Những giai thoại có một không hai về vị Lưỡng quốc Trạng Nguyên thông minh nhất lịch sử nước Nam

02 Tháng Bảy 202012:00 CH(Xem: 271)
Những giai thoại có một không hai về vị Lưỡng quốc Trạng Nguyên thông minh nhất lịch sử nước Nam

Sinh thời Đĩnh Chi là người thông minh tuyệt đỉnh, nhưng diện mạo lại rất xấu xí. Vì sự xấu xí đó mà suýt chút nữa con đường quan lộ của ông bị hủy hoại. Tuy vậy cũng nhờ thế mà trên thi đàn văn học Việt Nam có thêm một bài phú vô cùng đặc sắc và hậu thế cũng được biết thêm nhiều giai thoại thú vị về ông...

Theo “Lịch triều hiến chương loại chí”, Mạc Đĩnh Chi là người làng Lũng Động, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Đông (nay là tỉnh Hải Dương). Năm 1304, đời vua Trần Anh Tông niên hiệu Hưng Long thứ 12, Mạc Đĩnh Chi thi đỗ trạng nguyên.

Một bài phú cứu nguy cho cả con đường quan lộ

Truyện kể rằng sau khi đỗ Trạng nguyên, Mạc Đĩnh Chi có vào yết kiến triều đình, tuy nhiên Hoàng đế Trần Anh Tông thấy dung mạo ông xấu xí quá, nên không muốn trọng dụng. Để thể hiện phẩm đức và chí hướng của mình, Mạc Đĩnh Chi bèn khảng khái cảm tác bài phú “Ngọc tỉnh liên” (Hoa sen trong giếng ngọc) mà dâng lên Hoàng thượng.

Vì hoa sen vốn có tiết tháo thanh cao, không loài hoa nào sánh được, tuy gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn; vả lại sen này còn được trồng trong giếng ngọc nữa thì lại càng cao quý biết bao. Đĩnh Chi coi mình giống như sen, dù có phải ở vào hoàn cảnh ô trọc thế nào thì cũng vẫn giữ khí tiết thanh cao, huống chi lại ở vào một thời thế tốt đẹp, nếu vua là đấng thánh minh thì những người như ông càng thêm cao quý và được trọng vọng biết mấy. Sen quý nhưng phải có người sành thì mới biết thưởng thức.

Đĩnh Chi coi mình giống như sen, dù có phải ở vào hoàn cảnh ô trọc thế nào thì cũng vẫn giữ khí tiết thanh cao
Đĩnh Chi coi mình giống như sen, dù có phải ở vào hoàn cảnh ô trọc thế nào thì cũng vẫn giữ khí tiết thanh cao. (Ảnh: Pexels)

Dưới đây là bài phú “Ngọc tỉnh liên” – Hoa sen trong giếng ngọc, dịch ra văn Nôm:

“Đương khi lửa hạ, khách cao trai thư thả, lời dòng nước biếc, vịnh khúc phù dung; đến bến ao trong, ngâm câu nhạc phủ. Bỗng bóng ai, áo trắng mũ vàng, phất phơ điệu cốt xương tiên, hớn hở tinh thần khác tục. Khách hỏi: từ đâu mà lại? Thưa rằng: từ núi Hoa San. Khách kéo ghế mời ngồi vồn vã, này dưa ngon quả quý bày ra. Chuyện gần thôi lại chuyện xa, nói cười lơi lả, tiệc hoa tơi bời.

Chuyện xong, mới hỏi khách rằng: khách đây quân tử ái liên chăng là? Tiện đây sẵn có giống nhà, vẫn từng gìn giữ nâng niu hoa vàng. Nọ đào lý bỉ thô còn kém, kể trúc mai đơn lạnh còn xa; nào phải giống tăng phòng câu kỷ, nào phải phường lạc thổ mẫu đơn, cũng chẳng phải đông ly đào cúc, mà cũng không cửu uyển linh lan; chính là một giống sen thần, đầu non núi Họa giếng vàng sinh ra.. 

