ nhiệt thành cầu nguyện cho hòa bình, không bao giờ đầu hàng chiến tranh, nhưng hành động với sức mạnh hiền lành của đức tin để chấm dứt xung đột.”

Dửng dưng và đại dịch làm cho sự ác của chiến tranh thêm trầm trọng

Đức Thánh Cha nói tiếp: “Chúng ta cần hòa bình! Cần bình an hơn! ‘Chúng ta không thể thờ ơ. Ngày nay thế giới có một khát khao hòa bình mãnh liệt. Ở nhiều quốc gia, con người đang phải chịu đựng những đau khổ do chiến tranh, thường bị lãng quên, nhưng luôn là nguyên nhân của đau khổ và nghèo đói” (Diễn văn  Ngày Thế giới Cầu nguyện cho Hòa bình, Assisi, 20/1/2016). Thế giới, đời sống chính trị và dư luận đều có nguy cơ ngày càng quen thuộc với sự ác độc của chiến tranh, như thể nó đơn giản là một phần của lịch sử nhân loại. ‘Chúng ta đừng sa lầy vào các cuộc thảo luận lý thuyết, nhưng hãy chạm vào da thịt bị thương của các nạn nhân… Chúng ta hãy nghĩ đến những người tị nạn và di tản, những người chịu ảnh hưởng của bức xạ nguyên tử hoặc các cuộc tấn công hóa học, những người mẹ mất con và các trẻ em trai gái bị đày đọa hoặc bị tước đoạt tuổi thơ” (Fratelli Tutti, 261). Hiện nay, những đau khổ của chiến tranh càng trở nên trầm trọng hơn bởi đau khổ do virus corona gây ra và ở nhiều quốc gia, bởi việc không có được những chăm sóc cần thiết.

Hòa bình là ưu tiên của mọi nền chính trị

Đức Thánh Cha cũng lưu ý: “Trong khi đó, các cuộc xung đột vẫn tiếp diễn, khiến họ đau khổ và chết chóc. Chấm dứt chiến tranh là một nghĩa vụ trang trọng trước mặt Thiên Chúa của tất cả những người nắm giữ trách nhiệm chính trị. Hòa bình là ưu tiên của mọi nền chính trị. Thiên Chúa sẽ hỏi về những người không tìm hòa bình, hoặc những người gây ra căng thẳng và xung đột. Người sẽ yêu cầu họ thuật lại tất cả những ngày, tháng và năm chiến tranh mà các dân tộc trên thế giới phải chịu đựng!”

Chiến tranh đã đủ rồi!

Nhắc lại lời Chúa Giê-su nói với thánh Phê-rô: “Hãy đặt gươm lại vào chỗ cũ; vì ai cầm gươm sẽ bị chết vì gươm”(Mt 26,52), Đức Thánh Cha giải thích rằng những người sử dụng gươm, có thể với niềm tin rằng nó sẽ giải quyết các tình huống khó khăn một cách nhanh chóng, sẽ biết trong cuộc sống của chính họ, cuộc sống của những người thân yêu và cuộc sống của đất nước họ, cái chết bởi gươm giáo. Chúa Giêsu nói "Đủ rồi!" (Lc 22,38), khi các môn đệ đưa ra hai thanh gươm trước cuộc Khổ nạn. "Đủ rồi!" Đó là phản ứng rõ ràng của Chúa đối với bất kỳ hình thức bạo lực nào. Lời duy nhất đó của Chúa Giêsu vang vọng qua nhiều thế kỷ và nói với chúng ta một cách mạnh mẽ trong thời đại của chúng ta: đã đủ gươm giáo, vũ khí, bạo lực và chiến tranh rồi!”

Đức Thánh Cha nhắc lại rằng Thánh Giáo hoàng Phaolô VI đã lặp lại lời đó trong lời kêu gọi Liên Hiệp Quốc vào năm 1965: “Đừng gây thêm chiến tranh!” Đây là lời kêu gọi của chúng ta và tất cả những người nam nữ thiện chí. Đó là ước mơ của tất cả những ai nỗ lực và hoạt động cho hòa bình khi nhận ra rằng “mọi cuộc chiến tranh đều khiến thế giới của chúng ta tồi tệ hơn trước” (Fratelli Tutti, 261).


