Lễ kính tên Đức Mẹ Maria có ý nghĩa gì?

06 Tháng Mười 20201:17 SA(Xem: 52)

Lễ kính tên Đức Mẹ Maria có ý nghĩa gì?
Bình Hòa - HV Daminh

Theo lịch phụng vụ, ngày 8 tháng 9 kính lễ Sinh nhựt Đức Mẹ; và ngày 12 tháng 9 kính tên Mẹ Maria. Lễ kính tên Đức Mẹ Maria có ý nghĩa gì?

Maria

Khi phân tích các lễ kính Đức Mẹ Maria trong năm phụng vụ, chúng ta thấy lòng đạo đức bình dân muốn mừng một lễ dành cho Đức Mẹ tương tự như lễ dành cho Chúa Giêsu. Chẳng hạn như có lễ kính việc thụ thai Chúa Giêsu trong lòng đức Maria (quen gọi là lễ truyền tin), thì cũng có lễ kính việc thụ thai đức Maria trong lòng bà thánh Anna (gốc tích của lễ đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội); nếu đã có lễ sinh nhật Chúa Giêsu thì cũng có lễ sinh nhật Đức Mẹ. Nếu có lễ Chúa Phục sinh và Lên trời, thì cũng có lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời. Nếu có lễ kính trái tim rất thánh của Chúa Giêsu, thì cũng có lễ kính trái tim vô nhiễm của Mẹ Maria. Trong tháng 9 này, ngày 14 dành kính nhớ thánh giá Chúa Giêsu, thì ngày 15 kế đó là lễ kính nhớ Đức Mẹ đứng gần bên thập giá. Từ đó, chúng ta cũng dễ hiểu vì sao mà có lễ kính Tên Chúa Giêsu và lễ kính tên Đức Maria.

Hai lễ này có ra đời cùng lúc không?

Tuy rằng trong niên lịch phụng vụ hiện hành, chúng ta nhận thấy có sự song đối giữa các lễ kính Chúa Giêsu và các lễ kính Đức Maria, nhưng xét về nguồn gốc lịch sử thì các lễ kính Chúa xuất hiện trước, rồi sau đó mới đến lễ của Đức Mẹ. Một cách cụ thể, bàn về lễ kính danh, ta có thể ghi nhận những sự tiến triển như sau. Từ năm 1530, dòng Phan-sinh được đức thánh cha Clêmentê VII cho phép mừng lễ kính thánh danh Chúa Giêsu vào ngày 14 tháng giêng. Đến năm 1721, lễ này mới được nới rộng ra toàn thể Hội thánh. Nam 1913, lễ này được dời sang Chúa nhật sau ngày 1 tháng giêng. Cuộc cải tổ lịch phụng vụ năm 1970 dẹp bỏ lễ này, với lý do là lễ kính danh Chúa đã được bao gồm trong ngày bát nhật Giáng sinh, nghĩa là ngày đầu năm dương lịch rồi. Với việc phát hành Sách lễ Rôma năm 2002 thì lễ kính danh Chúa lại được tái lập vào ngày 3 tháng giêng. Đó là nói về lễ kính danh thánh Chúa Giêsu. Còn lễ kính danh đức Maria có một lịch sử riêng biệt. Tại Rôma, từ thế kỷ VII đã có lễ sinh nhật Đức Mẹ, được mừng rất long trọng vào ngày 8 tháng 9. Lễ kính tên Đức Mẹ được bắt đầu ở Cuenca bên Tây ban nha vào năm 1513, mừng vào ngày 12 tháng 9. Năm 1683 đức thánh cha Innocentê XI cho mừng trong toàn thể Hội thánh, để tạ ơn Chúa và Đức Mẹ vì trận chiến thắng tại Vienne (thủ đô Áo quốc) chống lại sự tấn công của Thổ-nhĩ-kỳ, chấm dứt những mưu toan của Hồi giáo muốn tràn qua châu Âu. Lễ kính ten Đức Maria cũng chịu chung số phận với lễ kính danh thánh Chúa, nghĩa là cũng bị gạch khỏi lịch phụng vụ cải tổ năm 1970, và được tái lập vào năm 2002. Hiện nay chỉ là một lễ nhớ nhiệm ý.

Đó là lịch sử của lễ kính phụng vụ. Còn dưới khía cạnh thần học, việc kính tên Maria có ý nghĩa gì?

