Kitô hữu sống đạo: Chọn Chúa hay chọn việc của Chúa

10 Tháng Bảy 20207:48 SA(Xem: 287)
Kitô hữu sống đạo: Chọn Chúa hay chọn việc của Chúa

WHĐ (2.7.2020) – Có lẽ trong đời sống đức tin, phần đông tín hữu chúng ta ưa thích làm những việc của Chúa hơn quan tâm chọn Chúa làm trung tâm và cùng đích của đời mình. Tất nhiên, nói như vậy không có nghĩa là chúng ta phủ nhận tinh thần tích cực và lòng nhiệt thành của những ai thực thi những việc của Chúa, từ trong những lễ nghi thờ phượng cho đến những phục vụ trong sinh hoạt cộng đoàn Dân Chúa. Nhưng trên hết, đối tượng mà chúng ta chọn lựa ưu tiên trong đời sống đức tin vẫn luôn luôn là Chúa, Đấng là tất cả trong mọi sự.

Vậy, để không rơi vào ảo tưởng cho rằng mình đã giữ đạo tốt lành, đúng ý Chúa, chúng ta cần phân biệt cách rạch ròi sự khác biệt giữa Chúa và việc của Chúa.

blank

Đức cố Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã dành chương 2 trong cuốn sách nổi tiếng “Năm chiếc bánh và hai con cá” để chia sẻ kinh nghiệm thực tế của cá nhân ngài liên quan vấn đề “Phân biệt giữa Chúa và việc của Chúa”.

Ngài kể lại câu chuyện của bản thân ngài như sau:

Lúc tôi còn là một linh mục sinh viên ở Roma, có một người đã bảo tôi: Đức tính lớn nhất của bạn là ‘hăng say nhiệt tình’, còn tính xấu tệ nhất là ‘hay tấn công’. Dù thế nào đi nữa, tôi là một người ham hoạt động: hướng đạo sinh, tuyên úy tráng đoàn La Vang, cắm trại trên núi Bạch Mã… Một tư tưởng thúc bách tôi mỗi ngày: phải chạy đua với đồng hồ! Làm tất cả những gì có thể được để củng cố và phát triển Giáo Hội trong Giáo phận Nha Trang, trước khi thời gian khốn khó xảy đến, khi phải sống dưới chế độ mới!

Trọng tâm hoạt động của tôi là huấn luyện nhân sự: gia tăng đại chủng sinh từ 42 đến 147 trong tám năm; gia tăng số tiểu chủng sinh từ 200 đến 500 trong bốn chủng viện; tu nghiệp các linh mục trong sáu giáo phận của Giáo tỉnh miền Trung; phát triển và huấn luyện các phong trào thanh niên, giáo dân, các hội đồng giáo xứ, mục vụ… Tôi rất quí mến giáo phận đầu tiên của tôi là Nha Trang.

Giờ đây, tôi phải đi vào Sàigòn lập tức, theo lệnh Đức Phaolô VI bổ nhiệm. Không kịp từ biệt những ai đã từng hiệp nhất với tôi trong cùng một lý tưởng, cùng một quyết tâm, cùng chia sẻ hân hoan và thử thách.

Đêm ấy 7-5-1975, khi tôi ghi âm những lời tạm biệt Giáo phận Nha Trang, tôi đã khóc nhiều, đó là một lần độc nhất tôi đã khóc nhiều, đó là một lần độc nhất tôi đã khóc thổn thức trong tám năm ở Nha Trang – vì thương nhớ. Nhưng tâm hồn tôi rất bình an, vì tôi vâng lời Đức Thánh Cha.

Tiếp đến là gian khổ thử thách tại Sài Gòn, là bị bắt đưa trở lại Nha Trang, nơi mà tôi đã bị biệt giam khắc nghiệt nhất, không xa Tòa Giám mục của tôi. Sáng tối tôi nghe tiếng chuông nhà thờ chánh tòa như xé nát tim tôi. Đêm đến tôi nghe tiếng sóng biển vỗ cạnh buồng biệt giam.

