Tưởng niệm Quốc Hận: 20-7-1954!

20 Tháng Bảy 202012:36 CH(Xem: 189)

Tưởng niệm Quốc Hận: 20-7-1954!

 

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

 “Đây phương Nam, đây ruộng Cà Mâu no lành, với tiếng hát êm đềm trong suốt đêm thanh…”. Dẫu cung đàn đã xưa, lời nhạc đã cũ; nhưng sẽ không bao giờ trở thành xưa cũ, khi chúng ta, những người dân của nước Việt Nam Cộng Hòa đã một thời được sống trong cảnh thanh bình, tự do, no ấm; vì thế, hôm nay, chúng ta, dù mái tóc đã phai mầu, nhưng mỗi lần lướt đôi tay trên chiếc dương cầm, hay trên những cây đàn tuyệt hảo của đầu thế kỷ 21, thì có lẽ trong chúng ta, dễ mấy ai quên đi những chiếc phím ngà xưa cũ của những cây đàn Mandoline của thế kỷ trước, với bài hát Trăng Phương Nam, để rồi có thể có nhiều người sẽ rưng rưng, khi vọng tưởng về những năm tháng thanh bình xưa đã mất, và không bao giờ tìm thấy lại, dù một lần nào nữa!

 

Hôm nay, ngày 20 tháng 7 năm 2012; để tưởng nhớ đến một ngày đất nước đã bị chia cắt, phân ly!  Người viết muốn nhắc lại một bài đã viết trước đây:  Kể từ khi nước Việt Nam Cộng Hòa rơi vào tay cộng sản, thì người Việt tỵ nạn chúng ta chỉ còn biết và tưởng niệm ngày 30/4/1975, là ngày Quốc Hận. Nhưng ngược thời gian trở về cuối thập niên 1950, và đầu thập niên 1960. Khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Người đã khai sinh ra Thể chế Cộng Hòa Việt Nam, thì người dân miền Nam đã từng tưởng niệm Ngày Quốc Hận là ngày 20/7/1954. Ngày ấy, theo hiệp định Genève, đất nước đã bị Cộng sản Bắc Việt và Pháp chia cắt thành hai miền bởi giòng sông Bến Hải. Miền Bắc do Hồ Chí Minh cai trị, với những cuộc “cách mạng” máu đổ đầu rơi, con tố cha mẹ, vợ tố chồng. Rồi “cách mạng văn hóa” làm cho không biết bao nhiêu người đã phải chết thảm, hoặc bị tù đày, tàn hại đến cả một đời người, mà đến cả sóng nước của giòng sông Bến Hải cũng phải khóc hờn ai oán:

 

 “Con sông Bến Hải từ độ chia hai,

 Đêm đêm nó khóc than hoài

Hờn căm cộng sản chia hai nhịp cầu

Lớn lên từng đợt u sầu

Bao giờ Nam-Bắc nhịp cầu sang ngang

Bên đây đời sống thênh thang

Bên kia kiếp sống điêu tàn xác xơ

Ruộng đồng lúa mọc lơ thơ

Máu pha nước mắt ngập bờ tre xanh!”

 

 

 

 

Trong khi đó, tại miền Nam, dưới sự lãnh đạo của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đầy lòng nhân ái, Người đã sống một cuộc đời thanh bần, liêm khiết, quên mình, để tận hiến cho Quốc Gia và Dân tộc. Như mọi người đã biết, vào thời kỳ ấy, Nền Cộng Hòa Việt Nam còn non trẻ, lại còn thêm loạn sứ quân cát cứ, và không được đồng minh và quốc tế viện trợ như Việt Nam Cộng sản hiện nay. Nhưng Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã xây dựng được một nước Việt Nam Cộng Hòa tự do, phồn thịnh. Từ thành thị cho đến thôn quê, nơi đâu cũng được sống trong cảnh thanh bình, no ấm.

 

“Tiên thiên hạ vi ưu, vi ưu - Hậu thiên hạ vi lạc, vi lạc”; đó là, cách Sống của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Bởi vậy, cho nên chính vì xót đau cho những cảnh đời lầm than, đau khổ của đồng bào đang ở bên kia Vĩ tuyến, nên Tổng Thống Ngô Đình Diệm và là vị Tổng Tư Lệnh đầu tiên của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã có chủ trương Bắc Tiến. Nhưng tiếc rằng, con đường Bắc Tiến chỉ mới ở bước đầu, thì vị Tổng Thống đã có công nghiệp khai sáng Nền Cộng Hòa Việt Nam đã đi vào lịch sử.

