Ông Thánh Alêxù Là Ai?

21 Tháng Bảy 20205:23 SA(Xem: 1123)
Trong nhiều quyển lịch ấn hành ở ngoại quốc, ngày 17 tháng 7 được ghi là kính thánh Alêxiô. Có phải thánh Alêxiô là Alêxù không? Tại sao tên vị thánh này không được ghi vào lịch phụng vụ?
saint alexios alexu

Thánh Alêxiô đúng là thánh Alêxù đó. Alêxius là tiếng La-tinh, dịch sang tiếng Pháp và tiếng Anh là Alexis (bổn mạng của đức cha Phạm văn Lộc, nguyên giám mục Kontum). Đừng lẫn với thánh Aloysius, tên La-tinh của thánh Luigi Gonzaga, được phụng vụ kính vào ngày 21 tháng 6. Trước đây, thánh Alexis được phụng vụ kính ngày 17 thang 7, nhưng với cuộc cải tổ phụng vụ sau công đồng Vaticanô II thì thánh Alexis bị gạt ra ngoài.

Vì lý do gì?

Ủy ban cải tổ lịch phụng vụ đã đề ra nhiều nguyên tắc làm việc. Một trong các nguyên tắc đó là loại trừ các vị thánh không có cơ sở lịch sử, cho dù nổi tiếng đến mấy đi nữa. Trong số các vị này, ta có thể kể đến thánh Alêxis và thánh Christophorus (tức là Christophe, bổn mạng của những người tài xế, trước đây kính vào ngày 25 thang 7. Thánh Christophe được vẽ như một người đang cõng Chúa Giêsu trên vai. Theo truyền kỳ, ông ta là một người Cana, thân hình to lớn vạm vỡ, và tuyên bố chỉ phục vụ người nào mạnh sức hơn mình mà thôi. Một đan sĩ đến thuyết phục ông hãy dùng sức mạnh của mình để giúp đỡ tha nhân, bằng cách cõng đưa những người muốn sang sông mà không có thuyền. Ông ta đồng ý. Một bữa nọ, một em bé đến xin ông cõng, nhưng càng ra khơi, ông thấy sức nặng trên vai cứ tăng dần, đến độ khiến ông suýt chìm lỉm xuống nước. Khi qua bên kia bờ, ông được soi sáng cho biết là hài nhi đó là đức Kitô; từ đó ông xin theo đạo và nhận tên là Christophorus, tiếng Hy-lạp có nghĩa là “kẻ mang Chúa Kitô”. Thánh Alêxiô được tôn làm bổn mạng những người hành khất, và được thuật lại trong nhiều thi ca bình dân hoặc các vở kịch. Tại Việt Nam, truyện thánh Alêxiô đã được sáng tác thành tuồng kịch, ngay từ những thời buổi đầu của việc truyền bá Tin mừng. Nhiều tín hữu xưa kia đọc thuộc lòng vở tuồng này cũng như sách giáo lý vậy.

Sự tích thánh Alêxù ra sao?

Dĩ nhiên là các bản tuồng kịch viết bằng tiếng Việt đã thêm thắt nhiều tình tiết, và nhất là chỉ dựa theo một lưu truyền nào đó về thánh Alêxù mà thôi. Trên thực tế thì có nhiều phiên bản. Theo một thủ bản (viết vào khoảng cuối thế kỷ V, giữa năm 450 hoặc 475), thì Alêxù là con của một gia đình trưởng giả ở Rôma. Vào chính đêm thành hôn, chàng ta bỏ nhà đi biệt tích. Chàng đi đến mãi tận Edessa (nay là Urfa bên Thổ-nhĩ-kỳ), và sống đời cầu nguyện và khổ hạnh. Để có phương tiện sinh sống, chàng xin ăn ở cửa một nhà thờ. Nếp sống đạo hạnh của chàng đã khiến cho dân làng đặt tên là “con người của Thiên Chúa”. Mãi đến lúc gần chết, chàng ta mới tiết lộ tung tích cho ông từ coi nhà thờ. Ông này liền đi báo cho đức giám mục tên là Rabbula (412-435). Nhưng khi giám mục đến nghĩa trang nơi đặt thi thể của chàng, thì chỉ còn thấy vài mảnh giẻ rách mà thôi. Hiểu là thân xác của ông đã được về trời.

Đó là một lưu truyền. Còn những lưu truyền khác thì sao?