Chúng ta nên phân biệt hai lãnh vực: thứ nhất là ý nghĩa của tên Maria xét theo lãnh vực từ ngữ; thứ hai, là lãnh vực thần học. Xét về khía cạnh từ ngữ, thì như chị đã biết, trong xã hội Do thái, việc đặt tên mang một ý nghĩa cũng tương tự như trong các xã hội bên Đông phương vậy, bởi vì “tên là người”, nhất là khi mà người đó lãnh một sứ mạng đối với dân tộc. Vì the không lạ gì mà trong Cựu ước, chúng ta thấy có những người mang tên do thiên sứ chỉ định, như trường hợp của Abraham, Môsê, Samson. Điều tương tự cũng xảy ra trong Tân ước, đối với Gioan tiền hô, Phêrô và nhất là Giêsu. Riêng đối với tên Maria, ta có thể nói như thế này. Trong lịch sử dân tộc Do thái, đã có nhiều phụ nữ mang tên là Maria, hay muốn nói chính xác hơn Miryam, chẳng hạn như người chị của ông Môsê. Trong Tân ước, Phúc âm kể lai nhiều phụ nữ mang tên là Maria, chẳng hạn như bà Maria ở làng Bêtania, thuộc gia đình của bà Marta và ông Ladarô; bà Maria Clêopa, và đặc biệt là bà Maria ở làng Magđala. Vì thế, có thể nói rằng Maria là một tên gọi khá phổ thông trong giới phụ nữ, và có lẽ chẳng có ý nghĩa đặc biệt. Tuy nhiên, kể từ khi một người phụ nữ làng Nadaret mang tên là Maria trở nên thân mẫu của Chúa Cứu thế, thì các giáo phụ và các nhà thần học mới đe ý phân tích ý nghĩa của tên gọi này. Chỉ riêng từ thánh Epiphaniô (thế kỷ VIII) cho đến cha Hugues de Saint Victor (thế kỷ XII), người ta tính được 70 lối giải thích khác nhau; tiếc rằng đa số những lời giải thích đó dựa theo những dụng ý thần học hơn là theo ngôn-ngữ-học. Ngày nay, người ta chỉ còn giữ lại hai giả thuyết theo tầm nguyên.

Tầm nguyên dựa theo tiếng Do thái, phải không?

Dĩ nhiên, nếu muốn theo sát khoa học thì phải dựa theo nguyên ngữ Do thái, chứ không thể nào theo lối phiên âm ra các ngôn ngữ hiện đại, kiểu như trong quá khứ không xa lắm, đã có người tán tiếng Marie trong tiếng Pháp cũng gồm 5 vần như là aimer, vì thế Marie có nghĩa là thương yêu. Dựa theo nguồn gốc Miryam trong tiếng Do thái, các nhà chú giải đưa ra hai giả thuyết. Giả thiết thứ nhất móc nối miryam với myrrha, có nghĩa là “biển chua chát”, hay “sự chua chát của biển”. Từ đó, người ta gắn liền với hai nghĩa khác dành cho sứ mạng của Mẹ Maria: “biển” thì gắn với “sao biển”; còn “chua chát” thì đi với những thử thách đau khổ gây ra nhiều cay đắng suốt cuộc đời. Giả thiết thứ hai thì móc nối miryam với hai nguyên gốc khác nhau: một gốc tiếng Ai-cập mry, mryt có nghĩa là được yêu thương; và một gốc tiếng Do thái jam có nghĩa là Jaweh (Thiên Chúa); ghép lại hai gốc đó, miryam có nghĩa là kẻ được Chúa thương yêu.

Tại sao phải móc nối với tiếng Ai-cập làm gì?