 

Những điều ấy, đã được Thi sĩ Vũ Hoàng Chương viết thành những vần thơ, vì cứ ngỡ rằng “Từ nay trăm họ câu an lạc-Đàn khúc đầm Dao, rượu chén Quỳnh”, và với ước mơ Bắc tiến, để có một ngày “trở lại Cố đô- Đại định Thăng Long, một bóng Cờ”. Người viết xin chép lại những vần thơ của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, để mọi người cùng “chiêm nghiệm” như sau đây:

 

  

“Lò phiếu trưng cầu, một hiển linh

Đốt lò hương, gửi mộng bình sinh

Từ nay trăm họ câu an lạc

Đàn khúc đầm Dao, rượu chén Quỳnh!

 

Có một ngày ta trở lại cố đô

Lưỡi lê no máu rửa Tây Hồ

Trên tầng Chí Sĩ bàn tay vẫy

Đại định thăng Long, một bóng cờ”.

 

Nhưng không riêng Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, mà Nhạc sĩ Lam Phương cũng đã viết thành một ca khúc Chuyến đò Vĩ tuyến, và đã đi vào Nhạc sử:

 

“Đêm nay trăng sáng quá anh ơi

Sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai màu

Lênh đênh trên sóng nước mông mênh

Bao đêm lạnh lẽo em chờ mong gặp bóng chàng

Vượt rừng vượt núi đến đầu làng

Đò em trong đêm thâu sẽ đưa chàng sang vĩ tuyến

Phương Nam ta sống trong thanh bình

Tình ngát hương nồng thắm

bên lúa vàng ngào ngạt dâng

Ơ... ai... hò ...

Giòng sông mơ màng và đẹp lắm

Anh ơi ai nỡ chia đôi bờ

để tình ta ngày tháng phải mong chờ

Hò... hớ .... hò .... hơ ...

Em và cùng anh xây một nhịp cầu

Để mai đây quân Nam về Thăng Long

Đem thanh bình sưởi ấm muôn lòng !


Sương khuya rơi thấm ướt đôi mi

Tim em lạnh lẽo như chiều đông ngoài biên thùy

Ai gieo chi khúc hát lâm ly

Như khơi niềm nhớ cuộc từ ly lòng não nùng

Bùi ngùi nhìn cách xa ngàn trùng

Giờ đây em điêu linh nơi quê nhà đang chìm đắm

Bao đêm thổn thức dưới trăng ngà

Hồn đắm say chờ đón ngày anh về sưởi lòng nhau”.

 

Nhưng than ôi! Những hoài bão, những ước mơ, mà chắc của rất nhiều người; đặc biệt nhất, là những đồng bào của Miền Bắc đã đành phải nuốt nước mắt khi quyết định phải vào miền Nam để tỵ nạn Cộng sản. Và chỉ có chính họ, mới thấu được những nỗi đau thương khi phải rời bỏ nhà cửa,  ruộng vườn, có nhiều gia đình đã phải lạc mất người thân, khiến cho gia đình của họ đành phải đôi bờ bên giòng sông Bến Hải và cầu Hiền Lương, với ước mơ: “Bao giờ Nam-Bắc nhịp cầu sang ngang”, và “anh cùng em xây một nhịp cầu, Để mai đây quân Nam về Thăng Long, Đem thanh bình về sưởi ấm muôn lòng”.

 

Những nỗi đau thương của đồng bào miền Bắc, vào thời điểm sau ngày 20/7/1954 ấy, tại miền Nam ít ai hiểu thấu; nhưng cho đến sau ngày 30/4/1975, thì những người Việt Nam tỵ nạn Cộng sản thực sự, và khi bước xuống những con thuyền mong manh để vượt biển, hoặc chạy trốn khỏi đất nước trên những con đường rừng; chỉ đến lúc đó, khi ngoái nhìn về nơi cố quốc, thì họ mới thấy lòng quặn thắt, mới thấu được những nỗi đau của đồng bào miền Bắc ngày xưa, khi không còn con đường nào để chọn bằng con đường phải ra đi!

 

Ôi! Những dòng nước mắt nào đã rơi rơi trên suốt con đường từ Bắc vào Nam, và những dòng nước mắt nào đã rơi xuống những bãi biển, rơi trên những con thuyền đã đưa người ra khơi, để đi tìm sự sống trong cái chết, và đã có biết bao nhiêu người đã phải bị vùi chôn dưới đáy nước, hay đã vĩnh viễn bỏ mình ở các trại tỵ nạn xa xôi!