Lưu truyền vừa nói được đặt tên là “Syria” (bởi vì phát sinh từ Edessa thuộc Giáo hội Syria) hoặc là Mar- Risha (hoàng thân, tước hiệu đặt cho Alêxù). Một lưu truyền khác (mang danh là Hy-lạp do xuất xứ của nó là Constantinopolis) được viết vào thế kỷ IX, thêm nhiều tình tiết khác lâm ly hơn, và được truyền sang Tây phương. Alêxù là con một của gia đình trưởng giả ở Rôma, song thân tên là ông Euphêmianô và bà Aglaê. Khi còn nhỏ, cậu ta đã có lòng thương người, và thường giúp đỡ những người nghèo mà cậu ta gặp. Vào chính ngày thành hôn, anh ta thỏa thuận với bà vợ sẽ giữ khiết tịnh hoàn toàn. Thế rồi, anh ta bỏ nhà ra đi đến phương trời vô định. 17 năm sau, anh trở về gia đình, nhưng không ai nhận ra. Anh được trao cho những công tác hèn hạ trong nhà như một người đầy tớ, và cho ngủ ở trong xó cầu thang trong vòng 17 năm trường. Tính tình của anh rất nhu mì hiền lành, và vì thế anh bị chính các gia nhân ăn hiếp. Mãi khi đến chết, thì một tiếng từ trời phán ra: “Hãy đi tìm con người của Thiên Chúa ở trong nhà ông Euphêmianô, bởi vì ông sẽ cầu bầu cho thành phố”. Đức thánh cha đến nhà ông Euphêmianô, và thấy trên tay của người hành khất một tờ giấy tiết lộ tông tích của mình. Dĩ nhiên đây là hồi bi thảm nhất của vở kịch: khi mà cha, mẹ, vợ thay nhau khóc than.

Cuộc đời của thánh Alêxù đã trở thành đề tài cho nhiều thi ca và tuồng kịch, kể từ thế kỷ XI. Việc tôn kính thánh Alêxù đã được phổ biến ở các Giáo hội bên Đông (Syria, Etiopia, Slavic, cách riêng bên Nga, nơi mà nhiều người mang tên là Alexis), cũng như bên Tây (Ý, Pháp, Tây-ban-nha).

Đó là những truyền kỳ về thánh Alêxù. Còn dưới khía cạnh lịch sử thì sao?

Truyện thánh Alêxù rất được phổ biến trong dân gian, ở nhiều nước bên Tây phương trước khi được truyền bá sang Việt Nam, dưới nhiều thể văn cũng như nhiều hoạ phẩm trong các thánh đường. Tuy nhiên, những cuộc phê bình lịch sử đã bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, khi cha Duchesne nhận thấy rằng thánh Alêxù tuy chết tại Rôma nhưng không thấy tên tuổi trong danh sách các thánh (martyrologium) của Giáo hội Rôma trước thế kỷ X. Về nơi an táng thì cũng có nhiều lưu truyền. Các Giáo hội bên Đông nói rằng thánh Alêxù được chôn cất ở đền thờ thánh Phêrô, một điều không thể kiểm chứng được. Tại Rôma thì người ta nói rằng thánh Alêxù được chôn ở nhà thờ thánh Bonifaxiô, trên đồi Aventinô. Một chi tiết khác nữa liên quan đến danh tánh của vị giáo hoàng. Truyền kỳ bên Hy-lạp nói đến giáo hoàng Marxianô đã khám phá ra thánh Alêxù ở chân cầu thang của nhà song thân. Nhưng trong lịch sử không có giáo hoàng nào tên là Marxianô cả. Lưu truyền La-tinh thì nói rằng đó là giáo hoàng Innôcentê I. Khi đối chiếu các lưu truyền lại với nhau, các nhà sử học cho rằng có lẽ lúc ban đầu, tại Edessa có một người hành khất sống đời khổ hạnh, và được nhiều người tôn kính như là một “con người của Thiên Chúa”. Về sau, người ta đặt tên cho ông là Alexis, và thêm thắt những tình tiết về nguồn gốc gia đình để càng làm tăng thêm thái độ khiêm tốn khổ hạnh của ông.

Ngày nay còn dấu vết gì của thánh Alêxù không?