Khách nghe nói: khen thay quý lạ! Phải chăng giống hoa cao mười trượng, ngó cong như thuyền, lạnh giá như băng, ngọt ngon tựa mật, xưa từng nghe tiếng, nay được thực trông. Nghe qua đạo sĩ vui lòng, hoa trong tay áo giữ liền tặng đưa. Khách trông thấy trong lòng hồi hộp, bút ngũ lăng tay thảo nên ca. Ca rằng:

Thủy tinh làm mái cung đình,
Lưu ly lạc để nên hình cung môn,
Pha lê nát nhỏ làm bùn,
Minh châu làm nóc trên cành tưới cây.
Hương thơm bay thấu từng mây,
Bích thiên âu cũng mê say tấc lòng.
Quế xanh khóc vụng tủi thầm,
Tố Nga luống những mười phần giận thân.
Cỏ dao hái chốn Phương tân,
Sông Tương trông ngóng mỹ nhân dãi dầu.
Giữa dòng lơ lửng vì đâu?
Non sông đất cũ cớ sao chẳng về?
Đành nơi lưu lạc quản gì,
Thuyền quyên lỡ bước lắm bề gian truân.
Một lòng trung chính nghĩa nhân.
Lo chi mưa gió, phong trần, tuyết sương!
Chỉn e lạt phấn phai hương,
Tháng ngày thấm thoắt, mỹ nhân ai hoài...

Nghe xong, đạo sĩ than rằng: nói chi ai oán thiết tha! Kìa chẳng xem đóa tử vi nở trên ao phượng, hoa thược dược mọc trước bệ vàng, cũng là địa vị thanh cao, thanh danh hiển hách, ơn trên thánh chúa, mưa móc dồi dào. Vội chi tủi phận hờn duyên, nước non lẩn thẩn toan bề đi đâu? Khách nghe nói như tình như cảm, đem lòng riêng kính mộ xiết bao. Khúc trai đình tay tiên đề vịnh, thơ phong đầu giọng ngọc ngâm nga. Nỗi lòng xin giải gần xa, kính dâng một phú hải hà xét xoi”.

Bài phú của Mạc Đĩnh Chi vừa được đọc lên xong, Vua Trần Anh Tông đã vỗ đùi, hết lời khen ngợi, sau đó lập tức phong cho Mạc Đĩnh Chi danh vị “Thái học sinh dũng thủ”, lại sung cho ông thêm chức: “Nội thư gia”. Đến thời vua Trần Minh Tông, Mạc Đĩnh Chi càng được triều đình tin dùng và hậu đãi.

Vua Trần Anh Tông đã vỗ đùi, hết lời khen ngợi, sau đó lập tức phong cho Mạc Đĩnh Chi danh vị “Thái học sinh dũng thủ”
Vua Trần Anh Tông đã vỗ đùi, hết lời khen ngợi, sau đó lập tức phong cho Mạc Đĩnh Chi danh vị “Thái học sinh dũng thủ”. (Ảnh: Wikipedia)

Mang chuông đi đánh xứ người...

"Đại Việt Sử ký Toàn thư ghi": Năm 1308, Sứ thần nhà Nguyên là Thượng thư An Lỗ Khôi sang báo tin Vũ Tông lên ngôi. Vua Trần bèn sai Mạc Đĩnh Chi sang Nguyên triều kiến và chúc mừng. Thời điểm ấy, việc Mạc Đĩnh Chi sang Nguyên được dự báo là “đầy nguy hiểm”, bởi người phương Bắc vẫn chưa quên nỗi đau thất bại trong ba cuộc xâm lược trước đây.