Xét về ngôn-ngữ-học, thì các từ ngữ vay mượn của các dân tộc láng giềng không còn phải là chuyện gì xa lạ, chẳng hạn như người ta cắt nghĩa từ “Việt” như tên riêng của một dân tộc, nhưng cũng có thể là gốc bởi “Vượt” trong tiếng Hán. Xét về khía cạnh lịch sử, thì bà Myriam nổi tiếng nhất trong lịch sử Do thái là chị của ông Môsê, ở đầu sách Xuất hành (chương 2). Lúc đó hai chị em đang sống bên Ai-cập; vì thế nếu tên của Aaron và Môsê đều mang gốc tích của ngôn ngữ này, thì tên Myriam có một phần Ai cập cũng chẳng có gì lạ. Tóm lại, theo giả thuyết thứ hai, tên miryam có nghĩa là kẻ được Chúa yêu thương; và tên này rất xứng hợp với đức Maria làng Nadarét, kẻ được thiên sứ Gabriel chào là “kẻ được Thiên Chúa sủng ái”. Điều này cũng giống như tên Giêsu: theo nguyên ngữ, tên này có nghĩa là “Thiên Chúa cứu chữa” và đã được đặt cho ông Giosuê, kẻ kế vị Môsê lãnh đạo dân tộc Israel, nhưng tên gọi được áp dụng cho Đức Giêsu Nadarét cách đặc biệt bởi vì Người thực sự là kẻ cứu chuộc nhân loại khỏi tội lỗi.

Nhưng đó là bước sang ý nghĩa thần học rồi, chứ đâu phải là ý nghĩa ngôn-ngữ học nữa?

Đúng thế. Như đã nói trên đây, nhiều lễ phụng vụ kính Đức Maria hoạ lại các lễ kính Chúa Giêsu. Riêng về việc kính tên, thì ta cần phải nói như sau. Lễ kính danh thánh Chúa Giêsu mới được du nhập vào lịch phụng vụ phổ quát từ năm 1721, nhưng việc tôn kính danh Chúa Giêsu thì đã có từ lâu đời rồi. Trong Tân ước, căn cước của các Kitô hữu đã được định nghĩa như là “những kẻ kêu cầu danh Chúa Giêsu” (Cv 9,14.21; 1 Cr 1,2). Trong Phúc âm theo thánh Gioan, chính Chúa Giêsu đã khuyến khích các môn đệ hãy dùng danh Người để cầu nguyện với Chúa Cha (Ga 14,13; 15,16; 16,23). Kêu cầu và tuyên xưng danh đức Giêsu có nghĩa là nhìn nhận rằng đức Giêsu thực là Đấng cứu chuộc duy nhất của nhân loại (Cv 4,11-12), tuyên xưng rằng do cuộc Tử nạn và Phục sinh, đức Kitô đã được siêu tôn là Chủ tể với quyền năng trên trời dưới đất. Dưới khía cạnh này, thì danh Giêsu chiem một vị thế độc nhất vô nhị trong lịch sử loài người. Ngoài ra, các tín hữu bên Đông phương còn đọc một kinh mà họ gọi là kính danh Chúa Giêsu như sau: “Lạy Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”.

Con khi kính danh Maria, thì chúng ta cũng muốn hợp lời với thiên sứ Gabriel và bà Ysave, để ngợi khen Người vì đã được Thiên Chúa đoái thương chọn làm thân mẫu của Chúa Cứu thế, và vì thế chúng ta tin rằng Người cũng quan tam đến số phận của nhân loại. Đó là ý nghĩa của kinh “Kính mừng”, trong đó danh Maria được lặp lại hai lần: phần thứ nhất mang tính cách chúc tụng ngợi ca, còn phần thứ hai mang tính cách khẩn cầu, theo như sách Giáo lý Hội thánh công giáo đã giải thích ở số 2675. Dĩ nhiên, ta có thể coi các danh xưng và các tước hiệu trong “Kinh cầu Đức Bà” như là những cách chú giải danh xưng Maria, không còn theo nghĩa ngôn ngữ học, nhưng trong mối tương quan với các tín hữu.

Với việc tái lập lễ kính tên Đức Maria vào ngày 12 tháng 9, những người mang tên thánh Maria cũng mừng lễ bổn mạng vào ngày này, phải không?