Có chứ. Tại Rôma, một thánh đường nổi tiếng mang tên thánh Alêxù, nằm trên đồi Aventinô, bên cạnh nhà thờ thánh Sabina, trụ sở dòng Đaminh, nơi mà hàng năm Đức thánh cha đến khai mạc mùa Chay. Ngôi nhà thờ này được đức thánh cha Hônôriô III dâng kính thánh Alêxù, trước đó mang tước hiệu thánh Bônifaxiô. Tuy nhiên kiến trúc của ngôi thánh đường hiện nay không còn giữ được vẻ nguyên thủy nữa, nhưng đã được tân trang hồi thế kỷ XVIII. Trong ngôi nhà thờ này, còn lưu giữ một cầu thang bằng gỗ mà tục truyền là nơi mà thánh Alêxù đã ở trong suốt 17 năm. Theo các nhà khảo cổ, nhà thờ thánh Alêxù không phải là căn nhà của ông Euphêmianô, nhưng chỉ là một nhà thờ trước đây kính thánh Bonifaxiô. Vào năm 997, khi tổng giám mục Sergiô từ Đamascô buộc phải rời bỏ giáo phận để sang tá túc ở Rôma, thì được đức thánh cha trao nhà thờ thánh Bonifaxiô làm trú sở. Đức cha Sêrgiô đã thiết lập một đan viện tại nhà thờ này, và truyền bá lòng sùng kính thánh Alêxù. Thánh nhân trở thành mẫu gương cho những khất sĩ. Trước đây lịch phụng vụ của Giáo hội La-tinh kính vào ngày 17 tháng 7, còn lịch Giáo hội Hy-lạp kính ngày 17 tháng 3. Như đã nói trên, bên Đông phương nhiều người đã nhận thánh Alexis làm bổn mạng, từ các hoàng đế đến các thượng phụ giáo chủ. Bên Tây phương, không những thánh Alêxù được đặt làm bổn mạng cá nhân, mà còn được nhận làm bảo trợ cho vài dòng tu nữa. Dù sao, nếu ai nghĩ rằng thánh Alêxù chỉ là một nhân vật dã sử cho nên hết giá trị, thì có thể tìm thấy một nhân vật lịch sử khác với một cuộc sống tương tự. Đó là thánh Benoit Labre, sinh năm 1748 tại Amettes (nay là Arras, miền Bắc nước Pháp), trưởng nam trong một gia đình tiểu thương, với 15 người con. Khi còn nhỏ, anh đã được nhiều giáo sĩ quen biết trong gia đình giúp đỡ để học làm linh mục. Nhưng anh không thấy ý Chúa gọi vào hàng giáo sĩ. Anh cũng đi thử nghiệm đời khổ tu với Dòng Chartreux, rồi dòng Xitô, nhưng cũng không thỏa mãn. Sau cùng, anh quyết định sống đời lãng tử. Rời nước Pháp, anh đi bộ qua Italia, kính viếng các đền thờ cổ kính (Assisi, Loreto), và rồi sau cùng đến Rôma. Tại đây, trong vòng 7 năm, anh đi viếng các nhà thờ trong giáo đô, ban ngày đi cầu nguyện, và ban tối thì ngả lưng ở một vỉa hè hay núp bóng hí trường Colosê. Anh qua đời ngày 16/6/1783, lúc chưa đầy 35 tuổi. Lạ thay, khi nghe tin người hành khất này qua đời, thì cả thành phố Rôma đến viếng xác của anh, trong suốt một tuần lễ. Benoit Labre được phong chân phước 70 năm sau (1853) và được phong thánh ngày 8/12/1881. Thánh Benoit Labre tượng trưng cho một khuôn mẫu thánh nhân mới của thời đại, một vị thánh không phải là giáo sĩ, tu sĩ, cũng chẳng phải là giáo dân thuộc hạng trưởng giả, nhưng là một giáo dân sống tầm thường. Nhờ sống đời cầu nguyện và nghiền ngẫm Lời Chúa, anh không những sống cuộc đời đạm bạc, mà còn tiếp xúc với mọi hạng người, nhất là những hạng cùng đinh trong xã hội. Anh trở nên một người nghèo truyền giáo cho người nghèo.

