Thử tìm một định hướng cho Truyền thông Công giáo Việt Nam

28 Tháng Năm 202012:47 CH(Xem: 818)

Thử tìm một định hướng cho Truyền thông Công giáo Việt Nam

blank

Hướng về Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội (Lễ Chúa Thăng Thiên), Kitô hữu chúng ta được mời gọi tìm hiểu và suy tư về chủ đề này, hầu có thể sử dụng hợp lý phương tiện truyền thông theo tinh thần Tin Mừng. Bài viết này mang nặng tính ‘đặt móng’, với hy vọng chỉ ra một định hướng nền tảng, dưới nhãn quan Kitô giáo, cho truyền thông xã hội Việt Nam. Cụ thể, bài viết trình bày ba điểm chính: thứ nhất, lược lại bản chất và ý nghĩa truyền thông theo Kitô giáo; thứ hai, nhìn lại thực trạng truyền thông xã hội của Việt Nam hiện nay và những thách đố của nó; thứ ba, nghĩ về một định hướng căn bản để trả lời cho những thách đố đó qua việc suy gẫm về Mẹ Maria như một gương mẫu tuyệt vời của truyền thông theo tinh thần Tin Mừng.

Bản chất và ý nghĩa của truyền thông theo Kitô giáo

Đâu là bản chất và ý nghĩa của truyền thông (theo nghĩa chung nhất) từ nhãn quan Kitô giáo? Căn bản của truyền thông theo tinh thần Tin Mừng có nền tảng từ Mầu nhiệm Tình Yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Năng động của mối quan hệ giữa Ba Ngôi chính là sự trao ban, thông truyền và kết hiệp. Vì thế, như lời của Đức Thánh Cha Phanxicô, “tự bản chất, tình yêu là truyền thông; tình yêu dẫn đến mở ra và chia sẻ.”[1] Trong ý nghĩa đó, Mầu nhiệm Tình Yêu Ba Ngôi chính là điểm quy chiếu trong mọi khía cạnh bản chất của truyền thông: Ba Ngôi vừa là chủ thể truyền thông, vừa là Đấng truyền thông, vừa là nội dung truyền thông.

Từ nguồn mạch của Ba Ngôi, con người được tham dự vào ơn gọi truyền thông đó. Cách cụ thể, ơn gọi truyền thông của chúng ta chính là việc sống hai chiều kích cơ bản của con người: (1) mở ra, hay đi ra khỏi chính mình – ex-sistere; và (2) tương quan – tương quan với thọ tạo, với tha nhân, và với Thiên Chúa. Như thế, truyền thông không đơn thuần là một công việc hay một sứ mạng, mà là một ơn gọi sống triển nở cuộc đời theo bản chất con người. Từ ý nghĩa lý tưởng mang tính quy chiếu này của truyền thông, chúng ta thử cùng nhau xét duyệt lại một phạm vi nhỏ hơn: truyền thông xã hội, trong bối cảnh cụ thể của mình: xã hội Việt Nam.

Thực trạng và hệ quả của truyền thông xã hội Việt Nam hiện nay

Tất nhiên, đưa ra một bức tranh vừa tổng quát vừa chi tiết về thực trạng truyền thông của một quốc gia là một việc làm lớn và cần có những nghiên cứu căn cơ. Bản thân tôi không có chuyên môn về lãnh vực này, nên không có tham vọng làm việc đó, cũng như không dám khẳng định chắc chắn những nhận xét của mình. Tuy nhiên, dựa vào quan sát và kinhnghiệm bản thân, tôi mạo muội tổng hợp một số nét nổi bật của truyền thông xã hội tại Việt Nam hiện nay:

Trước hết, nếu xét theo tiêu chí số lượng, có thể nói truyền thông xã hội ở Việt Nam hiện tại đã ở mức khá phát triển. Về báo chí, tính đến ngày 30/11/2019, có 850 cơ quan báo chí, tạp chí được cấp phép hoạt động.[2] Hầu như tỉnh thành nào cũng có đài phát thanh và truyền hình. Quan trọng hơn, với đặc điểm dân số trẻ, tỉ lệ người Việt sử dụng Internet, nhất là mạng xã hội, đang thuộc loại cao của thế giới.

Nếu xét về ‘phổ’ của nội dung, truyền thông xã hội của Việt Nam cũng thuộc loại lớn: nó có đủ loại thông tin, từ ‘chính thống’, như văn hoá, tôn giáo, chính trị, khoa học, thiên nhiên, cho đến những thông tin ‘lá cải/giật gân’, như cướp giật, bói toán, đánh bạc, chuyện lạ,…

Về mặt định hướng, truyền thông xã hội ở Việt Nam hiện rơi vào hai thái cực: hoặc được/bị định hướng rất chặt theo một mục đích nhất định (như về mặt chính trị), hoặc hoàn toàn không có định hướng (như phần lớn thông tin trôi nổi trên mạng xã hội).

