Con đường nên thánh dành cho giáo dân

17 Tháng Sáu 20209:49 CH(Xem: 752)

Chúng ta được mời gọi nên thánh. “Hãy nên thánh, vì Ta là thánh” (Lv 11,44; 1Pr 1,16). Đó là đích nhắm và là thách đố cho mỗi người. Đích nhắm vì “anh em hãy nên hoàn thiện.” (Mt 5,43–48), vì nơi đó có bình an, hạnh phúc. Thách đố vì nên thánh là đi ngược lại với những mời gọi của thế trần, nơi đó luôn có nhiều hấp dẫn gọi mời. Mỗi người đều có con đường nên thánh rất riêng, tùy theo bậc sống và môi trường người ấy dấn thân. Chút chia sẻ dưới đây cho chúng ta thấy giáo dân có một con đường nên thánh rất đặc thù.
blank

1. Linh đạo giáo dân

Thời Cựu Ước cho tới trước Công đồng Vaticano II (1962–1965), phải thừa nhận rằng vai trò của giáo dân không mấy quan trọng. Các tài liệu nêu thành phần giáo dân như: dân của Thiên Chúa, cộng đoàn dân Chúa, anh chị em trong Đức Kitô, v.v. Giáo dân thời đó không có nhiều ảnh hưởng trong Giáo Hội. Tuy nhiên Công đồng Vatican II mở ra một viễn cảnh mới cho giáo dân: linh đạo cho mỗi người giáo dân nên thánh.

Linh đạo là con đường thiêng liêng để đưa con người đến với Thiên Chúa. Điều này dễ hiểu hơn nơi linh đạo của mỗi dòng. Trong khi đó, linh đạo giáo dân là cụm từ khá mới. Tuy vậy, dù linh đạo nào cũng phải khởi đi từ chính Đức Giêsu. Đó là con đường Tin mừng và vị hướng dẫn tối cao là Thiên Chúa, là Chúa Thánh Thần. Nếu những ai được Thiên Chúa thúc đẩy sống theo Tin Mừng, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể để nên thánh, thì người ấy đang đi trên linh đạo đặc thù theo bậc sống của mình.

Dĩ nhiên giáo dân không phải là giáo sĩ hoặc tu sĩ. Nói cách khác, “danh hiệu giáo dân (laity) được hiểu là tất cả những Kitô hữu không có chức thánh hoặc bậc tu trì được Giáo Hội công nhận.” (x. LG. số 31). Họ là tín hữu sống giữa đời và môi trường đặc trưng của giáo dân là trần thế. Theo đó, Công đồng Vatican II mời gọi giáo dân: “tìm kiếm nước Thiên Chúa bằng cách quản trị các sự việc trần thế và xếp đặt chúng theo thánh ý Thiên Chúa một cách đặc biệt”.[1]

Cụ thể hơn, Đức Piô XII nhắn nhủ cho những người lãnh đạo Giáo Hội ý thức hơn về vai trò của giáo dân:

“Các tín hữu, hay chính xác hơn, người giáo dân, có mặt ở hàng ngũ tiên phong trong đời sống Giáo hội; nhờ họ, Giáo Hội trở thành nguyên lý sống động cho xã hội nhân loại. Chính vì thế, họ là những người trước hết phải có một ý thức luôn luôn sáng suốt rằng không những mình thuộc về Giáo Hội, mà còn là chính Giáo Hội, tức là cộng đoàn tín hữu trên trần gian, dưới sự lãnh đạo của một vị thủ lãnh chung, là đức giáo hoàng, và các vị giám mục hiệp thông với ngài. Người giáo dân là Giáo Hội.”[2]

2. Giáo dân nên thánh

Nên thánh không độc quyền dành cho những người thánh hiến hoặc thông thái. Đó là ơn gọi phổ quát dành cho mọi người. Dù ở hoàn cảnh và bậc sống nào, người ta cũng có thể nên thánh. Hoặc nói như Mẹ Têrêsa Calcuta: “Thánh thiện, đó không phải là món hàng xa xỉ chỉ dành cho một số người. Nó dành cho bạn, cho tôi và cho tất cả chúng ta. Nó là một bổn phận giản dị, vì nếu chúng ta biết yêu thương, chúng ta biết cách nên thánh thiện.”

Tôi có nhiều dịp gặp những giáo dân thật tốt lành. Họ không chỉ có chuyên môn trong nghề nghiệp, mà đời sống thiêng liêng của họ cũng thật sốt sáng. Nơi họ, nhiều người nhìn thấy Thiên Chúa sống động để làm cho thế giới tốt đẹp hơn. Có khi họ ý thức hoặc chẳng để ý đến linh đạo giáo dân, nhưng họ đã sống trọn con đường nên thánh này.