Từ Nha Trang tôi bị đưa trở lại Sài Gòn, ở trại Thủ Đức, vùng Tam Hà, ngày đêm nghe không biết bao nhiêu tiếng chuông nhà thờ. Đêm 1-12-1975, cùng với 1.500 bạn tù đói, mệt, chán nản, còng tay hai người chung một khóa số 8, bước xuống gầm tàu ‘Hải Phòng’ đậu tại bến Tân Cảng gần cầu xa lộ, để chở ra trại cải tạo Vĩnh Quang, tỉnh Vĩnh Phú, trong thung lũng núi Tam Đảo, mùa đông 1976-77 rét 20C.

Đặc biệt nhất là nỗi gian khổ của 9 năm biệt giam một mình với hai người gác, không bạn bè, không có việc làm, tôi ở trong một sự trống rỗng tuyệt đối, đến mức có thể điên đi được. Tôi đi lại suốt ngày trong buồng giam, để vận động cơ thể kẻo nằm luôn thì tôi sẽ chết vì thấp khớp, viêm phổi.

Nhiều lúc một mình, tôi bị đau khổ giày vò, tại sao đang lúc mình 48 tuổi, trưởng thành và khỏe mạnh, sau tám năm Giám mục tôi đã có nhiều kinh nghiệm mục vụ, lại phải vào phòng biệt giam, xa giáo phận những 1.700 km?

Một đêm thanh vắng, một tiếng từ đáy lòng nhắc nhở tôi: “Tại sao con quẫn trí, hoang mang như thế làm gì? Con phải biết phân biệt giữa Chúa và công việc của Chúa. Những gì con đã làm và tiếp tục làm như kinh lý giáo phận, huấn luyện nam nữ tu sĩ, giáo dân, thanh niên, kiến thiết thánh đường, cư xá sinh viên, mở mang các thí điểm truyền giáo, v.v.. tất cả những công tác ấy đều là những việc tốt lành, là việc của Chúa, nhưng không phải là Chúa! Nếu Chúa muốn con trao tất cả các việc ấy trong tay Ngài, con hãy làm ngay, và hãy tin tưởng vào Ngài. Chúa có thể làm tốt hơn con muôn nghìn lần. Ngài có thể trao việc của Ngài cho những người tài đức hơn con. Hãy chọn một mình Chúa thôi, chọn thánh ý Ngài, chứ đừng chọn việc của Chúa!”.

Tôi luôn luôn học tập làm theo ý Chúa. Nhưng ánh sáng này mang lại cho tôi một sinh lực mới, thay đổi tận gốc lối suy nghĩ của tôi, giúp tôi vượt qua những bước gian truân mà hầu như cơ thể không chịu đựng nổi. Từ đây tôi cảm thấy trong lòng tôi ‘một sự bình an mà thế gian không cho được’.

Theo tính tự nhiên, những lúc chương trình đang thực hiện tốt đẹp phải bỏ dở, hoạt động đang hăng say phải bó tay, nhiệm vụ đang quan trọng phải hạ tầng công tác! Uất ức và chán nản! Tôi tự hỏi: Chúa gọi con ‘Hãy theo Thầy’ hay ‘Hãy theo việc nọ, người kia?’ Để đó, Chúa sẽ liệu, Ngài sẽ giải quyết tốt hơn con là cái chắc…

Trong lúc bị giam cầm tù tội thế này, câu nói chủ đạo của ngài vẫn là: “Tôi phải chọn Chúa chứ không phải việc của Chúa: Chính Chúa muốn cho tôi ở đây, chứ không phải nơi khác”.

