Định vị bản thân trong thế giới: Tôi là ai?

20 Tháng Tám 20203:58 SA(Xem: 152)

Định vị bản thân trong thế giới: Tôi là ai?

blank

Ở lứa tuổi thanh niên, hầu hết ai trong chúng ta cũng gặp khủng hoảng về căn tính. Khi trí não phát triển đến một mức độ nhất định, con người thường đặt các câu hỏi liên quan tới căn tính của mình. Tôi là ai? Tôi sống để làm gì? Và tại sao con người phải chết?… Nói một cách khác, đây là lứa tuổi đi tìm ý nghĩa cuộc sống và nhiệm vụ cần phải giải quyết là nhận ra „vị trí của mình” trong thế giới này.

Nét đẹp của tuổi thanh niên là sống có lý tưởng. Nhưng căn tính nơi người trẻ ở giai đoạn này chưa thực sự rõ ràng, cho nên các bạn có xu hướng đi tìm cho mình những hình mẫu nơi người nổi tiếng: như ca sĩ, diễn viên, cầu thủ bóng đá…. Có thể hiểu, các bạn trẻ thích chọn cho mình những thần tượng để diễn tả khao khát của mình. Người trẻ muốn trở nên như những người có vị trí và sự ảnh hưởng trong xã hội, như các thần tượng mà mình yêu mến. Sự lôi cuốn và sức hấp dẫn của các thần tượng là một động lực để các bạn trẻ học tập và cố gắng rèn luyện bản thân, cũng như học hỏi những kinh nghiệm đáng quý từ các thần tượng.

Tuy nhiên, nếu không đủ tỉnh táo các bạn dễ bị thu hút và chỉ chú ý tới những hào nhoáng bên ngoài mà thôi. Cần có một khoảng cách nhất định với các thần tượng, để các bạn không bị đồng hóa và đánh mất cá tính riêng của mình. Nhất là không bị trở nên bản sao – chỉ biết coppy, bắt chước mà không biết chọn lọc. Để nhận ra căn tính thực của riêng mình, các bạn phải biết tách mình ra và tự đi tìm câu trả lời cho chính mình: Tôi là ai?

Trong Tin Mừng theo thánh Mát-thêu Chúa Nhật 21 Thường Niên[1], Đức Giê-su hỏi các môn đệ: „ Người ta bảo Thầy là ai?” Sau một thời gian sống cùng và ở với Thầy, các ông trả lời rằng: „Có người nói Thầy là ông Gio-an Tẩy Giả, kẻ khác thì bảo là ông Ê-li-a, hay là một trong các vị ngôn sứ…” Các đánh giá, nhận xét của người khác về Đức Giê-su là rất tích cực, nhưng tất cả những danh xưng ấy là của người ta, họ là những người nhìn Đức Giê-su từ bên ngoài, chứ chưa phải là ý kiến của riêng các môn đệ, là những người đã sống và cùng đồng hành với Người. Đức Giê-su hỏi riêng các ông: „Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” (Mt 16, 13-20)

Phê-rô đã trả lời: „Thầy là Đấng Ki-tô, Đấng Mê-si-a…Câu trả lời của Phê-rô đúng, nhưng có lẽ chưa đủ. Vì ngay sau đó, Đức Giê-su cấm ngặt các ông không được nói với ai về Người là Đấng Mê-si-a. Tại sao Đức Giê-su phải ngăn cấm các môn đệ không được tiết lộ căn tính của Ngài? Phải chăng Đức Giê-su sợ sệt không muốn công khai danh phận thực sự của mình? Hay là, Ngài chỉ muốn tiết lộ danh tính thực cho một nhóm nhỏ mà thôi?

