Lễ kính tên Đức Mẹ Maria có ý nghĩa gì?

06 Tháng Mười 20201:17 SA(Xem: 370)

Lễ kính tên Đức Mẹ Maria có ý nghĩa gì?
Bình Hòa - HV Daminh

Theo lịch phụng vụ, ngày 8 tháng 9 kính lễ Sinh nhựt Đức Mẹ; và ngày 12 tháng 9 kính tên Mẹ Maria. Lễ kính tên Đức Mẹ Maria có ý nghĩa gì?

Maria

Khi phân tích các lễ kính Đức Mẹ Maria trong năm phụng vụ, chúng ta thấy lòng đạo đức bình dân muốn mừng một lễ dành cho Đức Mẹ tương tự như lễ dành cho Chúa Giêsu. Chẳng hạn như có lễ kính việc thụ thai Chúa Giêsu trong lòng đức Maria (quen gọi là lễ truyền tin), thì cũng có lễ kính việc thụ thai đức Maria trong lòng bà thánh Anna (gốc tích của lễ đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội); nếu đã có lễ sinh nhật Chúa Giêsu thì cũng có lễ sinh nhật Đức Mẹ. Nếu có lễ Chúa Phục sinh và Lên trời, thì cũng có lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời. Nếu có lễ kính trái tim rất thánh của Chúa Giêsu, thì cũng có lễ kính trái tim vô nhiễm của Mẹ Maria. Trong tháng 9 này, ngày 14 dành kính nhớ thánh giá Chúa Giêsu, thì ngày 15 kế đó là lễ kính nhớ Đức Mẹ đứng gần bên thập giá. Từ đó, chúng ta cũng dễ hiểu vì sao mà có lễ kính Tên Chúa Giêsu và lễ kính tên Đức Maria.

Hai lễ này có ra đời cùng lúc không?

Tuy rằng trong niên lịch phụng vụ hiện hành, chúng ta nhận thấy có sự song đối giữa các lễ kính Chúa Giêsu và các lễ kính Đức Maria, nhưng xét về nguồn gốc lịch sử thì các lễ kính Chúa xuất hiện trước, rồi sau đó mới đến lễ của Đức Mẹ. Một cách cụ thể, bàn về lễ kính danh, ta có thể ghi nhận những sự tiến triển như sau. Từ năm 1530, dòng Phan-sinh được đức thánh cha Clêmentê VII cho phép mừng lễ kính thánh danh Chúa Giêsu vào ngày 14 tháng giêng. Đến năm 1721, lễ này mới được nới rộng ra toàn thể Hội thánh. Nam 1913, lễ này được dời sang Chúa nhật sau ngày 1 tháng giêng. Cuộc cải tổ lịch phụng vụ năm 1970 dẹp bỏ lễ này, với lý do là lễ kính danh Chúa đã được bao gồm trong ngày bát nhật Giáng sinh, nghĩa là ngày đầu năm dương lịch rồi. Với việc phát hành Sách lễ Rôma năm 2002 thì lễ kính danh Chúa lại được tái lập vào ngày 3 tháng giêng. Đó là nói về lễ kính danh thánh Chúa Giêsu. Còn lễ kính danh đức Maria có một lịch sử riêng biệt. Tại Rôma, từ thế kỷ VII đã có lễ sinh nhật Đức Mẹ, được mừng rất long trọng vào ngày 8 tháng 9. Lễ kính tên Đức Mẹ được bắt đầu ở Cuenca bên Tây ban nha vào năm 1513, mừng vào ngày 12 tháng 9. Năm 1683 đức thánh cha Innocentê XI cho mừng trong toàn thể Hội thánh, để tạ ơn Chúa và Đức Mẹ vì trận chiến thắng tại Vienne (thủ đô Áo quốc) chống lại sự tấn công của Thổ-nhĩ-kỳ, chấm dứt những mưu toan của Hồi giáo muốn tràn qua châu Âu. Lễ kính ten Đức Maria cũng chịu chung số phận với lễ kính danh thánh Chúa, nghĩa là cũng bị gạch khỏi lịch phụng vụ cải tổ năm 1970, và được tái lập vào năm 2002. Hiện nay chỉ là một lễ nhớ nhiệm ý.

Đó là lịch sử của lễ kính phụng vụ. Còn dưới khía cạnh thần học, việc kính tên Maria có ý nghĩa gì?