Chúng ta chỉ có thể được cứu cùng nhau

Đức Thánh Cha đặt câu hỏi: “Làm thế nào để chúng ta tìm ra con đường thoát khỏi những xung đột khó chịu và dai dẳng? Làm thế nào để chúng ta gỡ rối cho rất nhiều cuộc đấu tranh vũ trang? Làm thế nào để chúng ta ngăn chặn các xung đột? Làm thế nào để chúng ta gợi nên các ý tưởng hòa bình nơi các lãnh chúa và những người dựa vào sức mạnh của vũ khí? Không một người nào, không một nhóm xã hội nào có thể một tay tạo ra hòa bình, thịnh vượng, an ninh và hạnh phúc. Không một ai. Bài học rút ra từ đại dịch gần đây, nếu chúng ta muốn trung thực, đó là “nhận thức rằng chúng ta là một cộng đồng toàn cầu, tất cả ở trên cùng một con thuyền, nơi vấn đề của một người là vấn đề của tất cả. Một lần nữa chúng ta nhận ra rằng không ai được cứu một mình; chúng ta chỉ có thể được cứu cùng nhau”(Fratelli Tutti, 32).

Tình huynh đệ, được sinh ra từ nhận thức rằng chúng ta là một gia đình nhân loại, phải thâm nhập vào đời sống của các dân tộc, các cộng đồng, các nhà lãnh đạo chính phủ và cộng đồng quốc tế. Điều này sẽ giúp mọi người hiểu rằng chúng ta chỉ có thể được cứu cùng nhau thông qua cuộc gặp gỡ và thương lượng, gạt bỏ xung đột và theo đuổi hòa giải, kiểm soát ngôn ngữ chính trị và tuyên truyền, và phát triển các con đường hòa bình thực sự (x. Fratelli Tutti, 231).

Cuối bài diễn văn, Đức Thánh Cha nhấn mạnh: “Chúng ta họp nhau vào chiều hôm nay, với tư cách là những người thuộc các truyền thống tôn giáo khác nhau, để gửi đi một thông điệp hòa bình. Điều này chứng tỏ rõ ràng rằng các tôn giáo không muốn chiến tranh; ngược lại, họ chối bỏ những người thần thánh hóa bạo lực. Họ yêu cầu mọi người cầu nguyện cho sự hòa giải và hành động để tình huynh đệ mở ra những con đường hy vọng mới. Trên thực tế, với sự trợ giúp của Chúa, chúng ta có thể xây dựng một thế giới hòa bình, và do đó được cứu cùng với nhau. 

Sau diễn văn của Đức Thánh Cha, một video ngắn với những hình ảnh đau khổ của thế giới được chiếu. Mọi người được mời gọi thinh lặng một phút để tưởng nhớ các nạn nhân của đại dịch và của các cuộc chiến.

Tiếp đến, lời kêu gọi hòa bình năm 2020 được xướng lên. Sau đó các trẻ em nhận Lời Kêu gọi Hòa bình từ các vị lãnh đạo liên tôn, giơ cao cho mọi người hiện diện nhìn thấy và sau đó trao cho các đại sứ và các lãnh đạo các tổ chức.

Đức Thánh Cha và các vị lãnh đạo thắp sáng các ngọn nến hòa bình và ký Lời Kêu gọi hòa bình Roma năm 2020.

Cuộc gặp gỡ liên tôn kết thúc với cử chỉ chúc bình an của các vị lãnh đạo tôn giáo.