Không hẳn như vậy. Trong năm có nhiều lễ kính Đức Mẹ, cho nên những người mang tên Maria chọn ngày nào mà họ ưa thích. Ngoài ra, điều này còn tùy thuộc vào tập tục của mỗi dân tộc nữa. Nói chung, bên Pháp người ta mừng vào ngày 15 tháng 8; bên Italia, người ta mừng vào ngày 8 tháng 9; bên Tây ban nha vào ngày 8 tháng 12.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Do đại dịch Covid-19, để đảm bảo các điều kiện an toàn sức khoẻ, Toà Ân giải Tối cao đã ban hành một sắc lệch cho phép việc lãnh nhận Ơn Toàn Xá cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời có thể được thực hiện trong suốt tháng 11. - Sắc lệnh giải thích, Toà Ân giải Tối cao đã nhận được nhiều thỉnh nguyện của các mục tử xin cho việc thực hành đạo đức “cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời” được thực hiện phù hợp với bối cảnh đại dịch, Toà Ân giải Tối cao đã quyết định: “Ơn Toàn Xá được ban cho những ai viếng nghĩa trang và cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời, thông thường chỉ trong những ngày từ 1-8/11, có thể chuyển sang các ngày khác đến hết tháng 11. Những ngày này, do mỗi tín hữu tự chọn, có thể tách biệt nhau” (không cần các ngày liên tiếp).
WHĐ (20.8.2020) – Rodney Stark là tác giả của Rise of Christianity, quyển sách thuộc loại best-selling (Harper, San Francisco, 1977). Hiện nay, ông là giáo sư Khoa học xã hội và đồng giám đốc Viện nghiên cứu tôn giáo tại đại học Baylor, đại học lớn nhất của Tin Lành Baptist tại Hoa Kỳ. Ông cũng là giáo sư danh dự của đại học Bắc Kinh, Trung Quốc. Năm 2016, ông cho ra mắt quyển Bearing False Witness: Debunking Centuries of Anti-Catholic History, Templeton Press – (Làm chứng gian: Vạch trần lịch sử chống Công giáo trong nhiều thế kỷ). Trong quyển sách này, tác giả xem xét và đánh giá lại những tội ác được gán cho Giáo Hội Công giáo liên quan đến các sự kiện lớn trong lịch sử, từ các cuộc thánh chiến, rồi sự đàn áp các nhà khoa học, đến Giáo Hội và chủ trương bài Do Thái.
Trong lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam, ước tính có đến hàng trăm ngàn người đã làm chứng đức tin Kitô Giáo, trong số đó có 118 Thánh Tử đạo, với 117 vị được Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong Thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988 và Á Thánh An-rê Phú Yên, phong Chân phước ngày 5 tháng 3 năm 2000./post 15 Tháng Mười Một 2015 (Xem: 2652)/
Chiến tranh tôn giáo thường được hiểu là “chiến tranh giữa các tôn giáo”, hoặc “chiến tranh vì lý do tôn giáo”, nhưng cũng đừng bỏ qua “chiến tranh chống lại tôn giáo”. Trong bài này, tác giả, một ký giả và giảng viên môn Truyền thông xã hội tại đại học Abat Oliba (Barcelona) trình bày kết quả cuộc sưu tầm theo hai nghĩa đầu tiên, dựa trên bộ Encyclopedia of Wars, và cho thấy rằng con số này chỉ chiếm 7% trong tổng số các cuộc chiến tranh trong lịch sử nhân loại. Nguồn: Cuántas guerras han tenido una causa religiosa?
Hồng y Gianfranco Ravasi - Kinh thánh đầy dẫy những trang nói đến bạo lực. Chiến tranh là một đề tài được nhắc tới nhiều nhất trong Cựu ước, còn hơn các đề tài khác của cuộc sống nhân sinh. Cần phải loại bỏ những đoạn văn ấy, vì nó không phù hợp với Tin mừng (quan điểm của Markion)? Hoặc giải thích theo nghĩa thiêng liêng? Theo tác giả, cần đọc các bản văn này trong kế hoạch mặc khải tiệm tiến của Thiên Chúa trong lịch sử, và dụng ý của chúng đôi khi trái ngược với cảm giác khi độc giả mới tiếp xúc. Tác giả hiện nay là Chủ tịch Hội đồng Văn hóa của Tòa Thánh. Nguồn: Ravasi,Gianfranco, la Bibbia e le guerre di Dio, in: García, José Juan (director): Enciclopedia de Bioética, URL: http://enciclopediadebioetica.com/index.php/todas-las-voces/186-la-bibbia-e-le-guerre-di-dio