Chúng ta nên phân biệt hai lãnh vực: thứ nhất là ý nghĩa của tên Maria xét theo lãnh vực từ ngữ; thứ hai, là lãnh vực thần học. Xét về khía cạnh từ ngữ, thì như chị đã biết, trong xã hội Do thái, việc đặt tên mang một ý nghĩa cũng tương tự như trong các xã hội bên Đông phương vậy, bởi vì “tên là người”, nhất là khi mà người đó lãnh một sứ mạng đối với dân tộc. Vì the không lạ gì mà trong Cựu ước, chúng ta thấy có những người mang tên do thiên sứ chỉ định, như trường hợp của Abraham, Môsê, Samson. Điều tương tự cũng xảy ra trong Tân ước, đối với Gioan tiền hô, Phêrô và nhất là Giêsu. Riêng đối với tên Maria, ta có thể nói như thế này. Trong lịch sử dân tộc Do thái, đã có nhiều phụ nữ mang tên là Maria, hay muốn nói chính xác hơn Miryam, chẳng hạn như người chị của ông Môsê. Trong Tân ước, Phúc âm kể lai nhiều phụ nữ mang tên là Maria, chẳng hạn như bà Maria ở làng Bêtania, thuộc gia đình của bà Marta và ông Ladarô; bà Maria Clêopa, và đặc biệt là bà Maria ở làng Magđala. Vì thế, có thể nói rằng Maria là một tên gọi khá phổ thông trong giới phụ nữ, và có lẽ chẳng có ý nghĩa đặc biệt. Tuy nhiên, kể từ khi một người phụ nữ làng Nadaret mang tên là Maria trở nên thân mẫu của Chúa Cứu thế, thì các giáo phụ và các nhà thần học mới đe ý phân tích ý nghĩa của tên gọi này. Chỉ riêng từ thánh Epiphaniô (thế kỷ VIII) cho đến cha Hugues de Saint Victor (thế kỷ XII), người ta tính được 70 lối giải thích khác nhau; tiếc rằng đa số những lời giải thích đó dựa theo những dụng ý thần học hơn là theo ngôn-ngữ-học. Ngày nay, người ta chỉ còn giữ lại hai giả thuyết theo tầm nguyên.

Tầm nguyên dựa theo tiếng Do thái, phải không?

Dĩ nhiên, nếu muốn theo sát khoa học thì phải dựa theo nguyên ngữ Do thái, chứ không thể nào theo lối phiên âm ra các ngôn ngữ hiện đại, kiểu như trong quá khứ không xa lắm, đã có người tán tiếng Marie trong tiếng Pháp cũng gồm 5 vần như là aimer, vì thế Marie có nghĩa là thương yêu. Dựa theo nguồn gốc Miryam trong tiếng Do thái, các nhà chú giải đưa ra hai giả thuyết. Giả thiết thứ nhất móc nối miryam với myrrha, có nghĩa là “biển chua chát”, hay “sự chua chát của biển”. Từ đó, người ta gắn liền với hai nghĩa khác dành cho sứ mạng của Mẹ Maria: “biển” thì gắn với “sao biển”; còn “chua chát” thì đi với những thử thách đau khổ gây ra nhiều cay đắng suốt cuộc đời. Giả thiết thứ hai thì móc nối miryam với hai nguyên gốc khác nhau: một gốc tiếng Ai-cập mry, mryt có nghĩa là được yêu thương; và một gốc tiếng Do thái jam có nghĩa là Jaweh (Thiên Chúa); ghép lại hai gốc đó, miryam có nghĩa là kẻ được Chúa thương yêu.

Tại sao phải móc nối với tiếng Ai-cập làm gì?