Dĩ nhiên ai cũng thấy giáo dân là những người sống giữa trần thế. Họ không sống cách ly hoặc ẩn tu như nhiều dòng tu. Họ cũng không có chức thánh như các linh mục, hay giám mục. Họ phải bước vào đời với từng nghề nghiệp, cũng như công việc trần thế khác nhau. Trong môi trường thông thường của cuộc sống gia đình và xã hội, tất cả những điều đó như thể dệt thành cuộc sống của họ. Đó là mảnh đất giúp họ nên thánh, hoặc ít ra, để nên muối đất, và ánh sáng cho những người xung quanh. Nên thánh vì trong khung cảnh đó, họ đã được Thiên Chúa mời gọi để nhờ việc chu toàn những bổn phận riêng của mình và được tinh thần Tin Mừng hướng dẫn, họ trở nên như muối men góp phần vào việc thánh hóa thế giới từ bên trong. Không thiếu những giáo dân giúp cho nhiều người nhận biết Đức Kitô, đặc biệt bằng chứng từ đời sống tỏa sáng đức tin, cậy, mến[3].

Từ những mời gọi trên đây, chúng ta thấy linh đạo Giáo dân đã thúc đẩy giáo dân trong mọi lãnh vực. Một mặt giáo dân đi vào con đường thiêng liêng cá vị hơn với Thiên Chúa. Nơi đó, họ cũng có kinh nghiệm về Thiên Chúa. Họ sống tinh thần người con Chúa nơi gia đình, trường học, công sở, v.v. Chính đời sống gương mẫu, làm chứng cho Tin Mừng nâng cao vai trò của giáo dân hơn. Họ cũng được mời gọi tham gia nhiều hơn vào các hoạt động của giáo họ, giáo xứ, giáo phận và Giáo Hội hoàn vũ. Nơi đó, họ “được trao ban nhiều phương tiện cứu độ dồi dào và cao quý để mỗi người một cách, vươn tới sự thánh thiện trọn lành như chính Chúa Cha là Đấng trọn lành.”[4]

Xin đừng ngần ngại nên thánh! Nhất là giáo dân, mỗi người cũng được Thiên Chúa ban cho nhiều ơn để làm chứng cho Ngài. Nếu lật lại những trang sử hào hùng của các thánh tử Đạo Việt Nam, nơi đó biết bao giáo dân đã làm chứng cho Đức Kitô bằng giá máu. Dĩ nhiên thời chúng ta không cần đổ máu đào, nhưng cần “tử đạo trắng”, nghĩa là:

“Chúng ta được mời gọi nên thánh bằng cách sống đời mình với tình yêu và bằng cách làm chứng trong mọi việc mình làm, ở bất cứ nơi nào mình sống. Bạn được mời gọi sống đời thánh hiến ư? Hãy nên thánh bằng cách sống sự dấn thân ấy cách thật vui tươi. Bạn đã kết hôn ư? Hãy nên thánh bằng cách yêu thương và chăm sóc cho chồng hay vợ mình, như Đức Kitô chăm sóc cho Hội thánh. Bạn phải làm việc để kiếm sống ư? Hãy nên thánh bằng cách làm việc thật tận tụy và chu đáo để phục vụ anh chị em mình. Bạn là cha mẹ hoặc ông bà ư? Hãy nên thánh bằng cách kiên nhẫn dạy dỗ con cháu biết theo Chúa Giêsu. Bạn đang ở một địa vị có quyền lực ư? Hãy nên thánh bằng cách quên lợi riêng để phục vụ ích chung.”[5]

3. Giúp nhau nên thánh

Phải thừa nhận rằng tinh thần thế gian thường thắng thế trong việc cám dỗ người ta từ bỏ con đường nên thánh. Thời đại này cũng thế. Cứ nhìn vào xã hội xung quanh, thế giới đang phủ nhận Thiên Chúa. Họ tự xây dựng thiên đường bằng con đường kinh tế, tự do, mua sắm, thành quả khoa học công nghệ, đời sống hiện đại, v.v. “Sẽ là quê mùa nếu sống con đường nên thánh lỗi thời.”– Ma quỷ nói thế.  Đó là cám dỗ rất thật cho người tín hữu.