Và ngài đã cầu nguyện: Trước bàn thờ, bên Mình Thánh Chúa, con nghe Chúa Giêsu bảo con: “Con hãy theo Chúa, chứ không phải theo việc của Chúa!”. “Nếu Chúa muốn, con hãy trao việc Chúa lại trong tay Chúa, Chúa sử dụng ai tiếp tục, mặc ý Chúa. Có Chúa lo, mà Chúa lo thì muôn vạn lần hơn con lo. Con hãy chọn một mình Chúa”. [1]

Như vậy, ta thấy chọn Chúa là việc ưu tiên số một, nó quan trọng hơn gấp ngàn lần khi ta chọn lựa công việc của Chúa. Tất nhiên, chọn Chúa không hề là một việc dễ dàng chút nào. Bởi vì, khi chọn Chúa, chúng ta phải hy sinh cái “Tôi”, phải chịu từ bỏ ý riêng để chu toàn thánh ý Chúa, phải vâng lời Chúa hơn là nghe theo người phàm. Trong khi đó, kinh nghiệm cho thấy khi say mê làm những công việc của Chúa, chúng ta thường đem cái “Tôi” vào trong đó để đánh bóng, tô son những việc chúng ta làm. Và như thế chúng ta đã dần dần loại Chúa ra khỏi những gì mà chúng ta tưởng rằng mình làm vì Chúa, cho Chúa.

Do đó, trong đời sống đạo của mình, chúng ta nên thường xuyên đặt câu hỏi cho mình: “Tôi đã và đang chọn Chúa hay chọn việc của Chúa?”.

I. NHƯ THẾ NÀO LÀ CHỌN CHÚA?

Câu chuyện hai chị em gia đình Bêtania đón tiếp Đức Giêsu đến thăm đã được thánh sử Luca phác họa một cách ngắn ngủi nhưng sinh động và ẩn chứa nhiều ý nghĩa đặc biệt (x. Lc 10, 38-42).

Điều khiến cho chúng ta vừa thắc mắc vừa kinh ngạc khi khám phá ra sự khác biệt về thái độ và tâm trạng của hai chị em Mácta và Maria trong cùng một sự kiện, đó là việc đón tiếp Chúa ở nhà mình. Cũng với lòng yêu mến Chúa như nhau, nhưng Mác-ta thì tất bật lo việc phục vụ bên ngoài, trong khi Maria thì cứ ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Ngài dạy. Còn Chúa thì Ngài phản ứng thế nào? Chắc chắn Chúa cũng thương mến cả hai chị em như nhau, nhưng Ngài đã nghiêng về sự lựa chọn của Maria, “Mácta! Mácta ơi! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi” (Lc 10, 41-42).  

Chỉ có một chuyện cần thiết và Maria đã chọn phần tốt nhất”. Đó là lời khẳng định dứt khoát của Chúa và lời ấy đã vén mở cho ta về cách sống đạo đẹp lòng Chúa nhất. Khác hẳn với Mácta, Maria đã coi việc ngồi bên chân Chúa, nghe lời Ngài dạy là chuyện cần thiết và ưu tiên hơn là lăng xăng lo phục vụ cơm nước bên ngoài. Maria cũng không phải là người vô cảm, vô trách nhiệm nhưng cô đã nghe theo tiếng nói của trái tim, của lòng mến, của niềm tin để chọn phần tốt nhất. 

Có thể nói, Maria trong câu chuyện này của Luca đã trở thành hình mẫu người Kitô hữu đẹp lòng Chúa hơn cả. Bởi vì, “Để làm môn đệ Chúa Giêsu, điều quan trọng trước hết và trên hết phải là sự gắn bó với chính Thầy Giêsu, cho nên phải dành thời gian để lắng nghe Người (Lc 10, 39), gặp gỡ Người. Nếu không, ta sẽ dễ rơi vào mối nguy hiểm là lao vào đủ thứ công việc được gọi là yêu thương và phục vụ, nhưng thật ra chỉ làm theo ý mình chứ không phải ý Chúa, chỉ đi tìm bản thân mình chứ không kiếm tìm lợi ích thật sự cho người khác”. [2]

Vậy khi chọn Chúa, chúng ta tập trung hoàn toàn vào Chúa, lấy Chúa làm trung tâm đời mình, luôn đặt mình trước mặt Chúa để cầu nguyện và lắng nghe Chúa nói, nhất là kiên trung vâng phục thánh ý Chúa trong mọi sự.