Xét về ngôn-ngữ-học, thì các từ ngữ vay mượn của các dân tộc láng giềng không còn phải là chuyện gì xa lạ, chẳng hạn như người ta cắt nghĩa từ “Việt” như tên riêng của một dân tộc, nhưng cũng có thể là gốc bởi “Vượt” trong tiếng Hán. Xét về khía cạnh lịch sử, thì bà Myriam nổi tiếng nhất trong lịch sử Do thái là chị của ông Môsê, ở đầu sách Xuất hành (chương 2). Lúc đó hai chị em đang sống bên Ai-cập; vì thế nếu tên của Aaron và Môsê đều mang gốc tích của ngôn ngữ này, thì tên Myriam có một phần Ai cập cũng chẳng có gì lạ. Tóm lại, theo giả thuyết thứ hai, tên miryam có nghĩa là kẻ được Chúa yêu thương; và tên này rất xứng hợp với đức Maria làng Nadarét, kẻ được thiên sứ Gabriel chào là “kẻ được Thiên Chúa sủng ái”. Điều này cũng giống như tên Giêsu: theo nguyên ngữ, tên này có nghĩa là “Thiên Chúa cứu chữa” và đã được đặt cho ông Giosuê, kẻ kế vị Môsê lãnh đạo dân tộc Israel, nhưng tên gọi được áp dụng cho Đức Giêsu Nadarét cách đặc biệt bởi vì Người thực sự là kẻ cứu chuộc nhân loại khỏi tội lỗi.

Nhưng đó là bước sang ý nghĩa thần học rồi, chứ đâu phải là ý nghĩa ngôn-ngữ học nữa?

Đúng thế. Như đã nói trên đây, nhiều lễ phụng vụ kính Đức Maria hoạ lại các lễ kính Chúa Giêsu. Riêng về việc kính tên, thì ta cần phải nói như sau. Lễ kính danh thánh Chúa Giêsu mới được du nhập vào lịch phụng vụ phổ quát từ năm 1721, nhưng việc tôn kính danh Chúa Giêsu thì đã có từ lâu đời rồi. Trong Tân ước, căn cước của các Kitô hữu đã được định nghĩa như là “những kẻ kêu cầu danh Chúa Giêsu” (Cv 9,14.21; 1 Cr 1,2). Trong Phúc âm theo thánh Gioan, chính Chúa Giêsu đã khuyến khích các môn đệ hãy dùng danh Người để cầu nguyện với Chúa Cha (Ga 14,13; 15,16; 16,23). Kêu cầu và tuyên xưng danh đức Giêsu có nghĩa là nhìn nhận rằng đức Giêsu thực là Đấng cứu chuộc duy nhất của nhân loại (Cv 4,11-12), tuyên xưng rằng do cuộc Tử nạn và Phục sinh, đức Kitô đã được siêu tôn là Chủ tể với quyền năng trên trời dưới đất. Dưới khía cạnh này, thì danh Giêsu chiem một vị thế độc nhất vô nhị trong lịch sử loài người. Ngoài ra, các tín hữu bên Đông phương còn đọc một kinh mà họ gọi là kính danh Chúa Giêsu như sau: “Lạy Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”.

Con khi kính danh Maria, thì chúng ta cũng muốn hợp lời với thiên sứ Gabriel và bà Ysave, để ngợi khen Người vì đã được Thiên Chúa đoái thương chọn làm thân mẫu của Chúa Cứu thế, và vì thế chúng ta tin rằng Người cũng quan tam đến số phận của nhân loại. Đó là ý nghĩa của kinh “Kính mừng”, trong đó danh Maria được lặp lại hai lần: phần thứ nhất mang tính cách chúc tụng ngợi ca, còn phần thứ hai mang tính cách khẩn cầu, theo như sách Giáo lý Hội thánh công giáo đã giải thích ở số 2675. Dĩ nhiên, ta có thể coi các danh xưng và các tước hiệu trong “Kinh cầu Đức Bà” như là những cách chú giải danh xưng Maria, không còn theo nghĩa ngôn ngữ học, nhưng trong mối tương quan với các tín hữu.

Với việc tái lập lễ kính tên Đức Maria vào ngày 12 tháng 9, những người mang tên thánh Maria cũng mừng lễ bổn mạng vào ngày này, phải không?