Mạc Đĩnh Chi sang Nguyên ban đầu rất bị khinh thường vì vẻ ngoài thấp bé, xấu xí. Ở buổi tiếp kiến đầu tiên tại kinh đô Yên Kinh, vua Nguyên ra câu đối thử tài Mạc Đĩnh Chi:

“Nhật hỏa vân yên, bạch đán thiêu tàn ngọc thố”

Tạm dịch là:

“Mặt trời là lửa, mây là khói, ban ngày thiêu cháy mặt trăng”.

Ý nói nhà Nguyên lớn mạnh, luôn dễ dàng tiêu diệt các tiểu quốc như Đại Việt.

Mạc Đĩnh Chi liền ứng đối lại:

“Nguyệt cung tinh đạn, hoàng hôn xạ lạc kim ô”.

Tạm dịch là:

“Mặt trăng là cung, sao là đạn, hoàng hôn bắn rụng mặt trời”.

Ý nói rằng nước nhỏ cũng có thể đánh bại quân đội nước lớn khi thời cơ đến.

Vua Nguyên nghe xong tức lắm, nhưng cũng phải khen Mạc Đĩnh Chi đối hay, đối chuẩn.

Một hôm khác, viên Tể tướng nhà Nguyên mời ông vào phủ dự tiệc trà. Lúc ấy đương hồi tháng 5, tháng 6. Trong phủ có bức trướng mỏng thêu hình con chim sẻ vàng đậu trên cành trúc. Đĩnh Chi giả vờ ngỡ đây là con chim sẻ thực, vội chạy đến xem.

Người Nguyên cười ồ, cho là người phương xa thô lậu. Thấy vậy, Đĩnh Chi kéo bức trướng xuống xé đi. Mọi người đều lấy làm lạ hỏi tại sao.

Đĩnh Chi trả lời:

“Tôi nghe người xưa vẽ cành mai và chim sẻ, chứ chưa thấy vẽ chim sẻ đậu cành trúc bao giờ. Nay trong bức trướng của Tể tướng lại thêu cành trúc với chim sẻ. Trúc là bậc quân tử, chim sẻ là kẻ tiểu nhân. Tể tướng thêu như vậy là để tiểu nhân trên quân tử, sợ rằng đạo của tiểu nhân sẽ mạnh, đạo của quân tử sẽ suy. Tôi vì thánh triều mà trừ giúp bọn tiểu nhân vậy”. Nghe xong, mọi người đều hết lòng phục tài Đĩnh Chi và không ai còn dám cười ông nữa.

 Tượng thờ Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi tại chùa Dâu, Bắc Ninh.
Tượng thờ Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi tại chùa Dâu, Bắc Ninh. (Ảnh: Wikipedia)

Trở thành Lưỡng quốc Trạng Nguyên nhờ tinh ý, lẹ mắt

Thời gian Mạc Đĩnh Chi đi sứ, trong một buổi chầu có người nước ngoài dâng hai cây quạt quý lên tặng vua Nguyên. Nhân có cả sứ thần Cao Ly ở đó, vua Nguyên bèn mời Mạc Đĩnh Chi và sứ thần Cao Ly cùng làm thơ vịnh đề lên quạt.

Lúc này Mạc Đĩnh Chi rất bất ngờ, do không chuẩn bị trước nên có phần “bí” ý. Ông quay sang bên sứ thần Cao Ly, nhìn vào thế bút viết của sứ thần nước bạn mà đoán được ra ông này đang viết:

“Uẩn long trùng trùng, Y Doãn, Chu Công;

Vũ tuyết thê thê, Bá Di, Thúc Tề”

Tạm dịch:

Nắng nôi oi ả người tựa Y Doãn, Chu Công (Y Doãn một tướng giỏi đời nhà Thương, Chu Công, một người hiền ở đời nhà Chu).

Rét mướt căm căm ngươi là Bá Di, Thúc Tề (Bá Di, Thúc Tề: hai người con của vua Trụ, Vũ Vương diệt nhà Ân lập nhà Chu. Hai anh em ở ẩn trên núi, cuối cùng chết đói).

