Những điểm sơ hở trong thuyết tiến hoá của Darwin (Phần 1)

09 Tháng Chín 20201:14 CH(Xem: 197)

Eugenie Scott, người đứng đầu nhóm ủng hộ Darwin, khi nói chuyện với giới truyền thông năm 2009 tại Ủy ban Giáo dục Tiểu bang Texas đã tuyên bố: “Không có điểm yếu nào trong lý thuyết tiến hóa”. Đối với những người theo dõi cuộc tranh luận này từ đầu, những lời của Tiến sĩ Scott không gây ngạc nhiên vì họ đã quen rồi. Nhưng có thật là “không có điểm yếu” trong thuyết tiến hóa? 
tien hoa

Hầu như hàng ngày, các phương tiện truyền thông đều trích dẫn các nhà khoa học ủng hộ thuyết tiến hóa và khẳng định các nhà duy vật coi thuyết tiến hóa là “đúng”. Sinh viên tham gia các khóa học dự bị đại học hoặc đại học về thuyết tiến hóa được cảnh báo rằng nghi ngờ thuyết Darwin là tương đương với việc tự tử trí tuệ - cũng tương tự như tuyên bố Trái đất là phẳng. Bắt nạt như vậy đủ để thuyết phục nhiều người rằng sẽ dễ dàng hơn cho địa vị khoa học, sự nghiệp và danh tiếng của họ nếu ủng hộ thuyết Darwin. Một số vẫn phản đối thì luôn bị đe dọa phải im lặng.

Có phải những người nghi ngờ thuyết Darwin đang cố thể hiện lòng can đảm, hay họ là những kẻ ngốc muốn đưa chúng ta trở lại kỷ nguyên đen tối và thời đại tưởng Trái đất là mặt phẳng? May mắn là rất dễ để kiểm tra những câu hỏi này. Chúng ta chỉ việc xem xét dữ liệu khoa học kỹ thuật và nghiên cứu: Liệu có những thách thức khoa học xác thực nào đối với thuyết tiến hóa không?

Loạt bài này sẽ xem xét một số dữ liệu và chỉ ra hàng loạt những thách thức khoa học xác thực đối với các nguyên lý cốt lõi của thuyết Darwin, cũng như các lý thuyết chủ yếu về tiến hóa hóa học. Những người nghi ngờ học thuyết của Darwin sẽ không bị cho là vô căn cứ sau khi xem xét những lập luận khoa học dưới đây.

Vấn đề thứ nhất: Không có cơ chế phù hợp nào để tạo ra “súp nguyên thủy” 

Darwin đã cho rằng sự sống bắt nguồn từ "một cái hồ nước ấm áp có chứa đầy các loại muối ammonia và phosphat, ánh sáng, nhiệt độ, điện,... để các hợp chất protein có thể hình thành và trải qua những biến đổi phức tạp". Theo tư duy thông thường của các nhà lý thuyết về nguồn gốc sự sống, sự sống đã nảy sinh thông qua các phản ứng hóa học ngẫu nhiên trên Trái đất sơ khai vào khoảng 3 đến 4 tỷ năm trước. Hầu hết các nhà lý thuyết tin rằng có nhiều bước tham gia vào quá trình hình thành nguồn gốc sự sống, nhưng bước đầu tiên là việc hình thành “súp nguyên thủy” - một hợp chất nước biển của các phân tử hữu cơ đơn giản - từ đó phát sinh sự sống. Khi sự tồn tại của “súp” này được chấp nhận như sự thật không hề nghi ngờ trong nhiều thập kỷ, nền tảng cho hầu hết các lý thuyết về nguồn gốc sự sống này đã phải đối diện với vô số thách thức khoa học.

Năm 1953, một nghiên cứu sinh tại Đại học Chicago tên là Stanley Miller, cùng với giáo viên hướng dẫn Harold Urey, đã thực hiện các thí nghiệm với hy vọng tạo ra các khối sự sống như trong điều kiện tự nhiên của thời kỳ sơ khai của Trái đất. Những thí nghiệm Miller - Urey dự định mô phỏng tia sét đánh vào lớp khí trong bầu khí quyển của Trái đất sơ khai. Sau khi thực hiện các thí nghiệm và để các sản phẩm hóa học trong một khoảng thời gian, Miller phát hiện rằng các axit amin - các khối protein - đã xuất hiện.