Việc Huấn Luyện Chủng Sinh Tại Việt Nam Trước Hiện Tượng Tục Hóa VIỆC HUẤN LUYỆN CHỦNG SINH TẠI VIỆT NAM TRƯỚC HIỆN TƯỢNG TỤC HÓA SUY TƯ VÀ KINH NGHIỆM Giám mục Giuse Đinh Đức Đạo Dẫn nhập. I. Ý nghĩa, biểu hiện và nguồn gốc của hiện tượng tục hóa. 1. Ý nghĩa hiện tượng tục hóa. 2. Những biểu hiện của hiện tượng tục hóa. 3. Nguồn gốc của hiện tượng tục hóa và những biểu hiện khác của tục hóa. II. Việc huấn luyện chủng sinh tại Việt Nam đứng trước hiện tượng tục hóa. 1. Hiện tượng tục hóa: nguồn gốc và đặc tính của tục hóa tại Việt Nam. 2. Hiện tượng tục hóa: những vấn đề căn bản. 3. Việc huấn luyện: những yếu tố căn bản và phương pháp. Thay lời kết. WHĐ (12.8.2020) – Trào lưu tục hóa đang gây nhiều khó khăn cho đời sống đức tin của nhiều giáo hữu, đến độ ĐTC Bênêđictô XVI đã phải cho thành lập Hội đồng Giáo hoàng cổ võ việc tân Phúc âm hóa để giúp cho các Giáo Hội địa phương đáp lại những vấn đề do việc tục hóa gây ra.[1]
Chúng ta đã được dạy rất nhiều về việc phải dành giờ cầu nguyện. Các vị thánh đã xác nhận rằng cầu nguyện là hơi thở của đời sống thiêng liêng, giúp chúng ta hướng về Chúa. Tuy vậy, cuộc sống hối hả và vụ lợi thời nay đã khiến người ta nghi ngờ về điều này. Phần vì không có thời gian, phần vì thấy cầu nguyện chẳng mang lại lợi ích gì, người ta đã bỏ đi thói quen tốt lành ấy. Cũng có rất nhiều người cho rằng cầu nguyện là việc của những người đi tu hoặc những ai rảnh rỗi.
Giúp soạn bài giảng – tư liệu giúp soạn một bài giảng tốt. Như một phần sứ vụ của tôi là cung cấp tư liệu cho việc truyền đạt Lời Chúa, tôi sẽ mô tả những nét chính của một chuỗi các đề mục để làm sao chúng ta có thể soạn được một bài giảng tốt. Trong tiến trình các bước, chúng tôi hy vọng không chỉ cung cấp cho đọc giả những bước cần thiết để xây dựng một bài giảng hiệu quả nhưng còn cho thấy ý nghĩa thần học của một bài giảng cũng như vai trò của bài giảng trong phụng vụ. Hướng đến mục tiêu đó, tôi sẽ bắt đầu nói đến mục đích của bài giảng là gì, vai trò của bài giảng trong phụng vụ và chỗ đứng của bài giảng trong việc hình thành dân Chúa.
Trong nhiều quyển lịch ấn hành ở ngoại quốc, ngày 17 tháng 7 được ghi là kính thánh Alêxiô. Có phải thánh Alêxiô là Alêxù không? Tại sao tên vị thánh này không được ghi vào lịch phụng vụ? Thánh Alêxiô đúng là thánh Alêxù đó. Alêxius là tiếng La-tinh, dịch sang tiếng Pháp và tiếng Anh là Alexis (bổn mạng của đức cha Phạm văn Lộc, nguyên giám mục Kontum). Đừng lẫn với thánh Aloysius, tên La-tinh của thánh Luigi Gonzaga, được phụng vụ kính vào ngày 21 tháng 6. Trước đây, thánh Alexis được phụng vụ kính ngày 17 thang 7, nhưng với cuộc cải tổ phụng vụ sau công đồng Vaticanô II thì thánh Alexis bị gạt ra ngoài. Vì lý do gì?
Kính thưa quý Đức cha, Đang khi bước đi trên những nẻo đường lịch sử như một lữ khách hành hương tiến về Thành đô Giêrusalem thiên quốc để được kết hiệp muôn đời với vị Hiền Phu và Đấng Cứu độ là Đức Kitô, Hội Thánh luôn tin tưởng phó thác vào Đức Maria, người đã vững tin vào Lời Thiên Chúa. Tin Mừng cho chúng ta biết, ngay từ thời khai nguyên Hội Thánh, các môn đệ của Chúa Giêsu đã ca tụng Mẹ Maria là người “có phúc hơn mọi người nữ” và vẫn luôn cậy nhờ lời Mẹ chuyển cầu. Không thể kể hết những tước hiệu và lời khẩn cầu mà lòng sùng mộ của c
Bảo Trợ