Đài Vatican

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Thuật ngữ communio sanctorum đã được đưa vào “Tín biểu các thánh tông đồ”, và dịch sang tiếng Việt là “các thánh thông công”. Trong việc giải thích tín điều này, các tác giả cổ điển nói sự thông hiệp giữa ba “tình trạng của Giáo hội” (tres status Ecclesiae): Giáo hội chiến đấu, Giáo hội đau khổ, Giáo hội khải hoàn. Công đồng Vaticanô II (LG 48) đã đổi danh xưng thành “Giáo hội lữ hành – thanh luyện – hiển vinh”. Đây không phải là ba Giáo hội nhưng là ba chặng của một Giáo hội duy nhất, với Chúa Kitô là nguyên thủ. Cả ba đều chung một niềm mong đợi, đó là sự quang lâm của Chúa Kitô. Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo (số 954) viết như sau (trích lại LG 49):
Bình Hòa Theo lịch phụng vụ, ngày 8 tháng 9 kính lễ Sinh nhựt Đức Mẹ; và ngày 12 tháng 9 kính tên Mẹ Maria. Lễ kính tên Đức Mẹ Maria có ý nghĩa gì? Khi phân tích các lễ kính Đức Mẹ Maria trong năm phụng vụ, chúng ta thấy lòng đạo đức bình dân muốn mừng một lễ dành cho Đức Mẹ tương tự như lễ dành cho Chúa Giêsu. Chẳng hạn như có lễ kính việc thụ thai Chúa Giêsu trong lòng đức Maria (quen gọi là lễ truyền tin), thì cũng có lễ kính việc thụ thai đức Maria trong lòng bà thánh Anna (gốc tích của lễ đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội); nếu đã có lễ sinh nhật Chúa Giêsu thì cũng có lễ sinh nhật Đức Mẹ. Nếu có lễ Chúa Phục sinh và Lên trời, thì cũng có lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời. Nếu có lễ kính trái tim rất thánh của Chúa Giêsu, thì cũng có lễ kính trái tim vô nhiễm của Mẹ Maria.
WHĐ (20.8.2020) – Rodney Stark là tác giả của Rise of Christianity, quyển sách thuộc loại best-selling (Harper, San Francisco, 1977). Hiện nay, ông là giáo sư Khoa học xã hội và đồng giám đốc Viện nghiên cứu tôn giáo tại đại học Baylor, đại học lớn nhất của Tin Lành Baptist tại Hoa Kỳ. Ông cũng là giáo sư danh dự của đại học Bắc Kinh, Trung Quốc. Năm 2016, ông cho ra mắt quyển Bearing False Witness: Debunking Centuries of Anti-Catholic History, Templeton Press – (Làm chứng gian: Vạch trần lịch sử chống Công giáo trong nhiều thế kỷ). Trong quyển sách này, tác giả xem xét và đánh giá lại những tội ác được gán cho Giáo Hội Công giáo liên quan đến các sự kiện lớn trong lịch sử, từ các cuộc thánh chiến, rồi sự đàn áp các nhà khoa học, đến Giáo Hội và chủ trương bài Do Thái.
Trong lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam, ước tính có đến hàng trăm ngàn người đã làm chứng đức tin Kitô Giáo, trong số đó có 118 Thánh Tử đạo, với 117 vị được Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong Thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988 và Á Thánh An-rê Phú Yên, phong Chân phước ngày 5 tháng 3 năm 2000./post 15 Tháng Mười Một 2015 (Xem: 2652)/
Chiến tranh tôn giáo thường được hiểu là “chiến tranh giữa các tôn giáo”, hoặc “chiến tranh vì lý do tôn giáo”, nhưng cũng đừng bỏ qua “chiến tranh chống lại tôn giáo”. Trong bài này, tác giả, một ký giả và giảng viên môn Truyền thông xã hội tại đại học Abat Oliba (Barcelona) trình bày kết quả cuộc sưu tầm theo hai nghĩa đầu tiên, dựa trên bộ Encyclopedia of Wars, và cho thấy rằng con số này chỉ chiếm 7% trong tổng số các cuộc chiến tranh trong lịch sử nhân loại. Nguồn: Cuántas guerras han tenido una causa religiosa?