Trong nhiều thập kỷ, những thí nghiệm này đã cho thấy các khối sự sống có thể phát sinh trong điều kiện tự nhiên thực tế giống với Trái đất, vốn có ý nghĩa hỗ trợ cho giả thuyết “súp nguyên thủy”. Tuy nhiên, trong nhiều thập kỷ, người ta đã biết rằng khí quyển thuở sơ khai của Trái đất khác về cơ bản so với loại khí mà Miller và Urey đã sử dụng.

blank
Biểu đồ thí nghiệm của Miller và Urey: Khí khử sử dụng thí nghiệm thực tế khác với bầu khí quyển sơ khai (Ảnh: Wikipedia)

Lớp khí quyển được sử dụng trong các thí nghiệm Miller - Urey chủ yếu bao gồm các khí khử giảm ô-xy tự do như metan, amoniac và hydro hàm lượng cao. Khí khử giảm ô-xy tự do là khí có khuynh hướng nhượng electron trong các phản ứng hóa học. Các nhà địa hóa học hiện nay tin rằng bầu khí quyển của Trái đất sơ khai không chứa đủ các thành phần này. Nhà lý thuyết về nguồn gốc sự sống David Deamer của UC Santa Cruz giải thích điều này trên tạp chí Microbiology & Molecular Biology Reviews:

“Bức tranh lạc quan này bắt đầu thay đổi vào cuối những năm 1970, khi ngày càng rõ ràng rằng bầu khí quyển thuở sơ khai có lẽ là có nguồn gốc từ khí núi lửa và các thành phần carbon dioxide và nitơ chứ không phải là hỗn hợp khí khử như mô hình Miller-Urey giả định. Carbon dioxide không hỗ trợ sắp xếp các phương thức tổng hợp dẫn đến có thể sản sinh ra các đơn phân tử (monomer)”. Tương tự như vậy, một bài báo trên tạp chí Science đã tuyên bố: “Miller và Urey đã tin tưởng vào môi trường khí khử, một điều kiện trong đó các phân tử chứa rất nhiều nguyên tử hydro. Như Miller đã trình bày sau đó, anh ta không thể tạo ra chất hữu cơ từ lớp khí quyển được 'oxy hóa'”. Bài báo nói một cách thẳng thắn: “Lớp khí quyển thuở sơ khai hoàn toàn không giống tình huống của Miller-Urey”. Phù hợp với điều này, các nghiên cứu địa chất cũng đã không phát hiện ra bằng chứng về “súp nguyên thủy” đã từng tồn tại.

Có nhiều lý do chính đáng để hiểu tại sao bầu khí quyển của Trái đất sơ khai không chứa khí metan, amoniac hoặc các khí khử khác. Bầu khí quyển của Trái đất sơ khai được cho là được tạo ra bằng khí thoát ra từ núi lửa và thành phần của các khí núi lửa này có liên quan đến tính chất hóa học của lớp phủ bên trong Trái đất. Các nghiên cứu địa hóa học đã phát hiện ra rằng các tính chất hóa học của lớp phủ Trái đất sẽ giống như ngày nay. Nhưng ngày nay, khí núi lửa không chứa khí metan hoặc amoniac.

Một bài báo trong Tạp chí Khoa học Trái đất và Hành tinh đã chỉ ra rằng các tính chất hóa học của vật chất bên trong Trái đất về cơ bản là không đổi theo lịch sử, và kết luận rằng: “Sự sống có nguồn gốc trong các môi trường khác hoặc bởi các cơ chế khác”. Đây là bằng chứng có tính quyết định chống lại sự tổng hợp tiền sinh học của các khối sự sống và vào năm 1990, Hội đồng Nghiên cứu Vũ trụ của Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia đã khuyến nghị rằng các nhà nghiên cứu nguồn gốc sự sống phải “kiểm tra lại sự tổng hợp phân tử đơn bào sinh học trong môi trường giống Trái đất nguyên thủy, như đã tuyên bố là môi trường của Trái đất thuở sơ khai trong các mô hình thí nghiệm hiện nay”.