1. Lấy Chúa làm trung tâm đời mình

Một khi người Kitô hữu chọn Chúa làm trung tâm đời mình thì họ sẽ trao phó tất cả cho Chúa và không lo lắng gì cả nữa. Nếu họ phải làm những công việc của Chúa, dù đó là việc cao cả trọng đại đi chăng nữa, thì họ vẫn bình an và phó thác vì họ làm theo ý Chúa chứ không theo ý mình.

Đúng như lời chia sẻ của Đức cố Hồng y P.X. Nguyễn Văn Thuận, như sau: “Tôi luôn luôn học tập làm theo ý Chúa. Nhưng ánh sáng này mang lại cho tôi một sinh lực mới, thay đổi tận gốc lối suy nghĩ của tôi, giúp tôi vượt qua những bước gian truân mà hầu như cơ thể không chịu đựng nổi. Từ đây tôi cảm thấy trong lòng tôi ‘một sự bình an mà thế gian không cho được’ ”. [2]

Khi chúng ta chọn Chúa, thì Chúa sẽ ra tay làm chủ vận mệnh, con người và cuộc sống của ta. Chúng ta sẽ không còn phải quan tâm tới thành công, thất bại hay kết quả sẽ như thế nào nữa. Khi chọn Chúa, chúng ta sẽ được liên kết mật thiết với Chúa, như cành liên kết với cây, nhờ đó cành có sự sống và sự sống sẽ sinh nhiều hoa trái theo ý muốn của Chúa. Bởi xét cho cùng, không có Chúa, chúng ta không làm được gì.

Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15, 5).

2. Cầu nguyện và lắng nghe Chúa nói

Việc chúng ta siêng năng cầu nguyện chứng tỏ rằng chúng ta đã quan tâm tới việc chọn Chúa như là Đấng hướng dẫn và làm chủ đời mình. Cầu nguyện cũng là cơ hội để chúng ta nghe Chúa nói. Do đó, việc cầu nguyện chân thành và khiêm tốn sẽ là bảo chứng chúng ta yêu mến Chúa, tin tưởng Chúa và hoàn toàn thuộc về Chúa. Lúc đó, dù chúng ta được Chúa giao phó làm bất kỳ việc gì, thì cũng là làm nhân danh Chúa, vì Chúa và cho Chúa.

Thực vậy, “Cầu nguyện là hiệp thông. Trong Tân Ước, cầu nguyện là sự hiệp thông của con cái với Thiên Chúa Ba Ngôi. Sống đời cầu nguyện là luôn hiện diện trước nhan Thiên Chúa và hiệp thông với Ngài. Lời cầu nguyện mang đặc tính Kitô giáo khi được hiệp thông với lời cầu nguyện của Đức Kitô, và được triển khai trong Hội thánh là Nhiệm Thể Người. Nâng tâm hồn lên là nâng sự hiểu biết từ việc đặt mình làm trọng tâm đến mức đặt Thiên Chúa làm trọng tâm. Nâng tâm hồn lên là kết hợp với Thiên Chúa, là hiệp thông với Ngài”. [3]

Các thánh là những người có một đời sống luôn kết hiệp với Chúa vì đã chọn Chúa làm cơ nghiệp đời mình, nên các ngài rất yêu quý sự cầu nguyện hơn bất cứ việc gì khác. Bởi vì đối với các ngài, cầu nguyện là một đời sống đích thực. Cầu nguyện bao trùm, ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống các ngài. Nó chính là sự sống và hơi thở vậy. Đức Cố Hồng y P.X. Nguyễn Văn Thuận đã viết như sau: “Bí quyết nuôi dưỡng đời sống Kitô hữu là cầu nguyện. Ai không cầu nguyện, dù có làm phép lạ, con cũng đừng tin” (Sách Đường Hy Vọng, đề mục Cầu Nguyện). Thánh Anphongsô cũng đã nói như sau: “Sự giàu có của ta là cầu nguyện và ngày nào không cầu nguyện là ngày vất bỏ. Bỏ cầu nguyện là tự dìm mình vào hoả ngục”.

Như vậy những ai chọn Chúa thì sẽ yêu mến việc cầu nguyện bởi vì qua cầu nguyện họ được gặp Chúa và được Chúa yêu thương và chỉ bảo.  