Trước lời gọi mãnh liệt của thế gian, một mặt chúng ta tín thác và xin ơn Chúa. Mặt khác chúng ta đừng ngần ngại giúp nhau nên thánh. Người ta không thể nên thánh một mình. “Chúng ta cùng nhau nên thánh. Việc nên thánh là một chuyến đi với cộng đồng, cùng bước bên nhau. Không thể nên thánh một mình và Thiên Chúa cũng không cứu rỗi ai một mình.”[6]

Do đó, các nhóm trong giáo xứ, những nhóm bạn sinh viên, học sinh hay công nhân, hãy để Thiên Chúa liên kết mỗi người. Người thánh thiện không có tinh thần chia rẽ, phá đám. Ngược lại, hãy vui với người vui, khóc với người khóc. Ma quỷ sẽ sợ những nhóm tín hữu liên kết với nhau trong Đức Kitô. Chúng muốn kéo từng người ra khỏi nhóm, để đối thoại đến chỗ từ bỏ tinh thần nên thánh. Ước gì mỗi người không chỉ hứng khởi với con đường nên thánh rất gần gũi nơi giáo dân, mà còn hạnh phúc khi bên mình còn nhiều người thánh thiện.

  Khi đó, mỗi giáo dân dù sống trong gia đình, văn hóa, xã hội có nhiều đổ vỡ, nhưng không mất hy vọng nên thánh. Dù còn vất vả lao động, làm ăn kinh tế hoặc tham gia chính trị, khoa học, kỹ thuật, xin đừng quên mình có linh đạo giáo dân để biến cuộc sống của mình nên nơi dành cho Thiên Chúa. Khi ấy cuộc sống sẽ khác, thay đổi nhiều lắm!

Tạm kết

Hy vọng với chút gợi ý trên đây, mỗi giáo dân cũng tìm lại con đường tuyệt vời Giáo Hội đang mời gọi mình. Đừng ngần ngại dấn thân. Chúng ta còn nhớ năm 2000, trong dịp Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới lần thứ 15 tại Rôma, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã khuyến khích các bạn trẻ: “Các con đừng sợ nên thánh!”

Ước sao những chủ chăn của Giáo Hội cũng chào đón mỗi thành phần dân Chúa tham gia vào các hoạt động của Giáo Hội. Đồng lòng, hiệp nhất sẽ làm cho đời sống nhóm nhỏ, giáo xứ, giáo phận và Giáo Hội phong phú hơn nhiều. Vì nơi đó, có những vợ chồng, người trẻ và thiếu nhi đang ước ao nên thánh trong bộn phận cụ thể của mình.

Đừng quên cầu xin ơn nên thánh, đặc biệt trong đời sống gia đình.

Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

…………………………………………………………………………………

[1] Phan Tấn Thành, Đời sống Tâm linh, tập III, Rôma 2003, tr. 378.

[2] Trích theo Lm. Phanxicô Xaviê Nguyễn Hữu Tấn, tr. 251.

[3] Đọc thêm: Hiến chế Tin Lý về Hội Thánh, Lumen Gentium, số 31.

[4] Lumen Gentium, số 11.

[5] Tông huấn Gaudete et Exsultate – Vui mừng và hân hoan, số 14.

[6] Tông Huấn Vui mừng và hân hoan, 6.