Chắc chắn Đức Giê-su chẳng vì sợ chết mà không dám công bố căn tính của mình. Trong các sách Tin Mừng, rất nhiều lần Đức Giê-su đã thẳng thắn đối chất với những người có quyền mà không hề sợ hãi. Đức Giê-su cũng chẳng muốn giữ bí mật riêng cho các môn đệ mà thôi. Mục đích của Đức Giê-su khi đến trần gian là tỏ lộ chính mình là Con Thiên Chúa và làm chứng về Chúa Cha. Vậy tại sao Ngài lại ngăn cản, không cho các môn đệ tiếp tục bàn tán và loan truyền một câu trả lời đúng về Ngài? Có lẽ, nguyên do là vì các môn đệ chưa hiểu đúng ý nghĩa Đấng Mê-si-a là gì.

Đối với các môn đệ, khái niệm Đấng Mê-si-a hàm chứa một quyền lực mang tính chính trị, là người có sức mạnh giúp dân giải phóng khỏi ách thống trị của Đế quốc Roma. Đấng Mê-si-a mà dân Izrael đang mong chờ là Đấng có quyền năng thực hiện phép lạ vĩ đại, tương tự như Mô-sê đã thực hiện khi đưa dân vượt qua biển đỏ… Trong khi đó, đối với Đức Giê-su: Đấng Mê-si-a mang ý nghĩa là sự đau khổ và chịu chết. Có thể nói rằng, Phê-rô đã đại diện cho các môn đệ trả lời đúng câu hỏi của Đức Giê-su, nhưng chính Phê-rô cũng hiểu sai về câu trả lời ấy. Sự ngăn cản của Đức Giê-su trong việc cấm cản các môn đệ loan truyền rộng rãi Người là ai, là vì các môn đệ chưa hiểu được ý nghĩa thực sự khái niệm Đấng Mê-si-a là gì, cho đến khi họ chứng kiến việc Thầy mình chịu chết nhục nhã và phục sinh. Nói một cách khác, mặc dù trả lời đúng căn tính của Đức Giê-su, nhưng các môn vẫn chưa hiểu danh tính đức thực của Đức Giê-su và luôn luôn có nguy cơ rao giảng một thông điệp sai.

Qua bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy rằng Đức Giê-su biết rõ và hiểu đúng về căn tính của mình. Ngài không bị lóa mắt trước những lời tung hô có cánh của dân chúng dành cho mình. Ngài không bị lôi cuốn bởi những hào nhoáng bên ngoài của những người có vị trị và ảnh hưởng trên xã hội thời đó. Ngài cũng không bị những cái nhìn, cái đánh giá… của người cùng thời chi phối và làm mất tự do. Đức Giê-su nhận biết chỗ đứng của mình trong thế giới, không chỉ nhờ những ý kiến phản hồi từ người khác, mà còn nhờ những phút giây đi vào trong thinh lặng để lắng nghe lòng mình, lắng nghe tiếng Chúa Cha.

Trong giai đoạn khám phá căn tính của mình, các bạn trẻ được mời gọi mở ra để hiểu mình một cách sâu xa hơn. Tiến trình này đòi hỏi các bạn một sự kiên nhẫn và lòng quảng đại của con tim. Nghĩa là, biết lắng nghe những nhận xét của người khác, để thấy người khác hiểu về mình thế nào. Thường xuyên gặp gỡ và trò chuyện với những người khôn ngoan và đáng tin, để nhận ra và hiểu đúng khao khát thực sự nơi mình. Và nhất là đi vào tương quan với Đấng là Sự Thật, để ta không bị chi phối bởi các lời nói, nhãn mác hào nhoáng ở bên ngoài, mà nhận biết thực sự „ơn gọi” làm người của tôi là gì.

Cầu chúc cho các bạn trẻ lòng can đảm và tự tin bước vào đời. Mặc dù, tuổi trẻ thích sự sôi động và ồn ào, nhưng cũng cần những khoảnh khắc thinh lặng sâu lắng. Thinh lặng không phải là một cái gì đó thiếu thiếu, nhưng là phút giây để điều gì đó được sinh ra trong cõi lòng. Nhất là, mỗi khi phải quyết định và đưa ra chọn lựa trong cuộc sống, hãy tự hỏi chính mình: Tôi thực sự mong muốn điều gì? và mạnh dạn hỏi Đức Giê-su: „Con là ai trong mắt Ngài?”