Mạc Đĩnh Chi có ý tưởng rồi, bèn lập tức viết:

“Lưu Kim thước thạch thiên địa vi lô, nhĩ ư tư thời hề Y Chu cự nho;

Bắc phong kỳ thê vũ tuyết tái đồ, nhĩ ư tư thời hề Di Tề ngã phu;

Y, dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng, duy ngã dữ nhĩ hữu thi phù”.

Tạm dịch là:

“Chảy vàng tan đá, trời đất như lò, ngươi bấy giờ là Y Chu đại nho;

Gió bấc căm căm, mưa tuyết mịt mù, ngươi bấy giờ là Di Tề đói xo;

Ôi, được dùng thì làm, bỏ thì nằm co, chỉ ta cùng ngươi như thế ru!”

Xét về ý tứ, bài vịnh của Mạc Đĩnh Chi cũng có ý tương tự bài vịnh của sứ Cao Ly nhưng lại “đắt” hơn ở việc trích dẫn được một câu trong sách Luận ngữ, có nghĩa: “Ai dùng ta thì ta làm, ai không dùng ta thì ta để đó. Điều ấy chỉ người với ta mới có được thôi”.

Cảm phục trước văn tài của Mạc Đĩnh Chi, vua Nguyên bèn phê lên chiếc quạt mà Đĩnh Chi vừa đề thơ vịnh bốn chữ: “Lưỡng quốc Trạng Nguyên”, rồi ban tặng cho ông.

Vua Nguyên bèn phê lên chiếc quạt mà Đĩnh Chi vừa đề thơ vịnh bốn chữ: “Lưỡng quốc Trạng Nguyên”, rồi ban tặng cho ông.
Vua Nguyên bèn phê lên chiếc quạt mà Đĩnh Chi vừa đề thơ vịnh bốn chữ: “Lưỡng quốc Trạng Nguyên”, rồi ban tặng cho ông. (Ảnh: Pinterest)

Mạc Đĩnh Chi: một tấm gương thanh liêm chính trực; từng làm rể trên đất Cao Ly

Sách "Đại Việt Sử ký Toàn thư" có ghi lại: Đĩnh Chi là người liêm khiết, sống rất đạm bạc. Vua rất hiểu ông, sai người ban đêm đem 10 quan tiền bỏ vào nhà ông. Hôm sau, Đĩnh Chi vào chầu, tâu vua hay chuyện đó. Vua bảo:

“Không ai đến nhận, cho khanh lấy mà tiêu”.

Thời vua Hiến Tông, Mạc Đĩnh Chi làm quan đến chức “Nhập nội hành khiển Hữu ty lang trung”, rồi sau lại được thăng lên chức “Tả ty lang trung”. Trong thời gian ở Yên Kinh – nước Nguyên, ông có kết thân với sứ thần Cao Ly. Mến mộ tài năng của Mạc Đĩnh Chi, vị sứ thần này mời ông sang Cao Ly chơi và gả người cháu gái xinh đẹp của mình cho ông.

Người thiếp này có sinh hạ một con gái, một con trai với Mạc Đĩnh Chi. Sau này hậu duệ của Mạc Đĩnh Chi ở lại Cao Ly và lập ra một dòng tộc tại đó. Trong tờ "An Nam tạp chí", số 4 năm 1926 từng đăng bài của học giả Lê Khắc Hòe với tiêu đề: “Người Triều Tiên đi bán sâm là hậu duệ của Mạc Đĩnh Chi”.

Hậu duệ xưng đế, lời tiên tri ứng nghiệm...

Tương truyền sau khi Mạc Đĩnh Chi ứng đối với hình ảnh: “bắn rụng mặt trời” trước bá quan văn võ nhà Nguyên trong lần tiếp kiến đầu tiên tại kinh đô Yên Kinh, có người đã tiên đoán:

“Hậu duệ của người này sau ắt sẽ tự lập làm vua”.