Vì những thách thức này, một số nhà lý thuyết hàng đầu đã từ bỏ thí nghiệm Miller-Urey và lý thuyết “súp nguyên thủy”. Vào năm 2010, nhà sinh hóa học Nick Lane của Đại học London đã tuyên bố lý thuyết “súp nguyên thủy” hiện “không giữ nước” và đã “quá ngày hết hạn”. Thay vào đó, ông đề xuất rằng sự sống nảy sinh trong các lỗ thông thủy nhiệt dưới đáy biển. Nhưng cả hai giả thuyết lỗ thông thủy nhiệt và súp nguyên thủy đều phải đối mặt với một vấn đề lớn khác.

Tiến hóa hóa học “chết” trong nước

Giả sử rằng trong một khoảnh khắc có một số cách để tạo ra các phân tử hữu cơ đơn giản trên Trái đất sơ khai. Có lẽ chúng đã hình thành “súp nguyên thủy”, hoặc có lẽ những phân tử dạng này phát sinh gần một số lỗ thông thủy nhiệt. Dù bằng cách nào, các nhà lý thuyết về nguồn gốc sự sống phải giải thích được các axit amin hoặc các phân tử hữu cơ liên kết thế nào để tạo thành chuỗi (polyme) như protein (hoặc RNA).

blank
Nguồn gốc sự sống phát sinh gần một số lỗ thông thủy nhiệt dưới đáy biển - theo quan điểm của Nick Lane (Ảnh: Wikipedia)

Tuy nhiên, về mặt hóa học mà nói, nơi cuối cùng mà các axit amin liên kết thành chuỗi phải là một môi trường với nước làm nền tảng như “súp nguyên thủy” hoặc dưới nước gần một lỗ thông thủy nhiệt. Nhưng như Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia thừa nhận: “Hai axit amin không tự nhiên tham gia vào nước. Thay vào đó, phản ứng ngược là nhiệt động lực học sẽ xảy ra”. Nói cách khác, nước phá vỡ chuỗi protein trở lại thành axit amin (hoặc các thành phần khác), khiến cho việc sản sinh protein (hoặc các polyme khác) trong súp nguyên thủy là rất khó khăn.

Các nhà duy vật thiếu những giải thích khoa học cho những bước đầu tiên, đơn giản và cần thiết cho lý thuyết về nguồn gốc sự sống của Darwin. Tiến hóa hóa học theo đúng nghĩa đen là đã “chết” trong “nước”.

Ảnh đầu bài: CGP Grey thông qua Flickr.
(Còn tiếp)

Johny Nguyễn (biên dịch và tổng hợp)