Trần Văn Ngữ, SJ

…………..

[1] Anh em bảo Thầy là ai? (Mt 16,13-20)
Theo Dongten.net

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Sự ra đời của mỗi một con người luôn mang đến niềm vui và hạnh phúc cho mỗi gia đình và toàn nhân loại. Hơn thế, sự hiện diện của một con người mới trên cõi đời như là dấu chỉ của hy vọng cho thế gian. Qua tình yêu, người cha và người mẹ đã cộng tác với Thiên Chúa trong công việc sáng tạo và vun đắp cho sự sống của con người. Mỗi người con sinh ra sẽ là những tia hy vọng cho cả Giáo hội và xã hội, vì qua những mảnh đời nhỏ bé ấy, tình yêu và bình an của Thiên Chúa được trao ban đến cho thế giới.
Chào thầy! Thầy có thể giới thiệu về bản thân một chút với quý độc giả? Chào quý độc giả. Tôi là tu sĩ thuộc Dòng Mẹ Chúa Cứu Chuộc (trước đây gọi là dòng Đồng Công). Thầy thấy dịch bệnh lần hai tại Việt Nam lúc này như thế nào? Điều này chắc rất nhiều người biết rõ hơn tôi nếu thường xuyên theo dõi các phương tiện truyền thông. Số ca lây nhiễm đang ngày một gia tăng, nhiều người, nhiều khu vực đang phải cách ly, nhiều phương án đang được chính phủ đưa ra để phòng ngừa…. Điều ấy cho thấy tình hình dịch bệnh tại Việt Nam đang diễn biến phức tạp, khó lường.
Các đan sĩ có những bí mật đáng để chúng ta biết, và các bí mật này có thể vô giá trong thời đại dịch coronavirus buộc hàng triệu người trong chúng ta phải sống như đan tu. Vì Covid-19, hàng triệu người buộc phải ở nhà, làm việc ở nhà, giãn cách xã hội với mọi người trừ người trong nhà và có tiếp xúc xã hội tối thiểu với bên ngoài. Một cách nào đó, dù muốn dù không, điều này đã làm nhiều người trong chúng ta thành tu sĩ. Đâu là bí mật để phát triển mạnh điểm này?
Trong bài huấn dụ ngắn trước khi đọc Kinh Truyền Tin hôm Chúa Nhật 12/07, Đức Thánh Cha giải thích dụ ngôn người gieo giống trong bài Tin Mừng Chúa Nhật thứ XV mùa Thường Niên và mời gọi các tín hữu hãy biến tâm hồn mình thành mảnh đất tốt để hạt giống Lời Chúa đã được gieo vãi trong tâm hồn chúng ta lớn lên và sinh hoa trái cho chúng ta và cho tha nhân. Hồng Thủy - Vatican News Vào lúc 12 giờ trưa Chúa Nhật 12/07, như thường lệ, từ cửa sổ Dinh Tông Tòa, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chủ sự buổi đọc Kinh Truyền Tin với các tín hữu hiện diện tại quảng trường thánh Phê-rô. Dù trưa mùa hè ở Roma thật nóng, với ánh mặt trời chói chang và nóng đến trên 33 độ, và trong thời gian đề phòng virus corona, nhưng cũngcó vài trăm tín hữu tham dự buổi đọc kinh với Đức Thánh Cha. Trong bài huấn dụ, Đức Thánh Cha nói:
Có lẽ trong đời sống đức tin, phần đông tín hữu chúng ta ưa thích làm những việc của Chúa hơn quan tâm chọn Chúa làm trung tâm và cùng đích của đời mình. Tất nhiên, nói như vậy không có nghĩa là chúng ta phủ nhận tinh thần tích cực và lòng nhiệt thành của những ai thực thi những việc của Chúa, từ trong những lễ nghi thờ phượng cho đến những phục vụ trong sinh hoạt cộng đoàn Dân Chúa. Nhưng trên hết, đối tượng mà chúng ta chọn lựa ưu tiên trong đời sống đức tin vẫn luôn luôn là Chúa, Đấng là tất cả trong mọi sự.