3. Vâng phục ý Chúa

Một trong những dấu hiệu nữa chứng tỏ chúng ta chọn Chúa, đó là sẵn sàng vâng phục ý Chúa trong mọi sự. Xin nhắc lại lời của Đức cố Hồng y P.X. Nguyễn Văn Thuận: “Hãy chọn một mình Chúa thôi, chọn thánh ý Ngài, chứ đừng chọn việc của Chúa!”.

Chọn Chúa luôn bao hàm chọn lựa và vâng phục thánh ý Ngài. Cha Charles de Foucauld đã phổ biến lời kinh rất hay có tựa đề “Kinh Phó Thác”, như sau:

Lạy Cha/ con phó mặc con cho Cha/ xin dùng con tùy sở thích Cha/ Cha dùng con làm chi, con cũng xin cám ơn./ Con luôn luôn sẵn sàng, con đón nhận tất cả./ Miễn là ý Cha thực hiện nơi con và nơi mọi loài Cha tạo dựng/ thì lạy Cha/ con không muốn chi khác nữa./ Con trao linh hồn con về tay Cha./ Con dâng linh hồn con cho Cha,/ lạy Chúa Trời của con/ với tất cả tình yêu của lòng con./ Vì con yêu mến Cha,/ vì lòng yêu mến thúc đẩy con phó dâng mình cho Cha/ thúc đẩy con trao trọn bản thân về tay Cha/ không so đo/ với một lòng tin cậy vô biên./ Vì Cha là Cha của con”. 

II. NHỮNG NGUY CƠ KHI CHỌN VIỆC CỦA CHÚA HƠN CHỌN CHÚA

Nhiều Kitô hữu rất hăng say làm việc của Chúa, của Hội Thánh, của cộng đoàn, nhưng lại lơ là trong đời sống đức tin. Đối với họ, việc của Chúa hấp dẫn hơn là chính Chúa. Do đó, họ có thể hy sinh tất cả, kể cả mạng sống, để làm thật nhiều việc của Chúa. Đó là căn bệnh mà bất kỳ người Kitô hữu nào cũng có thể mắc phải. Căn bệnh này có nguy cơ làm cho chúng ta xa Chúa, quên Chúa, lấy mình làm trung tâm thay vì quy hướng về Chúa, sa đà vào tình trạng phô trương, chiến thắng…

1. Nguy cơ quên Chúa và lấy mình làm trung tâm

Quên Chúa, xa Chúa là tình trạng khá phổ biến trong đời sống đạo của chúng ta. Khi say mê làm việc của Chúa, chúng ta dễ dàng để cho những việc của Chúa lấn chiếm hết thời gian dành cho Chúa và khó tập trung vào những bổn phận thờ phượng như cầu nguyện, lãnh nhận các bí tích, viếng Thánh Thể, suy gẫm… Đức Thánh Cha Phanxicô cũng đã nhắc nhở thế này: “Chúng ta hãy luôn hiệp nhất với Chúa Giêsu, chúng ta hãy tín thác nơi Người, chúng ta hãy định hướng đời mình theo Tin Mừng, nuôi dưỡng mình bằng cầu nguyện hàng ngày, bằng lắng nghe Lời Chúa và tham dự các Bí Tích”.

Một điều đáng lo ngại nhất, đó là chúng ta dễ dàng quên Chúa, bỏ Chúa ngay khi chúng ta thi hành bổn phận thờ phượng Thiên Chúa.

Linh mục Giuse Thân Văn Tường trong bài “Thờ phượng” tập “Đối diện với Thiên Chúa” đã viết như sau:

Thờ phượng là sự kính mến của một người đối với nguồn gốc của mình.

Là tạo vật, con người bao giờ cũng cảm nhận thấy mình bất tất, phải có nguồn gốc ngoài mình, nên tâm tình thờ phượng là xu hướng tự nhiên của họ. Sau khi loài người phạm tội, họ có thể thờ phượng mọi sự: Một người, một tạo vật trong thiên nhiên, một lý thuyết, một ảo tưởng… cái gì cũng có thể biến nên ngẫu tượng để họ tôn thờ.