Theo Hoc Vien Daminh

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Xin gửi bài này đặc biệt đến các Bà Mẹ trong Hội các Bà Mẹ Công Giáo mà Thánh Nữ Monica là Thánh Bổn Mạng, nhất là các Bà Mẹ đang đau khổ trong nước mắt để cầu nguyện cho chồng và cho con.../25 Tháng Tám 2012(Xem: 8569) Lm. Anphong Trần Đức Phương - Tinmungnet /
Phan Tấn Thành Dẫn nhập Trong các tín biểu, lời tuyên xưng về Giáo hội (Ecclesia) thường được kèm theo vài tính từ, với con số thay đổi. Tín biểu Epistula Apostolorum (khoảng năm 170) chỉ gồm năm mệnh đề, và mệnh đề thứ bốn là: “et in sanctam Ecclesiam” (Denz-Sch 1). “Thánh thiện” là đặc điểm cổ nhất, nói lên sự thuộc về Thiên Chúa. Trong “Tín biểu các thánh tông đồ”, ngoài “sancta” khi thêm “catholica” (sanctam Ecclesiam catholicam); bên Đông phương, tín biểu của Cyrillô Giêrusalem (khoảng năm 348) viết «una santa Chiesa catholica» (Denz-Sch 41) và của Epiphaniô năm 374 “una sola sancta Ecclesia catholica et apostolica” (Denz-Sch 42), đưa đến công thức của công đồng Constantinopolis năm 381 « unam sanctam catholicam et apostolicam Ecclesiam». Trong lịch sử thần học, đã có những quan niệm khác nhau về bản chất của bốn đặc tính này cũng như công dụng của chúng.
Nhiều sách về Đức Mẹ đã được các học giả Tin lành viết, nhiều cuốn cổ vũ người Tin lành nhìn sát hơn vào Đức Mẹ. Nhiều câu chuyện về các Phật tử và những người ngoài Công giáo đã đến viếng Đền Đức Mẹ Lộ Đức. Mặt khác, các tín đồ Hồi giáo cũng rất tôn trọng Đức Mẹ. Thật vậy, Đức Mẹ được nói đến nhiều lần trong kinh Koran, sách thánh của Hồi giáo, nhiều hơn cả trong Kinh thánh!/17 Tháng Bảy 2014 (Xem: 4787) /
NHỮNG SAI PHẠM CỦA SỨ ĐIỆP TỪ TRỜI 5. Các vấn đề liên hệ đến Hội Thánh. ▶5.1. Chối bỏ Huấn quyền của Hội Thánh. *SỨ ĐIỆP 06-04-2011. "...không một ai trong các con xứng đáng để phán xét hoặc tra xét về người khác. Không ai có quyền hạn hoặc hiểu biết thiêng liêng để đưa ra bất cứ sự đánh giá nào về đạo đức nơi người khác" NHẬN ĐỊNH. Nói như thế bà Maria Divine Mercy rõ ràng đã phủ nhận Huấn quyền của Hội Thánh. ▶5.2. Phủ nhận vai trò của Chúa Thánh Thần trong Hội Thánh. *SỨ ĐIỆP 12-04-2012. "Cơ mật viện Hồng Y bầu Giáo hoàng mới là những người theo bè Tam điểm, là tổ chức độc ác của Satan." NHẬN ĐỊNH. Rõ ràng bà Maria Divine Mercy không tin rằng Thánh Thần của Đức Kitô vẫn đang hiện diện và hoạt động trong Hội Thánh, không ngừng hướng dẫn Hội Thánh đạt đến chân lý toàn vẹn của Đức Kitô.
Nguồn gốc của mọi thiên chức linh mục Chủ đề linh mục là đề tài rất được quan tâm và mang tính thời sự trong thế kỷ qua. Công Đồng Vaticanô II đã dành trọn một tài liệu cho chủ đề này với sắc lệnh Presbyterorum Ordinis; năm 1992, thánh Gioan Phaolô II đã gửi tới toàn thể Hội Thánh tông huấn hậu thượng hội đồng Pastores Dabo Vobis, về việc huấn luyện các linh mục trong bối cảnh hiện nay; tiếp đến, khi công bố năm thánh linh mục 2009-2010, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã phác thảo cách vắn gọn nhưng rất sâu sắc dung mạo linh mục dưới ánh sáng cuộc đời của Cha Sở xứ Ars. Cùng với đó là vô số những suy tư của nhiều tác giả trên thế giới được thực hiện và nhiều cuốn sách viết về chân dung và sứ vụ của linh mục qua dòng thời gian, trong đó rất nhiều tác phẩm có giá trị.