Theo Dongten,net
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Chúa Nhật 24 tháng Giêng, Giáo Hội cử hành Chúa Nhật thứ Ba mùa Quanh Năm với chủ đề “Anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm”. Tin Mừng theo Thánh Máccô thuật lại cho chúng ta biết hoàn cảnh Chúa kêu gọi các tông đồ đầu tiên như sau: Sau khi Gioan bị bắt, Chúa Giêsu sang xứ Galilêa, rao giảng Tin Mừng nước Thiên Chúa, Người nói: “Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm”. Đang lúc đi dọc theo bờ biển Galilêa, Người thấy Simon và em là Anrê đang thả lưới xuống biển, vì các ông là những người đánh cá. Chúa Giêsu bảo các ông: “Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những kẻ chài lưới người”. Lập tức các ông bỏ lưới theo Người.
Ba Vua là ba khuôn mặt không thể thiếu vắng trong mùa Giáng Sinh. Nhắc đến Giáng Sinh là nhắc đến mục đồng thôn Bêlem và Ba Vua. Nhưng người Kitô hữu nói chung rất mù mờ về thân thế của Ba Vua. Nếu đặt câu hỏi, “Ba Vua tên gì?” nhiều tín hữu sẽ lúng túng và ngập ngừng trước câu hỏi vừa được nêu. I. Ba Vua Trong văn bản tiếng “phổ thông Hy Lạp,” theo như thánh sử Mátthêu, khi “Đức Giêsu sinh ra tại Bêlem, xứ Giuđê, trong đời vua Hêrôđê, mágòi (μάγoi) từ phương Đông tìm đến Giêrusalem. Các ông hỏi, — Vua người Do Thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhìn thấy ngôi sao của Người ở phương Đông, và chúng tôi đến để triều bái Người” (Mátthêu 2:1). Trong tiếng cổ Hy Lạp mágòi (μάγoi) không có nghĩa là vua. Mágòi là danh từ số nhiều của mágọs (μάγos), một danh từ giống đực. Mágói, theo như Raymond Brown, là một thuật ngữ bao gồm nhiều nghĩa: chiêm tinh gia, giải mộng gia, phù thủy (pháp sư), và thầy tư tế của tôn giáo vùng Trung Đông.
Thiên Chúa đã phái các thiên thần đến báo cho những người chăn cừu biết một Đấng Cứu Thế đã được sinh ra: “Thiên thần Chúa bỗng hiện đến bên họ và vinh quang Chúa rạng ngời bao quanh họ, làm họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng thiên thần nói với họ: “Đừng sợ! Này ta đem tin mừng cho các ngươi về một niềm vui to tát, tức là niềm vui cho toàn dân: là hôm nay, đã sinh ra cho các ngươi vì Cứu Chúa, tức là Đức Kitô Chúa, trong thành của Đavit” (Lc 2,9-11). Hôm nay Ngài báo tin cho chúng ta Giáng sinh đã được một thế giới vô thần tục hóa đến nỗi ngày càng nhiều người cùng thời với chúng ta đã quên đi nguồn gốc của nó. Chắc chắn, khung cảnh Chúa giáng sinh cho họ một ý tưởng chung, nhưng họ không biết rằng trẻ nhỏ nằm trong máng cỏ đơn sơ này đã đến để mang lại cho họ tình yêu và niềm vui mà họ tìm kiếm trong vô vọng.
Lễ Giáng Sinh luôn rất lạ. Lạ đủ thứ. Lạ từ nội tại tới ngoại tại. Giáng Sinh tại Việt Nam chỉ se lạnh một chút, chẳng thấm gì so với cái lạnh của Hài Nhi Giêsu năm xưa, nhưng cũng là lời nhắc để chúng ta nhớ tới cái lạnh của những phận người cơ nhỡ, những kẻ cô đơn, nghèo khó, thiếu thốn những thứ cơ bản nhất,… Việt ngữ thật chí lý khi nói là giá lạnh hoặc lạnh giá, cái “giá” này mới “đáng giá,” chứ cái “lạnh” chưa thấm thía chi đâu. Điều đáng quan tâm là cái lạnh ngoại tại gợi nhớ tới cái lạnh tâm hồn, cái lạnh linh hồn, cái lạnh tâm linh. Cái lạnh này khủng khiếp, cái lạnh giá băng. Có nhiều kiểu lạnh.
Chuyện kể rằng: Có một người đàn bà giàu có đang hấp hối trên giường bệnh. Trong tờ chúc thư để lại, bà kể tên của tất cả mọi người thân thuộc và xa gần sẽ hưởng gia tài của bà. Tuyệt nhiên, bà không hề đá động đến cô gái nghèo và trung thành hầu hạ bà từng giây từng phút. Quà tặng duy nhất mà bà tặng cho cô đó là một thánh giá được bọc thạch cao. Cô gái nhận lấy món quà nhưng lòng cô đầy cay đắng buồn phiền. Cô tự nghĩ: mình đã trung thành phục vụ, hầu hạ sớm hôm để rồi chỉ được món quà không ra gì. Không còn đủ bình tĩnh để nuốt lấy từng giọt cay đắng, cô đã kéo thập giá xuống khỏi tường và ném tung trên nền nhà. Cây thập giá vỡ tung và kìa, trước sự ngạc nhiên của cô, tất cả những mảnh vụn thoát ra khỏi lớp vỏ thạch cao đều là những viên kim cương óng ánh...