Một là người ta tôn thờ Thiên Chúa, hai là người ta tôn thờ chính bản thân mình. Khi tôn thờ Thiên Chúa, người ta không cần phải che đậy. Nhưng khi tôn thờ chính mình, người ta biết mình làm điều sai quấy, nên phải che đậy dưới đủ thứ chiêu bài, kể cả chiêu bài tôn giáo.

Pharisêu có nghĩa là thờ mình dưới chiêu bài tôn giáo. Người Pharisêu làm mọi việc đạo đức, như hãm mình, đánh tội, bố thí, cầu kinh không phải để tôn vinh Thiên Chúa, nhưng để có lợi cho bản thân.

Thay vì phụng sự Thiên Chúa, thường con người muốn Thiên Chúa phụng sự bản thân họ. Người ta hy sinh vì nhu cầu, vì dục vọng, ít ai hy sinh vì Thiên Chúa. Nhưng nhiều lúc, khi hy sinh vì nhu cầu, dục vọng, người ta cũng nghĩ mình hy sinh vì Thiên Chúa.

Người ta quên Thiên Chúa trong nghệ thuật, chính trị, kinh tế… thì còn hiểu được, người ta quên Người ngay trong tôn giáo mới chính là điều quái gở”.[4]

2. Thích phô trương và ham mê chiến thắng, thành công

Đức cố Hồng y P.X. Nguyễn Văn Thuận đã nhắc đến bệnh phô trương chiến thắng của người Công giáo, như sau: 

Làm gì cũng chỉ nhắm chuyện phô trương là chính. Bệnh này tiếng Pháp gọi là ‘triomphalisme’, người Mỹ cũng có từ ngữ ‘show up’.

Thỉnh thoảng đây đó đọc trên những bản tin sinh hoạt cộng đoàn thật nức lòng: Đại lễ tổ chức vô cùng thành công, cuộc rước kéo dài cả nửa cây số, nhiều chục cha đồng tế, bữa tiệc kết thúc thật linh đình, bà con vô cùng hoan hỉ, chưa có bao giờ và có ai tổ chức được lớn như thế… Nhưng hết tiệc ra về rồi là hết. Đại lễ hôm qua hôm nay thành quá khứ xa lơ. Cảm xúc hôm qua hôm nay gọi mãi chẳng thấy về! Hãy từ bỏ chứng bệnh phô trương, vì cái chiều sâu thực sự ít ai quan tâm. Ta bảo sáng danh Chúa, nhưng xét cho kỹ Chúa mấy phần trăm, ta mấy phần trăm?


Có những điều không cần phải phô trương. Nhưng nó sẽ từ từ thấm vào lòng người, người ta sẽ hiểu. Người ta hiểu, nhưng đồng thời người ta cũng có tự ái. Càng huyênh hoang, càng làm cho người ta ghét. Mà thành công đâu phải do mình tài giỏi gì. Nhưng mọi chuyện là nhờ ơn Chúa. Như vậy mình càng không có lý do gì để phô trương. Lúc đang huyênh hoang thì chính là lúc nguy hiểm nhất, tai hại nhất, vì đó là lúc mình mất cảnh giác. Khi nào thấy sau một cuộc lễ, có nhiều người ăn năn trở lại, cộng đoàn hiệp nhất hơn, sốt sắng hơn, đó là dấu thành công thực sự”./. [5]

Aug. Trần Cao Khải

_________________

[1] 5 Chiếc Bánh Và 2 Con Cá, https://vntaiwan.catholic.org.tw

[2] Đức Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Khảm, “Đường về Emmaus, học Thánh Kinh trong 100 tuần”, NXB.TG trang 561.