Trải qua lịch sử, Chúa nhật sau lễ Phục sinh đã được gọi bằng nhiều danh xưng khác nhau: Chúa nhật tám ngày sau lễ Phục sinh, Chúa nhật “Áo trắng” (in Albis), bởi vì các tân tòng cởi chiếc áo trắng mà họ đã lãnh nhận khi lãnh các bí tích khai tâm vào đêm Vọng Phục sinh, đánh dấu việc kết thúc giai đoạn huấn giáo khai tâm. Tại vài Giáo hội bên Ấn độ (tục truyền do thánh Tôma tông đồ thành lập), Chúa nhật sau lễ Phục sinh được gọi là chúa nhật thánh Tôma, bởi vì bài Phúc âm thuật lại cuộc gặp gỡ của Người với Chúa Kitô. Gần đây, Đức Gioan Phaolô II muốn thêm một danh xưng nữa, đó là “Chúa nhật kính Lòng Chúa Thương Xót”. Trong Năm Thánh 2000, Đức Gioan Phaolô II đã ấn định rằng trong toàn thể Hội thánh, Chúa nhật sau lễ Phục sinh, ngoài danh hiệu Chúa Nhật Áo trắng, sẽ còn được đặt tên là Chúa nhật kính Lòng Chúa Thương Xót.
Hôm thứ Sáu 12 tháng Hai, 2021, Mùng Một Tết Tân Sửu, Phòng Báo Chí Tòa Thánh đã công bố Sứ điệp Mùa Chay Thánh 2021 của Đức Thánh Cha Phanxicô. Nguyên bản tiếng Ý và các ngôn ngữ khác có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ. Sứ điệp Mùa Chay 2021 của Đức Thánh Cha Phanxicô “Nào chúng ta lên Giêrusalem” (Mt 20:18) Mùa Chay: Thời gian canh tân Niềm tin, Hy vọng và Tình yêu Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu đã mặc khải cho các môn đệ ý nghĩa sâu sắc nhất trong sứ vụ của Người khi loan báo cho họ cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Người để hoàn thành Thánh ý Chúa Cha. Sau đó, Ngài mời gọi họ chia sẻ sứ mạng này để cứu độ thế giới.
WHĐ (15.2.2021) – Nhân kỷ niệm 60 năm thành lập hàng Giáo phẩm Việt Nam (1961 – 2021), chúng tôi xin được đăng bản dịch chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam về Tông thư thành lập hàng Giáo phẩm Việt Nam – “Jam In Pontificatus” của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII gửi hàng Giáo phẩm Việt Nam ngày 14.1.1961. * * *
Thứ Tư Lễ Tro năm nay sẽ rơi vào ngày 17 tháng Hai. Hôm thứ Ba, Vatican đã đưa ra hướng dẫn về cách các linh mục có thể xức tro vào Thứ Tư Lễ Tro trong bối cảnh đại dịch coronavirus. Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích đã công bố một chỉ dẫn vào ngày 12 tháng Giêng, hướng dẫn các linh mục đọc công thức xức tro một lần cho tất cả mọi người có mặt, thay vì cho từng người. Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ. Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích Công văn số 17/21 Chỉ dẫn cho ngày Thứ Tư Lễ Tro Việc xức tro trong thời gian xảy ra đại dịch Vị Linh mục đọc lời nguyện làm phép tro. Ngài rảy nước thánh lên tro, không nói gì cả. Sau đó, ngài nói với tất cả những người hiện diện chỉ một lần duy nhất công thức như được ghi trong Sách Lễ Rôma, áp dụng công thức ấy cho tất cả mọi người nói chung:
Ngày 1 tháng 10 năm 2010, Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình đã ra thông báo về án phong chân phước cho ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Thông báo viết: “Ngày 22 tháng 10 tới, tức 3 năm sau khi loan báo việc mở Án phong chân phước, sẽ có phiên họp trọng thể mở cuộc điều tra ở cấp giáo phận về đời sống, các nhân đức và đời sống thánh thiện của Đấng Đáng Kính, ĐHY Việt Nam Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, người đã là Phó Chủ Tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình từ năm 1994 và là Chủ tịch Ủy Ban này từ ngày 24 tháng 6 năm 1998 đến ngày 16 tháng 9 năm 2002”. Theo thông báo của Tòa Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Tp. Hồ Chí Minh về việc điều tra án phong chân phước và phong thánh cho Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, do Đức Hồng Y GB Phạm Minh Mẫn ký ngày 1 tháng 1 năm 2012, chúng ta cùng tìm hiểu đôi nét về cuộc đời của Đấng Đáng Kính, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.
Bảo Trợ