“Thì giờ hay đời sống là món quà quý Đức Chúa Trời ban cho mỗi người chúng ta. Đời sống quý vì nó đến từ chính Chúa là Đấng Tạo Hóa.” Đời sống thật mong manh và ngắn ngủi. Con người sống đó rồi chết đó cũng mấy hồi. Bởi vậy, con người quy về Thiên Chúa là cội nguồn của sự sống và hạnh phúc. Tiền bạc quan trọng nhưng không là tất cả. Quyền lực, thú vui rồi cũng chỉ là cát bụi mà thôi. Vì thế, một nhạc sĩ đã từng cảm nhận: “Làm con người trong cuộc đời được bấy nhiêu năm. Ai vốn giàu sang, ai vốn kiếp bần hàn, ai giãi dầu một nắng hai sương, mai lìa đời nhắm mắt xuôi tay. Đua đòi nhiều chỉ khổ thêm thôi”. /post 19 Tháng Tám 2012(Xem: 7000) Tâm Thương - TgpSaigonnet/
Nếu vào một ngày nào đó tôi không còn sống nơi trần gian này nữa, thì những đứa trẻ vẫn lần lượt lớn lên, người thân người thương của tôi họ vẫn ăn, vẫn uống và làm việc theo lẽ sinh tồn, những ngôi nhà, con đường tôi quen thuộc bỗng chốc trở nên xa lạ, mặt trời vẫn giải nắng trên đồng cỏ xanh và cơn mưa vẫn tưới mát trên những thửa ruộng khô cằn… Không gian yên tĩnh ngày nào chẳng còn, khi người viếng, kẻ thăm, người khóc, kẻ cười,… tạo nên khung cảnh bi đát, chua xót và đau thương. Thân xác tôi vẫn nằm đó chẳng cử động hay nhúc nhích, chẳng thở than hay kêu gào mặc cho lũ ruồi muỗi đậu bay. Người ta thức cố thức tôi dậy sau giấc ngủ dài nhưng kết quả nhận được là sự thinh lặng chẳng một lời hồi âm phát ra. Tôi biết và tôi cố gồng mình ngồi dậy để an ủi những người thân đang ngồi than khóc, nhưng bàng hoàng chợt nhận ra tôi đã chết rồi!
Khi những chồi non đua nhau chởm nở, đó là lúc báo hiệu về một mùa xuân đang kéo đến. Khi những áng mây đen kéo về phía cuối trời, cũng là khi báo hiệu cơn mưa. Và khi những biến cố xảy ra trong đời là khi báo hiệu cho ta về dấu chỉ của lòng thương xót của Thiên Chúa. Thiên Chúa muôn đời là tình yêu. Ngài cảm thấu nỗi đau, nỗi mất mát của phận người. Những cảnh tượng xảy ra trong thời đại hôm nay mà ta chứng kiến, như thiên tai, đại dịch Covid 19, như một màu tím đang bao trùm toàn nhân loại. Trước những cảnh tượng đó, có ý kiến cho rằng đó là một cuộc đại thanh tẩy của Đấng Tạo Hóa, cũng có người cho rằng, nếu Thiên Chúa là Đấng toàn năng và tình yêu, tại sao Ngài lại để những thảm họa khủng khiếp ấy xảy ra? Phải chăng đó là một dấu chỉ mà Thiên Chúa gửi đến để cảnh tỉnh nhân loại này?
Diễn đàn Quốc tế vì Sự Sống đã phát động sáng kiến có tên “Một cây nến cho trẻ em không được chào đời” nhắm cổ võ một loạt các Thánh lễ, từ ngày 25/10 đến 2/11, với những ý chỉ đặc biệt, cầu nguyện cho các trẻ em không được chào đời. - Sáng kiến được nhiều thành phố ở Slovakia tham gia. Mục đích của sáng kiến là “hy vọng rằng người dân mở lòng và hộ trợ tài chính cho tất cả các phụ nữ chờ sinh con và cho các tổ chức giúp đỡ họ.” Sáng kiến cũng “cầu nguyện cho những cặp vợ chồng có ý định thực hành thụ tinh nhân tạo và cho những người trẻ để họ bảo vệ sự sống từ khi thụ thai đến khi chết tự nhiên.”
GNsP (04.03.2018) – Ngay từ khi tạo dựng nên con người, Thiên Chúa đã ban thiên chức là mẹ cho người phụ nữ, niềm yêu mến sâu xa dành cho người mẹ định cư trong đáy thâm sâu của trái tim con người khiến tất cả mọi hoạt động của loài người cách này cách khác đều bày tỏ lòng yêu mến và trân trọng dành cho người mẹ. Thánh Phanxico Assi đã cất cao lời ca tụng “Mẹ trái đất”, người Việt Nam gọi ba chữ “Mẹ tổ quốc” với tất cả lòng trìu mến yêu thương, Dòng Chúa Cứu Thế gọi “Mẹ nhà dòng” trong một bài thánh ca truyền thống.
Bảo Trợ