Hồng y Gianfranco Ravasi - Kinh thánh đầy dẫy những trang nói đến bạo lực. Chiến tranh là một đề tài được nhắc tới nhiều nhất trong Cựu ước, còn hơn các đề tài khác của cuộc sống nhân sinh. Cần phải loại bỏ những đoạn văn ấy, vì nó không phù hợp với Tin mừng (quan điểm của Markion)? Hoặc giải thích theo nghĩa thiêng liêng? Theo tác giả, cần đọc các bản văn này trong kế hoạch mặc khải tiệm tiến của Thiên Chúa trong lịch sử, và dụng ý của chúng đôi khi trái ngược với cảm giác khi độc giả mới tiếp xúc. Tác giả hiện nay là Chủ tịch Hội đồng Văn hóa của Tòa Thánh. Nguồn: Ravasi,Gianfranco, la Bibbia e le guerre di Dio, in: García, José Juan (director): Enciclopedia de Bioética, URL: http://enciclopediadebioetica.com/index.php/todas-las-voces/186-la-bibbia-e-le-guerre-di-dio
Việc Huấn Luyện Chủng Sinh Tại Việt Nam Trước Hiện Tượng Tục Hóa VIỆC HUẤN LUYỆN CHỦNG SINH TẠI VIỆT NAM TRƯỚC HIỆN TƯỢNG TỤC HÓA SUY TƯ VÀ KINH NGHIỆM Giám mục Giuse Đinh Đức Đạo Dẫn nhập. I. Ý nghĩa, biểu hiện và nguồn gốc của hiện tượng tục hóa. 1. Ý nghĩa hiện tượng tục hóa. 2. Những biểu hiện của hiện tượng tục hóa. 3. Nguồn gốc của hiện tượng tục hóa và những biểu hiện khác của tục hóa. II. Việc huấn luyện chủng sinh tại Việt Nam đứng trước hiện tượng tục hóa. 1. Hiện tượng tục hóa: nguồn gốc và đặc tính của tục hóa tại Việt Nam. 2. Hiện tượng tục hóa: những vấn đề căn bản. 3. Việc huấn luyện: những yếu tố căn bản và phương pháp. Thay lời kết. WHĐ (12.8.2020) – Trào lưu tục hóa đang gây nhiều khó khăn cho đời sống đức tin của nhiều giáo hữu, đến độ ĐTC Bênêđictô XVI đã phải cho thành lập Hội đồng Giáo hoàng cổ võ việc tân Phúc âm hóa để giúp cho các Giáo Hội địa phương đáp lại những vấn đề do việc tục hóa gây ra.[1]
Chúng ta đã được dạy rất nhiều về việc phải dành giờ cầu nguyện. Các vị thánh đã xác nhận rằng cầu nguyện là hơi thở của đời sống thiêng liêng, giúp chúng ta hướng về Chúa. Tuy vậy, cuộc sống hối hả và vụ lợi thời nay đã khiến người ta nghi ngờ về điều này. Phần vì không có thời gian, phần vì thấy cầu nguyện chẳng mang lại lợi ích gì, người ta đã bỏ đi thói quen tốt lành ấy. Cũng có rất nhiều người cho rằng cầu nguyện là việc của những người đi tu hoặc những ai rảnh rỗi.
Giúp soạn bài giảng – tư liệu giúp soạn một bài giảng tốt. Như một phần sứ vụ của tôi là cung cấp tư liệu cho việc truyền đạt Lời Chúa, tôi sẽ mô tả những nét chính của một chuỗi các đề mục để làm sao chúng ta có thể soạn được một bài giảng tốt. Trong tiến trình các bước, chúng tôi hy vọng không chỉ cung cấp cho đọc giả những bước cần thiết để xây dựng một bài giảng hiệu quả nhưng còn cho thấy ý nghĩa thần học của một bài giảng cũng như vai trò của bài giảng trong phụng vụ. Hướng đến mục tiêu đó, tôi sẽ bắt đầu nói đến mục đích của bài giảng là gì, vai trò của bài giảng trong phụng vụ và chỗ đứng của bài giảng trong việc hình thành dân Chúa.
Trong nhiều quyển lịch ấn hành ở ngoại quốc, ngày 17 tháng 7 được ghi là kính thánh Alêxiô. Có phải thánh Alêxiô là Alêxù không? Tại sao tên vị thánh này không được ghi vào lịch phụng vụ? Thánh Alêxiô đúng là thánh Alêxù đó. Alêxius là tiếng La-tinh, dịch sang tiếng Pháp và tiếng Anh là Alexis (bổn mạng của đức cha Phạm văn Lộc, nguyên giám mục Kontum). Đừng lẫn với thánh Aloysius, tên La-tinh của thánh Luigi Gonzaga, được phụng vụ kính vào ngày 21 tháng 6. Trước đây, thánh Alexis được phụng vụ kính ngày 17 thang 7, nhưng với cuộc cải tổ phụng vụ sau công đồng Vaticanô II thì thánh Alexis bị gạt ra ngoài. Vì lý do gì?
Bảo Trợ