[3] x. “Cầu nguyện là gì?”, nguồn http://www.giaoly.org

[4] Linh mục Giuse Thân Văn Tường, Gp Long Xuyên, bài Thờ Phượng, tập Đối diện với Thiên Chúa, trang 35-36

[5] Mười căn bệnh làm băng hoại người Công giáo, http://conggiao.info


Giaophanvinh.net
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Sự ra đời của mỗi một con người luôn mang đến niềm vui và hạnh phúc cho mỗi gia đình và toàn nhân loại. Hơn thế, sự hiện diện của một con người mới trên cõi đời như là dấu chỉ của hy vọng cho thế gian. Qua tình yêu, người cha và người mẹ đã cộng tác với Thiên Chúa trong công việc sáng tạo và vun đắp cho sự sống của con người. Mỗi người con sinh ra sẽ là những tia hy vọng cho cả Giáo hội và xã hội, vì qua những mảnh đời nhỏ bé ấy, tình yêu và bình an của Thiên Chúa được trao ban đến cho thế giới.
Ở lứa tuổi thanh niên, hầu hết ai trong chúng ta cũng gặp khủng hoảng về căn tính. Khi trí não phát triển đến một mức độ nhất định, con người thường đặt các câu hỏi liên quan tới căn tính của mình. Tôi là ai? Tôi sống để làm gì? Và tại sao con người phải chết?… Nói một cách khác, đây là lứa tuổi đi tìm ý nghĩa cuộc sống và nhiệm vụ cần phải giải quyết là nhận ra „vị trí của mình” trong thế giới này. Nét đẹp của tuổi thanh niên là sống có lý tưởng. Nhưng căn tính nơi người trẻ ở giai đoạn này chưa thực sự rõ ràng, cho nên các bạn có xu hướng đi tìm cho mình những hình mẫu nơi người nổi tiếng: như ca sĩ, diễn viên, cầu thủ bóng đá…. Có thể hiểu, các bạn trẻ thích chọn cho mình những thần tượng để diễn tả khao khát của mình.
Chào thầy! Thầy có thể giới thiệu về bản thân một chút với quý độc giả? Chào quý độc giả. Tôi là tu sĩ thuộc Dòng Mẹ Chúa Cứu Chuộc (trước đây gọi là dòng Đồng Công). Thầy thấy dịch bệnh lần hai tại Việt Nam lúc này như thế nào? Điều này chắc rất nhiều người biết rõ hơn tôi nếu thường xuyên theo dõi các phương tiện truyền thông. Số ca lây nhiễm đang ngày một gia tăng, nhiều người, nhiều khu vực đang phải cách ly, nhiều phương án đang được chính phủ đưa ra để phòng ngừa…. Điều ấy cho thấy tình hình dịch bệnh tại Việt Nam đang diễn biến phức tạp, khó lường.
Các đan sĩ có những bí mật đáng để chúng ta biết, và các bí mật này có thể vô giá trong thời đại dịch coronavirus buộc hàng triệu người trong chúng ta phải sống như đan tu. Vì Covid-19, hàng triệu người buộc phải ở nhà, làm việc ở nhà, giãn cách xã hội với mọi người trừ người trong nhà và có tiếp xúc xã hội tối thiểu với bên ngoài. Một cách nào đó, dù muốn dù không, điều này đã làm nhiều người trong chúng ta thành tu sĩ. Đâu là bí mật để phát triển mạnh điểm này?
Trong bài huấn dụ ngắn trước khi đọc Kinh Truyền Tin hôm Chúa Nhật 12/07, Đức Thánh Cha giải thích dụ ngôn người gieo giống trong bài Tin Mừng Chúa Nhật thứ XV mùa Thường Niên và mời gọi các tín hữu hãy biến tâm hồn mình thành mảnh đất tốt để hạt giống Lời Chúa đã được gieo vãi trong tâm hồn chúng ta lớn lên và sinh hoa trái cho chúng ta và cho tha nhân. Hồng Thủy - Vatican News Vào lúc 12 giờ trưa Chúa Nhật 12/07, như thường lệ, từ cửa sổ Dinh Tông Tòa, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chủ sự buổi đọc Kinh Truyền Tin với các tín hữu hiện diện tại quảng trường thánh Phê-rô. Dù trưa mùa hè ở Roma thật nóng, với ánh mặt trời chói chang và nóng đến trên 33 độ, và trong thời gian đề phòng virus corona, nhưng cũngcó vài trăm tín hữu tham dự buổi đọc kinh với Đức Thánh Cha. Trong bài huấn dụ, Đức Thánh Cha nói:
“Phúc cho đầy tớ nào chủ gặp thấy còn tỉnh thức khi chủ trở về” (Lc 12,37). Đâu đâu trên thế giới người ta cũng đi tìm tình yêu, vì ai cũng tin rằng chỉ có tình yêu mới cứu được thế giới, chỉ có tình yêu mới làm cho cuộc đời có ý nghĩa và đáng sống. Nhưng rất ít người hiểu được tình yêu thực sự là gì và làm thế nào tình yêu nảy sinh trong tâm hồn con người. Tình yêu thường được đồng hoá với những tình cảm tốt đẹp của ta đối với người khác, hoặc là sự nhân hậu, không bạo động hay sẵn sàng phục vụ. Tuy nhiên, tất cả những tình cảm này tự chúng không phải là tình yêu.
Chúng ta được mời gọi nên thánh. “Hãy nên thánh, vì Ta là thánh” (Lv 11,44; 1Pr 1,16). Đó là đích nhắm và là thách đố cho mỗi người. Đích nhắm vì “anh em hãy nên hoàn thiện.” (Mt 5,43–48), vì nơi đó có bình an, hạnh phúc. Thách đố vì nên thánh là đi ngược lại với những mời gọi của thế trần, nơi đó luôn có nhiều hấp dẫn gọi mời. Mỗi người đều có con đường nên thánh rất riêng, tùy theo bậc sống và môi trường người ấy dấn thân. Chút chia sẻ dưới đây cho chúng ta thấy giáo dân có một con đường nên thánh rất đặc thù.
Thân phận con người là hữu hạn: “Hữu sinh, hữu tử”. Nghĩa là có sinh ắt phải có tử; nhưng ngày sinh thì biết, ngày tử thì không. Chết ở đâu, khi nào và chết bằng cách nào chúng ta không hề hay biết, chỉ biết rằng sinh ra trong cõi đời này, sống trong cõi tạm này và ngày nào đó ta sẽ phải buông bỏ tất cả để chấm dứt cuộc đời chóng qua này. Như thế, đời người được ví như một chuyến đi, một hành trình có khởi đầu và kết thúc như một “cuộc chơi” mà không ai thoát khỏi. ‘Sinh, lão, bệnh, tử’ đã trở thành quy luật của một đời người và là định mệnh của con người. Quan niệm ấy không chỉ đúng với Phật giáo nhưng còn đúng với nhiều người. Với Kitô giáo thì bệnh tật và tội lỗi là do con người. Bởi, hệ lụy này chính là sự đổ vỡ tương quan giữa Nguyên tổ với Thiên Chúa khi ông bà bất tuân lệnh Chúa truyền và họ phải chuốc lấy khổ đau, bệnh tật và sự chết (x. St 2, 7-8; 3, 1-7).
Do đại dịch, từ Chúa nhật 08/3, buổi đọc Kinh Truyền Tin của Đức Thánh Cha với các tín hữu và du khách hành hương không diễn ra tại cửa sổ Dinh Tông tòa như thường lệ, nhưng được chuyển vào Thư viện cũng của Dinh Tông tòa. Và hôm Chúa Nhật 31/5, Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, Đức Thánh Cha đã xuất hiện tại cửa sổ để đọc Kinh Lạy Nữ Vương với các tín hữu. Cũng như mọi lần, trước khi đọc kinh, Đức Thánh Cha có bài huấn dụ ngắn.
Trước khi Chúa Giêsu rời bỏ các môn đệ, Người nói với họ rằng: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em. Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống” (Ga 14,18-19). Cách nào đó Chúa Giêsu đã đề cập đến “Đấng Bảo Trợ”, hay Chúa Thánh Thần, Đấng mà Người sẽ ban cho các Tông đồ trong ngày lễ Ngũ tuần. Chúa Giêsu cũng nói đến cách hiện diện khác mà Ngài đã hứa sẽ “ở cùng chúng ta”.
Bảo Trợ