Quả đúng như vậy, sau này cháu bảy đời của Mạc Đĩnh Chi là Mạc Đăng Dung đã lật đổ vua Lê để lập ra nhà Mạc. Trong “Đại Việt Sử ký Toàn thư” có viết:

“Đăng Dung là người xã Cao Đôi, huyện Bình Hà (tức là xã Long Động, huyện Chí Linh), tiên tổ Đăng Dung là Mạc Đĩnh Chi, Trạng nguyên triều Trần, làm quan đến chức Tả bộc xạ.

Đĩnh Chi sinh ra Cao, Cao sinh ra Thúy, Thúy sinh ra Tung, dời sang ở xã Lan Khê, huyện Thanh Hà rồi sinh ra Bình, Bình lại dời sang xã Cổ Trai, huyện Nghi Dương rồi trú tại đó. Bình sinh ra Hịch, Hịch lấy con gái trưởng của Đặng Xuân người cùng xã, sinh được ba con trai, con trưởng là Đăng Dung”.

Sau khi lên ngôi, Mạc Đăng Dung truy tôn Mạc Đĩnh Chi là Kiến Thủy Khâm Ninh Văn Hoàng Đế. Nhà Mạc tồn tại trong 150 năm, trải qua 4 đời vua.

Sau khi lên ngôi, Mạc Đăng Dung truy tôn Mạc Đĩnh Chi là Kiến Thủy Khâm Ninh Văn Hoàng Đế.
Sau khi lên ngôi, Mạc Đăng Dung truy tôn Mạc Đĩnh Chi là Kiến Thủy Khâm Ninh Văn Hoàng Đế. (Ảnh: Wikimedia Commons)

Lời bàn:

Thói thường kẻ có tài mà không được trọng dụng thì dễ sinh ra bất mãn, Mạc Đĩnh Chi thân là đệ nhất Trạng Nguyên mà ngay trong buổi đầu vào yết kiến Quân vương đã bị triều đình tỏ ý không dùng rồi! Tuy vậy ông vẫn “dĩ lý phục nhân” – lấy đạo lý mà thu phục lòng người, lại khéo vận dụng trí huệ và lễ tiết để bày tỏ phẩm đức cao quý của mình trước vua Trần Anh Tông, đó chính là biểu hiện của bậc thượng sĩ: bao dung, lễ độ, khiêm nhường, nhất tâm thuần Thiện, ông quả như “sen trong giếng ngọc” vậy!

Đĩnh Chi đi sứ nào đâu có gặp thời, bởi trước đó Đại Việt từng: ba lần đánh tan quân Nguyên, thiết nghĩ chẳng cần bàn thêm cũng đủ nhận ra ông ta mang trên vai gánh nặng ngàn cân mà sinh mạng thì như đang treo trên sợi tóc! Vậy mà bao nhiêu lần triều thần nhà Nguyên thử thách là bấy nhiêu lần Mạc Đĩnh Chi từ tốn vượt qua.

Dân gian vẫn thường ví von: “Vàng thì thử lửa thử than, chuông hay thử tiếng, người ngoan thử lời” Đĩnh Chi kia khác nào kẻ “Mang chuông đi đánh xứ người”, mấy chuyện kiểu như: “vàng thử lửa, chuông thử tiếng, người thử lời” ấy, ông đều kinh qua cả mà chẳng chút bận lòng, không những thế, tài đại sứ bang giao của Mạc Đĩnh Chi còn để lại giai thoại và tiếng thơm cho muôn đời sau, đây chính là biểu hiện của bậc đại trí, đại Nhẫn.

Đền Mạc Đĩnh Chi.
Đền Mạc Đĩnh Chi. (Ảnh: Wikipedia)

Đĩnh Chi làm quan lớn chỉ xếp sau hàng Tể tướng, Công hầu mà vẫn một đời thanh liêm đạm bạc, thấy vàng rơi trước cửa nhà mình còn tới bẩm tấu đức Quân vương thì nào đâu có cái chuyện lợi dụng chức quyền mà mưu đoạt của dân, tham ô tham nhũng. Than ôi, hay cho câu: “Khôn ngoan chẳng lọ thật thà”! Hỏi ai khôn ngoan như Mạc Đĩnh Chi? Hỏi ai thật thà như Mạc Đĩnh Chi? ông chính là gương sáng thuần Chân vậy.