 

Làm sao nói hết được nỗi đau; bởi vì tất cả những ngôn từ của nhân loại không làm sao diễn đạt cho vừa với những vết thương, những nỗi đau đớn quá kinh hoàng, và những mất mát, mà không có bất cứ một thứ vật chất nào có thể bù đắp, mà mãi mãi sẽ không bao giờ quên được, và trong số người ấy, đã có rất nhiều người là đồng bào miền Bắc đã từng đứt ruột rời bỏ tất cả, để vào Nam tỵ nạn Cộng sản, những tưởng rằng đã chạy thoát; đâu có ngờ rằng, mình sẽ phải chạy giặc tới hai lần, và trong số ấy, cũng có nhiều người đã vĩnh viễn không bao giờ còn nhìn thấy lại  chốn cũ, làng xưa!

 

Giờ đây, kể từ ngày Quốc Hận: 20/7/1954; 58 năm dài đã trôi qua, với bao nhiêu những biến cố tang thương, dâu bể, dù là người miền Bắc hay người miền Nam, và dù một lần, hay hai lần bỏ xứ ra đi, sống đời tỵ nạn trên những đất nước tạm dung, hoặc ngay cả những đồng bào tại quốc nội; nhưng hôm nay, với hệ thống thông tin toàn cầu, với những hình ảnh, và những thước phim tài liệu hoàn toàn trung thực, thì có lẽ đa số đồng bào đã biết được cuộc sống tương đối tự do, no ấm, thanh bình của đồng bào tại miền Nam dưới  thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa: 1954-1963; thì chắc chắn sẽ thấy được công nghiệp của Người đã khai sáng Thể chế Cộng Hòa Việt Nam, và rồi sẽ bồi hồi thương tiếc cho tất cả những gì đáng phải trân-quý, đáng phải gìn giữ; nhưng bây giờ đã mất, để rồi mãi mãi chỉ còn biết tìm lại qua dư âm của những lời ca, tiếng nhạc và những vần thơ năm cũ:

 

Đẹp thay Chính Thể Cộng Hòa,

Vui thay tiếng hát câu ca thanh bình.

Cộng Hòa như ánh Bình Minh,

Như giòng nước mát như tình lúa xanh.

 