“Phúc cho đầy tớ nào chủ gặp thấy còn tỉnh thức khi chủ trở về” (Lc 12,37). Đâu đâu trên thế giới người ta cũng đi tìm tình yêu, vì ai cũng tin rằng chỉ có tình yêu mới cứu được thế giới, chỉ có tình yêu mới làm cho cuộc đời có ý nghĩa và đáng sống. Nhưng rất ít người hiểu được tình yêu thực sự là gì và làm thế nào tình yêu nảy sinh trong tâm hồn con người. Tình yêu thường được đồng hoá với những tình cảm tốt đẹp của ta đối với người khác, hoặc là sự nhân hậu, không bạo động hay sẵn sàng phục vụ. Tuy nhiên, tất cả những tình cảm này tự chúng không phải là tình yêu.
Chúng ta được mời gọi nên thánh. “Hãy nên thánh, vì Ta là thánh” (Lv 11,44; 1Pr 1,16). Đó là đích nhắm và là thách đố cho mỗi người. Đích nhắm vì “anh em hãy nên hoàn thiện.” (Mt 5,43–48), vì nơi đó có bình an, hạnh phúc. Thách đố vì nên thánh là đi ngược lại với những mời gọi của thế trần, nơi đó luôn có nhiều hấp dẫn gọi mời. Mỗi người đều có con đường nên thánh rất riêng, tùy theo bậc sống và môi trường người ấy dấn thân. Chút chia sẻ dưới đây cho chúng ta thấy giáo dân có một con đường nên thánh rất đặc thù.
Thân phận con người là hữu hạn: “Hữu sinh, hữu tử”. Nghĩa là có sinh ắt phải có tử; nhưng ngày sinh thì biết, ngày tử thì không. Chết ở đâu, khi nào và chết bằng cách nào chúng ta không hề hay biết, chỉ biết rằng sinh ra trong cõi đời này, sống trong cõi tạm này và ngày nào đó ta sẽ phải buông bỏ tất cả để chấm dứt cuộc đời chóng qua này. Như thế, đời người được ví như một chuyến đi, một hành trình có khởi đầu và kết thúc như một “cuộc chơi” mà không ai thoát khỏi. ‘Sinh, lão, bệnh, tử’ đã trở thành quy luật của một đời người và là định mệnh của con người. Quan niệm ấy không chỉ đúng với Phật giáo nhưng còn đúng với nhiều người. Với Kitô giáo thì bệnh tật và tội lỗi là do con người. Bởi, hệ lụy này chính là sự đổ vỡ tương quan giữa Nguyên tổ với Thiên Chúa khi ông bà bất tuân lệnh Chúa truyền và họ phải chuốc lấy khổ đau, bệnh tật và sự chết (x. St 2, 7-8; 3, 1-7).
Do đại dịch, từ Chúa nhật 08/3, buổi đọc Kinh Truyền Tin của Đức Thánh Cha với các tín hữu và du khách hành hương không diễn ra tại cửa sổ Dinh Tông tòa như thường lệ, nhưng được chuyển vào Thư viện cũng của Dinh Tông tòa. Và hôm Chúa Nhật 31/5, Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, Đức Thánh Cha đã xuất hiện tại cửa sổ để đọc Kinh Lạy Nữ Vương với các tín hữu. Cũng như mọi lần, trước khi đọc kinh, Đức Thánh Cha có bài huấn dụ ngắn.
Trước khi Chúa Giêsu rời bỏ các môn đệ, Người nói với họ rằng: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em. Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống” (Ga 14,18-19). Cách nào đó Chúa Giêsu đã đề cập đến “Đấng Bảo Trợ”, hay Chúa Thánh Thần, Đấng mà Người sẽ ban cho các Tông đồ trong ngày lễ Ngũ tuần. Chúa Giêsu cũng nói đến cách hiện diện khác mà Ngài đã hứa sẽ “ở cùng chúng ta”.
Bảo Trợ