Ôn chuyện cũ, ngẫm thời mới: Nếu những đấng quản dân ai ai cũng được vài phần như Mạc Đĩnh Chi thì lo gì giang sơn không cường thịnh, xã tắc chẳng vững bền, các nước lân bang cũng bội phần vị nể. Có hay không vậy?

Đường Phong

- Tài liệu tham khảo: "Đại Việt Sử ký Toàn thư"; Wikipedia và một số tư liệu lịch sử khác...

Theo NTD Viet Nam
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Hoàn toàn vô ích khi hy vọng rằng cách mạng có thể cải tạo bản chất con người, tuy nhiên đó là điều mà cuộc cách mạng của quý vị, và đặc biệt cuộc cách mạng Nga của chúng tôi đã hy vọng rất nhiều. Cách mạng Pháp khai màn dưới lá cờ của khẩu hiệu mà tự mâu thuẫn và bất khả thi, “tự do, bình đẳng, bác ái”. Nhưng trong cuộc sống xã hội, tự do và bình đẳng là những khái niệm không dung hòa nhau, thậm chí còn chống đối nhau. Tự do tiêu diệt bình đẳng xã hội vì đó là bản chất của tự do. Còn bình đẳng cản trở tự do-vì nếu không như thế không thể nào có bình đẳng
Đền thờ thần núi Đồng Cổ (Yên Định - Thanh Hoá). Ảnh tư liệu HTC LÀM GÌ CÓ “THẦN TRỐNG ĐỒNG”? Hoàng Tuấn Công Sách “Di tích núi và đền Đồng Cổ” (Lê Ngọc Tạo - Nguyễn Ngọc Khiếu” - NXB Thanh Hoá - 2016) là kết quả đề tài khoa học “Sưu tầm, khảo sát và phục dựng nghi lễ của Đền Đồng Cổ”, của Ban Nghiên cứu và Biên soạn Lịch sử Thanh Hoá, do Tiến sĩ Lê Ngọc Tạo chủ trì, cử nhân Nguyễn Ngọc Khiếu thực hiện (sau đây gọi tắt là Nhóm Lê Ngọc Tạo). Sách báo viết về đền Đồng Cổ thì nhiều, nhưng có lẽ “Di tích núi và đền Đồng Cổ” là công trình chuyên khảo công phu nhất từ trước đến nay về ngôi đền này. Sách có hai phần: “I. Núi Đồng Cổ-Tam Thai và vùng thắng tích Đan Nê”, công bố kết quả sưu tầm trên thực địa và khai quật khảo cổ học; phần “II. Đền Đồng Cổ-Di tích và lễ hội”, công bố thần tích, tư liệu, trải qua các thời kỳ Trần - Hồ (1225 – 1407); Hậu Lê (1428 - 1788)
Lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam là một bản trường ca về các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Từ thế hệ này đến thế hệ khác, người Việt Nam luôn nêu cao tinh thần bất khuất và bảo vệ bằng mọi giá chủ quyền lãnh thổ thiêng thiêng./ Lê Phước | RFI - post 09 Tháng Mười Một 2012 (Xem: 2226)/
Người ta hay nói mỹ thuật Việt Nam nghèo nàn; mỹ thuật miền Nam trong thời kỳ 1954-75 lại càng nghèo nàn hơn nữa; trong mỹ thuật miền Nam, bộ phận mỹ thuật Công giáo thì gần như không có gì đáng kể. Với những nhà nghiên cứu có công tâm, những nhận định vừa nêu hoàn toàn sai. Nhưng tuy sai, chúng lại có cơ sở từ hiện thực. /post 13 Tháng Sáu 2012 (Xem: 3298) Nguyên Hưng - TgpSaigonnet/