Pháp quốc, 20/7/2012

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Khi những bậc lão thành vừa nhâm nhi cà phê vừa hồi tưởng lại quãng thời gian yên bình cách đây hơn nửa kỷ bằng câu mở đầu “muôn thuở”: “Hồi ấy, bố/mẹ ….”, thì bạn đừng than vãn: “Biết rồi, khổ lắm nói mãi”. Bởi nếu có cỗ máy thời gian cho phép bạn quay trở lại thời điểm cách nay hơn nửa thế kỷ, bạn có gật đầu không?
Chúng ta đều đã từng xem các video clip được chia sẻ mạnh mẽ trên mạng xã hội, như cảnh chú chó cưỡi trên lưng ngựa, đàn vịt chạy theo con mèo, hay thậm chí con chuột lang nằm ôm con rắn.
Thuyết tiến hóa của Darwin đã bị tất cả các thành phần của xã hội và thậm chí là cả giới chính trị phản đối. Trong quá trình viết "Nguồn gốc các loài", ông bị mắc căn bệnh quái lạ, con cái chết yểu. Vì vậy Darwin càng đau đớn và mất lý trí, thậm chí ông ta còn coi ngụy thuyết "Chọn lọc tự nhiên" là con của mình... Chống lại Thần học Cơ Đốc giáo, phỉ báng Thượng Đế Trước khi chế ra thuyết tiến hóa, Darwin đã bị thuyết phục bởi tư tưởng "Thiết kế thông minh" của William Perry. William Perry cho rằng thiết kế của vũ trụ phải có một người sáng tạo thông minh, giống như một chiếc đồng hồ tinh xảo phải đến từ một người thông minh thiết kế. Nhưng khi Darwin đưa ra giả thuyết về sự tiến hóa, ông cho rằng: "Thuyết sáng tạo của Thượng Đế" là không thể tin được. Ông đã viết vào năm thứ ba sau khi đưa ra thuyết tiến hóa rằng: "Kinh Cựu Ước giống như Sách Thánh của người Ấn hay tôn giáo của người man rợ, đều không đáng tin. Bởi vì lịch sử thế giới được ghi lại trong đó rõ ràng là sai, kể cả
Đã có kết quả: dưới đây là các bức ảnh ứng cử đoạt giải cuộc thi Ảnh Động vật Hoang dã Vui 2020 (Comedy Wildlife Photography Awards), chụp các loài vật ở các góc và tư thế lạ và độc đáo nhất.
Đó là đầu giờ chiều ngày 25/3 ở Bali, và là lần đầu tiên trong một thời gian dài tôi có thể nghe thấy bản thân mình nghĩ ngợi. Không có tiếng xe máy rồ ga qua nhà, không có tiếng người bán mì rao hàng, thậm chí không có cả âm thanh máy bay thỉnh thoảng ngang qua đầu.
Eugenie Scott, người đứng đầu nhóm ủng hộ Darwin, khi nói chuyện với giới truyền thông năm 2009 tại Ủy ban Giáo dục Tiểu bang Texas đã tuyên bố: “Không có điểm yếu nào trong lý thuyết tiến hóa”. Đối với những người theo dõi cuộc tranh luận này từ đầu, những lời của Tiến sĩ Scott không gây ngạc nhiên vì họ đã quen rồi. Nhưng có thật là “không có điểm yếu” trong thuyết tiến hóa? Hầu như hàng ngày, các phương tiện truyền thông đều trích dẫn các nhà khoa học ủng hộ thuyết tiến hóa và khẳng định các nhà duy vật coi thuyết tiến hóa là “đúng”. Sinh viên tham gia các khóa học dự bị đại học hoặc đại học về thuyết tiến hóa được cảnh báo rằng nghi ngờ thuyết Darwin là tương đương với việc tự tử trí tuệ - cũng tương tự như tuyên bố Trái đất là phẳng. Bắt nạt như vậy đủ để thuyết phục nhiều người rằng sẽ dễ dàng hơn cho địa vị khoa học, sự nghiệp và danh tiếng của họ nếu ủng hộ thuyết Darwin. Một số vẫn phản đối thì luôn bị đe dọa phải im lặng.
Ở Læsø (Laesoe, viết theo ký tự Latin), những ngôi nhà phủ lá tranh từ búi rong biển nặng màu bạc, là thứ có thể trở thành vật liệu xây dựng hiện đại khắp thế giới. Trong hầu như suốt mùa hè trên hòn đảo Læsø ở Đan Mạch, bạn sẽ thấy ông Henning Johansen bận rộn làm việc. Là dân đảo, Johansen làm nghề lợp mái nhà. Nhưng ở đảo Læsø, công việc của thợ lợp mái nhà không giống ở bất cứ nơi đâu. Nằm cách bờ biển Jutland 19km về phía đông bắc, hòn đảo xuất hiện trong thần thoại Bắc Âu này là nhà của người khổng lồ Ægir (Aegir, tức là Biển).
Bán đảo Italia từ lâu đã là vùng đất của nghệ thuật. Cặp mắt tinh tế của các họa sĩ trong khung cảnh thanh bình đã tạo nên một nền nghệ thuật phồn vinh. Ngoài ra, những nhà tài trợ giàu có với tiêu chuẩn khắt khe đã kết nối uy tín và quyền lực của họ với nghệ thuật. Không nơi nào khác mà nghệ thuật lại đóng một vai trò quan trọng như vậy: nó đặt ra những chuẩn mực chỉ đạo cho nhân loại hướng tới những lý tưởng cao cả vượt xa những điều trần tục, và định hình thế giới quan của chúng ta thông qua hình ảnh.
Ngày xửa ngày xưa, có một cô Tấm. Cô Tấm mẹ mất sớm, cha đi lấy vợ có thêm cô Cám, sau đó vài năm cha cũng mất. Tấm ở với mẹ kế. Mẹ kế rất cay nghiệt, bắt Tấm làm lụng luôn chân luôn tay, còn Cám được nuông chiều chả phải làm việc gì. Một lần mẹ kế bảo hai chị em ra đồng bắt cua… *** Ơ kìa truyện bảo Cám được nuông chiều không phải làm việc gì mà cũng bị sai đi bắt cua đấy thây?
Chuyện ly kỳ về cô bé duy nhất sống sót sau tai nạn máy bay: Rơi từ độ cao 3000m xuống rừng rậm, đi bộ liên tục trong 10 ngày đêm . Theo Z Pháp luật và bạn đọc
Bảo Trợ