Theo “Mười vấn đề lớn về khoa học của Thuyết tiến hóa” của Casey Luskin

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười Một 2018 (Xem: 1124) Ngày Lễ Tạ Ơn đã trở thành một phần không thể thiếu đối với người dân Mỹ. Hằng năm , cứ tới ngày này người Mỹ lại háo hức chuẩn bị mọi thứ để đón một ngày lễ thật long trọng. Vậy các bạn biết bao nhiêu về ngày lễ này. Một chuyến khám phá nho nhỏ về ngày lễ này nhé.
Người Mỹ tạ ơn Chúa vì người đã đem tới một mùa màng bội thu. Ngày lễ này ở Mỹ có thể được so sánh với Tết ta ở Việt Nam. Ngày Lễ Tạ Ơn ở nước Mỹ vẫn được giữ nguyên như truyền thống; đó là thứ 5 tuần thứ 4 của tháng 11. Nếu ở Mỹ bạn sẽ có liền tù tì 4 ngày nghỉ từ thứ 5 tới chủ nhật đấy nhé; khá là tiện phải không nào, sau ngày Thanksgiving sẽ có dư thời gian để chiến đấu cùng Black Friday. Do đây cũng là thời gian thu hoạch cây việt quất nên người dân ở Massachusetts, vùng Tây Nam nước Mỹ còn tổ chức các cuộc thi làm bánh việt quất nữa nhé. Lễ Tạ Ơn ở Canada Người Canada kỉ niệm ngày Lễ Tạ Ơn vào thứ hai tuần thứ hai của tháng 10; dù ban đầu họ kỉ niệm ngày này vào thứ 5 trong tháng 11. Thay vì thưởng thức món gà tây như người Mỹ, họ ăn thịt xông khói hoặc cừu và bánh La tourtiere – một loại bánh nướng được làm từ khoai tây nghiền, thịt thỏ/bò xay nhuyễn
Những điểm du ngoạn như Hoyt Arboreturm, International Rose Test Garden ở đây nổi tiếng đến nỗi người ta đã đặt biệt danh cho Portland là “Thành phố Hoa Hồng.” Ngoài ra, gần đó còn có ngôi vườn Nhật với tên Portland Japanese Garden cũng là một thắng cảnh bốn mùa thơ mộng và tuyệt đẹp mà du khách không thể nào bỏ qua được, nhất là vào mùa Thu với cảnh sắc lá thu phong rực rỡ hớp hồn lữ khách.
Xe sinh tố. Là danh từ bình dân gọi mấy xe bán nước trái cây xay. Rất thịnh hành trong những năm 60-70. Các loại trái cây như mãng cầu xiêm, sa-po-che, mít, đu đủ, và rau má. Trái cây xay với nước, thêm một muỗng sữa đặc, đường, đá bào cho ta hương vị thơm tho, ngọt ngào, tươi mát của trái cây tươi. Có xe bán thêm sữa chua (yogurt). Những hủ yogurt được làm tại nhà. Có hai cách ăn yogurt: 1) Ăn nguyên chất. 2) Trộn đá bào vào yogurt, thêm đường: chúng ta có ly sữa chua ngon lành.
Lệnh phong tỏa kéo dài đã khiến cho giới thương gia ở Pháp thêm lo lắng. Hầu như mọi người đều mong rằng các hoạt động mua sắm nhân mùa Noël sẽ không bị hy sinh. Về điểm này, chính phủ Pháp cho phép buôn bán cây thông Giáng Sinh kể từ cuối tuần này, tạo thêm hy vọng cho việc mở lại các cửa hàng kinh doanh tại Pháp vào đầu tháng 12/2020. QUẢNG CÁO Theo thông báo chính thức của Bộ Nông Nghiệp : việc mua bán cây thông có thể bắt đầu vào thứ Sáu tuần này, 20 tháng 11. Quyết định này đã trấn an phần nào nhiều hộ gia đình cũng như giới kinh doanh phân phối các sản phẩm liên quan tới mùa Noël. Nhìn chung, dân Pháp đang có tâm lý bi quan về việc tổ chức đón Noël năm nay, nếu lệnh phong tỏa được triển hạn, thì rất nhiều người Pháp sẽ không được về quê thăm nhà, quây quần bên bữa tiệc gia đình mừng đón Giáng Sinh.