Phần đông người Việt nói chung, cư dân Nam bộ nói riêng làm nông nghiệp. Chính vì vậy mà con cá có một vị trí khá đặc biệt trong đời sống người Nam bộ. Con cá trong đời sống vật chất thường nhật được nhìn nhận trong ca dao./post 31 Tháng Mười Hai 2012 (Xem: 1951) - Nguon http://e-cadao.com Ts. TRẦN VĂN NAM /
Sinh hoạt hò đối đáp nam nữ ở Bình Trị Thiên được thể hiện trong lao động tập thể, trong các hình thức giải trí vui chơi, và ngay trong các ngày hội lễ, mặc dù tính chất trang nghiêm, nhưng không vì thế mà hò đối đáp không được sử dụng. /TÔN THẤT BÌNH - TapchisongHuong - post 26 Tháng Sáu 2012 (Xem: 2966)/
Cần xóa bỏ quan niệm cho rằng Tết Đoan Ngọ của Việt Nam có nguồn gốc từ Tết Đoan Ngọ của Tàu. . Ngày mồng 5 tháng 5 âm lịch là ngày Tết Đoan Ngọ - còn được gọi bằng nhiều tên khác nhau như Đoan Dương, Trùng Ngũ, Tết giết sâu bọ, Tết giữa năm, Tết mồng năm … Đây là một trong những ngày Tết truyền thống tại một số nước châu Á như Việt Nam, Triều Tiên, Trung Quốc. Tuy nhiên nguồn gốc, ý nghĩa thực của ngày tết này không phải ai cũng rõ . Theo phong tục cổ truyền Việt Nam, tết Đoan Ngọ mồng 5 tháng 5 là một trong những ngày lễ tưởng nhớ tới tổ tiên do đó trong số các vật phẩm dâng cúng không thể thiếu bánh tổ (tổ tiên) và nhiều loại bánh trái khác làm bằng các thứ gạo nếp. Đặc biệt, đây còn là ngày lễ thiêng liêng trong tâm thức người Việt Nam, đó là ngày giỗ Quốc mẫu Âu Cơ.
Israel nhận ra phép màu xã hội chủ nghĩa hóa ra là một ảo ảnh, Ấn Độ đã loại bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa và chọn dân chủ tư bản, và Bà đầm thép Thatcher của Vương quốc Anh kết luận “vấn đề với chủ nghĩa xã hội là cuối cùng bạn đã tiêu hết tiền của người khác”
Mọi ngôn ngữ đều có những câu nói ngắn gọn nhưng chứa đựng những nhận xét sắc bén và cảnh giác khôn ngoan về kinh nghiệm sống. Tên của những câu nói ngắn gọn đó là tục ngữ trong tiếng Việt, súyu (俗語) trong tiếng Tàu, proverb trong tiếng Anh, proverbe trong tiếng Pháp, dicho trong tiếng Tây ban nha, proverbio trong tiếng Ý, và Sprichwort trong tiếng Đức. Với khả năng tóm gọn ý tứ, tô điểm cho lời văn thêm mặn mà, và chứng minh lý lẽ một cách hùng hồn, tục ngữ đóng một vai trò đáng kể trong ngôn ngữ thường nhật. VỀ HÌNH THỨC CẤU TẠO
Đầu năm 1905 Phan Bội Châu rời Việt Nam đi Hong Kong, Quảng Châu, rồi Thượng Hải và từ đó lên tàu sang Nhật. Tại đây, Phan tiên sinh gặp Lương Khải Siêu, nhà trí thức có tư tưởng cải cách của Trung Quốc, đang lưu vong ở Nhật. Hai người trò chuyện bằng bút đàm nhưng rất tâm đầu ý hợp. TRẦN VĂN THỌ - Tuoitre.vn
Bảo Trợ