Không hẳn như vậy. Trong năm có nhiều lễ kính Đức Mẹ, cho nên những người mang tên Maria chọn ngày nào mà họ ưa thích. Ngoài ra, điều này còn tùy thuộc vào tập tục của mỗi dân tộc nữa. Nói chung, bên Pháp người ta mừng vào ngày 15 tháng 8; bên Italia, người ta mừng vào ngày 8 tháng 9; bên Tây ban nha vào ngày 8 tháng 12.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Nguồn gốc của mọi thiên chức linh mục Chủ đề linh mục là đề tài rất được quan tâm và mang tính thời sự trong thế kỷ qua. Công Đồng Vaticanô II đã dành trọn một tài liệu cho chủ đề này với sắc lệnh Presbyterorum Ordinis; năm 1992, thánh Gioan Phaolô II đã gửi tới toàn thể Hội Thánh tông huấn hậu thượng hội đồng Pastores Dabo Vobis, về việc huấn luyện các linh mục trong bối cảnh hiện nay; tiếp đến, khi công bố năm thánh linh mục 2009-2010, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã phác thảo cách vắn gọn nhưng rất sâu sắc dung mạo linh mục dưới ánh sáng cuộc đời của Cha Sở xứ Ars. Cùng với đó là vô số những suy tư của nhiều tác giả trên thế giới được thực hiện và nhiều cuốn sách viết về chân dung và sứ vụ của linh mục qua dòng thời gian, trong đó rất nhiều tác phẩm có giá trị.
Trải qua lịch sử, Chúa nhật sau lễ Phục sinh đã được gọi bằng nhiều danh xưng khác nhau: Chúa nhật tám ngày sau lễ Phục sinh, Chúa nhật “Áo trắng” (in Albis), bởi vì các tân tòng cởi chiếc áo trắng mà họ đã lãnh nhận khi lãnh các bí tích khai tâm vào đêm Vọng Phục sinh, đánh dấu việc kết thúc giai đoạn huấn giáo khai tâm. Tại vài Giáo hội bên Ấn độ (tục truyền do thánh Tôma tông đồ thành lập), Chúa nhật sau lễ Phục sinh được gọi là chúa nhật thánh Tôma, bởi vì bài Phúc âm thuật lại cuộc gặp gỡ của Người với Chúa Kitô. Gần đây, Đức Gioan Phaolô II muốn thêm một danh xưng nữa, đó là “Chúa nhật kính Lòng Chúa Thương Xót”. Trong Năm Thánh 2000, Đức Gioan Phaolô II đã ấn định rằng trong toàn thể Hội thánh, Chúa nhật sau lễ Phục sinh, ngoài danh hiệu Chúa Nhật Áo trắng, sẽ còn được đặt tên là Chúa nhật kính Lòng Chúa Thương Xót.
Hôm thứ Sáu 12 tháng Hai, 2021, Mùng Một Tết Tân Sửu, Phòng Báo Chí Tòa Thánh đã công bố Sứ điệp Mùa Chay Thánh 2021 của Đức Thánh Cha Phanxicô. Nguyên bản tiếng Ý và các ngôn ngữ khác có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ. Sứ điệp Mùa Chay 2021 của Đức Thánh Cha Phanxicô “Nào chúng ta lên Giêrusalem” (Mt 20:18) Mùa Chay: Thời gian canh tân Niềm tin, Hy vọng và Tình yêu Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu đã mặc khải cho các môn đệ ý nghĩa sâu sắc nhất trong sứ vụ của Người khi loan báo cho họ cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Người để hoàn thành Thánh ý Chúa Cha. Sau đó, Ngài mời gọi họ chia sẻ sứ mạng này để cứu độ thế giới.
WHĐ (15.2.2021) – Nhân kỷ niệm 60 năm thành lập hàng Giáo phẩm Việt Nam (1961 – 2021), chúng tôi xin được đăng bản dịch chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam về Tông thư thành lập hàng Giáo phẩm Việt Nam – “Jam In Pontificatus” của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII gửi hàng Giáo phẩm Việt Nam ngày 14.1.1961. * * *
Thứ Tư Lễ Tro năm nay sẽ rơi vào ngày 17 tháng Hai. Hôm thứ Ba, Vatican đã đưa ra hướng dẫn về cách các linh mục có thể xức tro vào Thứ Tư Lễ Tro trong bối cảnh đại dịch coronavirus. Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích đã công bố một chỉ dẫn vào ngày 12 tháng Giêng, hướng dẫn các linh mục đọc công thức xức tro một lần cho tất cả mọi người có mặt, thay vì cho từng người. Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ. Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích Công văn số 17/21 Chỉ dẫn cho ngày Thứ Tư Lễ Tro Việc xức tro trong thời gian xảy ra đại dịch Vị Linh mục đọc lời nguyện làm phép tro. Ngài rảy nước thánh lên tro, không nói gì cả. Sau đó, ngài nói với tất cả những người hiện diện chỉ một lần duy nhất công thức như được ghi trong Sách Lễ Rôma, áp dụng công thức ấy cho tất cả mọi người nói chung:
Ngày 1 tháng 10 năm 2010, Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình đã ra thông báo về án phong chân phước cho ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Thông báo viết: “Ngày 22 tháng 10 tới, tức 3 năm sau khi loan báo việc mở Án phong chân phước, sẽ có phiên họp trọng thể mở cuộc điều tra ở cấp giáo phận về đời sống, các nhân đức và đời sống thánh thiện của Đấng Đáng Kính, ĐHY Việt Nam Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, người đã là Phó Chủ Tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình từ năm 1994 và là Chủ tịch Ủy Ban này từ ngày 24 tháng 6 năm 1998 đến ngày 16 tháng 9 năm 2002”. Theo thông báo của Tòa Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Tp. Hồ Chí Minh về việc điều tra án phong chân phước và phong thánh cho Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, do Đức Hồng Y GB Phạm Minh Mẫn ký ngày 1 tháng 1 năm 2012, chúng ta cùng tìm hiểu đôi nét về cuộc đời của Đấng Đáng Kính, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.
Phong trào mệnh danh là “Sứ điệp từ trời” đã xuất hiện từ tháng 11 năm 2010 tại Châu Âu, và cho đến nay đã được quảng bá hầu như rộng khắp trên toàn thế giới. Chắc hẳn nhiều người trong chúng ta đã nghe nói hoặc đã từng đọc qua các “Sứ điệp từ trời”. Điều đó ít nhất cũng cho thấy tầm ảnh hưởng và tính chất thu hút của phong trào mới này./20 Tháng Năm 2015(Xem: 1618) Lm Giuse Lâm Văn Sỹ OP./
RVA (11.1.2021) – Đức Thánh Cha Phanxicô đã ban hành Tự sắc “Spiritus Domini”, Thần Trí của Chúa, thay đổi khoản Giáo luật, số 230 triệt 1 để cho phụ nữ được lãnh nhận thừa tác vụ đọc sách và giúp lễ. Thánh lễ tại nhà nguyện thánh Marta | Ảnh: Vatican News Khoản này cho đến nay qui định rằng: “Các giáo dân thuộc nam giới có đủ tuổi và điều kiện do nghị định của Hội đồng Giám mục ấn định, có thể lãnh tác vụ đọc sách hoặc giúp lễ, qua một nghi lễ phụng vụ đã qui định. Tuy nhiên, việc trao tác vụ này không cho họ quyền được Giáo Hội trợ cấp hoặc trả lương”. Nay, trong tự sắc “Thần Trí của Chúa”, Đức Thánh Cha thay đổi khoản 230 triệt 1 như sau:
1. Ghi nhận lịch sử - Phụng Vụ Lễ trọng kính Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, được cử hành vào ngày 01 tháng 01, trùng với ngày bát nhật Giáng Sinh, nhớ đến việc cắt bì và đặt tên cho Chúa Giêsu, khởi đầu năm mới, và cũng là ngày cầu cho hòa bình thế giới. Trước khi canh tân Phụng Vụ, lễ trọng này được phổ biến trên khắp thế giới và được Đức Giáo Hoàng Piô XI xác định vào ngày 11.10.1931, nhân dịp kỷ niệm 1500 năm Công đồng Êphêsô. Trong niên lịch mới, lễ này gợi lại ngày thứ tám sau Giáng Sinh. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI viết: “Ngày lễ trọng ấy nay được đặt vào mồng một tháng giêng theo như tập tục xa xưa của Phụng Vụ Rôma. Lễ này được dành riêng ca tụng việc Đức Maria góp phần vào mầu nhiệm cứu độ và tán dương tước vị cao quí đặc biệt do phần đóng góp ấy đem lại cho Người Mẹ rất thánh, Đấng có công giúp chúng ta đón tiếp Tác Giả của sự sống” (Marialis Cultus 5).
Mỗi năm Giáng Sinh về, hình ảnh Ông Già Noel xuất hiện khắp mọi nơi. Ông Già Noel thân thương gần gũi vui vẻ trao quà cho trẻ em. Ông Già Noel thăm viếng và chia sẻ cho những người kém may mắn. Ông Già Noel làm MC trong các chương trình ca nhạc mừng Giáng Sinh… /22 Tháng Mười Hai 2014 (Xem: 2075)/
Bảo Trợ