Nếu đời không có đàn bà thì đàn ông chỉ biết nhậu, coi đá banh rồi … chết. Nếu trên thế giới số lượng đàn bà chỉ bằng một phần mười đàn ông thì mười ông Adam sẽ giành nhau một bà Eva, sẽ đánh nhau rồi cũng … chết. Còn nếu như đàn bà nhiều hơn đàn ông như hiện nay thì đàn ông vẫn tiếp tục lai rai bỏ mạng vì bị đàn bà nó ghen, nó hành cho chết. Nhưng tại sao quý ông cứ lẽo đẽo chạy theo đàn bà? Đó là vì đàn bà có sức quyến rũ. Trước hết sự quyến rũ nằm ở làn da. Dân gian thường ví da cô gái đẹp trắng như tuyết, nhưng dưới con mắt của bác sĩ da liễu thì da trắng như tuyết là da bị bệnh bạch tạng (albinisme), tế bào da không có hắc tố (mélanine). Bệnh này rất khó trị. Vậy làn da đẹp phải trắng hồng, tươi nhuận, săn chắc, lỗ chân lông nhỏ và nếu có một chút lông tơ lại càng hay. Phụ nữ châu Âu da trắng quá nên họ muốn làm cho rám nắng bằng cách phơi nắng trên những bãi biển mùa hè.
BBC giới thiệu một số hình ảnh đẹp nhất được chụp tại lục địa đen trong tuần qua: NGUỒN HÌNH ẢNH, EPA Chụp lại hình ảnh, Người đàn ông dắt chiếc xe đạp đi trên lớp thảm những cánh hoa phượng tím jacaranda rơi xuống ở Johannesburg, Nam Phi, hôm thứ Sáu 6/11/2020. NGUỒN HÌNH ẢNH, REUTERS Chụp lại hình ảnh, Thứ Bảy 7/11, trước ngày bầu cử tại thủ đô Cairo của Ai Cập, mọi người chuẩn bị kê đồ xếp bàn ghế tại một trường học, nơi được dùng làm địa điểm bỏ phiếu cho kỳ bầu cử quốc hội. NGUỒN HÌNH ẢNH, REUTERS
Không biết có phải do hoàn cảnh thiếu ăn thiếu mặc từ xưa, mà người Á đông nói chung, người Việt nói riêng, đặc biệt quan tâm tới miếng ăn. Ăn không phải chỉ để sinh tồn, mà còn để hưởng thụ. Ăn đứng đầu tứ khoái. Ăn cho sướng miệng cái đã, mấy chuyện khác tính sau. Ở đâu lúc nào, một mình hay nhiều mình, cũng thấy ăn. Thui thủi, trơ trọi ở nhà, lục lọi trong bếp coi có cái gì ăn cho đỡ buồn. Ra đường, đi chơi hay lo việc, trước hay sau gì cũng phải kiếm thứ gì dằn bụng. Ăn sáng, ăn trưa, ăn chiều, ăn tối, ăn khuya. Vì vậy, trong kho tàng Việt ngữ có vô số động từ đôi đi chung với "ăn". Điểm này không thấy có trong ngôn ngữ của các dân tộc khác. ❣️Nhưng "ăn" nhiều khi lại không có nghĩa là "ăn", mới lạ! Tụ họp đình đám, lễ lạt giỗ tết, người mình nói "ăn cưới", "ăn tết", "ăn giỗ", "ăn cúng", "ăn đám ma", "ăn đầy tháng", "ăn thôi nôi", …
Đã đến giờ ăn sáng ngày Chủ Nhật, tôi vẩy vài giọt nước lên chảo nóng để xem chúng có xèo xèo chưa. Hoàn hảo. Nhanh chóng, tôi đổ một muỗng đầy hỗn hợp bột nhạt vào lòng giữa chảo, nhẹ nhàng xoay vòng dần lan ra xung quanh. Sau đó, tôi tăng nhiệt độ lò lên, bỏ thêm một muỗng đầy loại bơ trong suốt (gọi là ghee) vòng quanh chiếc bánh tròn mới thành hình, ngay sau đó bánh phồng lên một chút và mép cuộn tròn lại. Giờ đến lúc trở mặt bên kia để làm bánh chín đều.
Với họ là mỗi ngày chân thật, với chúng ta là một cửa sổ mở vào thế giới tuyệt diệu của Nhật Bản xưa. Cuối thế kỷ 19, Nhật Bản đưa ra Hiến pháp Minh Trị, trong đó Thiên hoàng là người đứng đầu nhà nước, nhưng thủ tướng là người đứng đầu chính phủ. Mô hình cai trị thịnh hành này cũng dẫn đến những phát triển mới và lối sống hiện đại hơn. Qua những bức ảnh được tô màu bằng tay từ năm 1890 đến năm 1899, chúng ta thấy được một Nhật Bản giữa lằn ranh của chế độ quân chủ cũ và những thách thức hiện đại mà thế kỷ 19 mang tới.
Bảo Trợ