Về mục tiêu và phương hướng sử dụng của người dùng: rất đa dạng! Ở đây tôi chỉ xét về mạng xã hội: tìm kiếm thông tin bên ngoài vì không tin tưởng hoàn toàn vào thông tin ‘chính thống’ của nhà nước; kết bạn; nhu cầu thể hiện và muốn được thừa nhận về bản thân (đặc biệt qua hiện tượng ‘câu like/câu view’); giao dịch làm ăn (như bán hàng online); giải trí; dùng thông tin để lừa đảo; tò mò tìm hiểu về những thông tin ‘lạ, giật gân’, vv.

Thực trạng đó đưa đến hệ quả gồm hai viễn tượng:

Về mặt tích cực: Nếu được sử dụng hợp lý, rõ ràng truyền thông xã hội mang lại những ích lợi cụ thể theo mục tiêu của người sử dụng. Hơn nữa, sự phong phú của thế giới truyền thông ‘mở ra’ cho ta thấy một chân trời rộng lớn của cuộc sống, của thế giới: cuộc sống không chỉ bó hẹp trong công ăn việc làm, cũng không giới hạn trong những thông tin khoa học, mà còn bao nhiêu khía cạnh khác: tâm linh, văn hoá, tự nhiên, v.v.. Do đó, nếu được thực thi với một phương thức phù hợp, truyền thông xã hội hiện nay có thể mang đến một điều kiện tuyệt vời để giúp con người vượt qua não trạng hẹp hòi, duy khoa học kỹ thuật của thời đại: não trạng cho rằng chỉ có những thông tin mang tính khoa học kỹ thuật mới có giá trị đối với đời sống con người. Với não trạng này, đời sống bị đóng khung trong những ‘bức tường’ của các chỉ số toán học và định lượng khoa học do lý trí vạch ra, nên con người đánh mất khả năng mở ra với nhiều điều khác; đánh mất sự ngạc nhiên, sự nhạy bén trước bao nhiêu điều lớn lao khác: những gì thuộc ý thức về sự linh thánh, niềm hy vọng về đời sống siêu nhiên, v.v.. Vì thế, sự phong phú của nguồn lực truyền thông có thể giúp chúng ta nhận ra rằng: cuộc sống lớn lao hơn những gì bị khuôn ép trong cái khung hẹp hòi mà bấy lâu nay ta mặc định.

Về mặt tiêu cực: Thực trạng trên đã đem đến những điều tiêu cực trên thực tế. Thật vậy, tuy đã nói ở phía trên rằng mục tiêu và phương hướng sử dụng truyền thông xã hội ở Việt Nam rất đa dạng, nhưng phải nhấn mạnh rằng: tỉ lệ những người dùng truyền thông vào mục đích vô bổ, hoặc mục đích xấu, dường như cao hơn nhiều so với số người nhắm đến mục đích ích lợi chân chính. Ví dụ, theo thống kê trong nhiều năm của Google, Việt Nam có tỉ lệ người xem phim ‘đen’ cao nhất thế giới[3]; hay việc tràn lan tin giả, tin rác, hay bùng nổ tin dữ, dẫn đến vấn nạn ‘bội thực tin dữ’, khiến bao người bị khủng hoảng tinh thần, đánh mất niềm tin vào sự tốt lành thánh thiện. Ngoài ra, nhiều người rơi vào tình trạng sống ảo, ‘đóng khung’ chính mình trong thế giới mạng, nghĩa là đi ngược lại với bản chất đích thực của truyền thông: thay vì mở ra, họ lại tự ‘đóng’ mình lại.

Đâu là nguyên do của tình trạng tiêu cực trên? Có lẽ có nhiều yếu tố, nhưng theo tôi, nguyên do chính nằm ở sự ‘lệch khớp’ giữa phát triển bùng nổ thông tin và nền tảng văn hoá, giáo dục chưa tương xứng. Thật thế, nếu khiêm tốn và bình tâm, chúng ta phải thừa nhận rằng nền tảng ‘tâm – trí’ của nhiều người Việt ngày nay chưa tương hợp để giúp phân định trong việc sử dụng truyền thông.

Do đó, giải pháp cho những thách đố của truyền thông xã hội ở Việt Nam hệ ở việc phải tìm một định hướng căn bản giúp ta có khả năng phân định và có trách nhiệm với việc trao và nhận thông tin. Theo tinh thần Tin Mừng, thiết nghĩ ta có thể tìm thấy định hướng này từ gương Mẹ Maria.

Gương sống ơn gọi truyền thông của Đức Maria: Định hướng nền tảng của truyền thông xã hội

Trước hết, Mẹ Maria đã rất mẫu mực trong việc tiếp nhận thông tin. Khi được Thiên thần truyền tin, Mẹ đã đi vào cuộc đối thoại với Thiên Chúa (qua Thiên thần), để phân định và nhận ra kế hoạch lớn lao mà Thiên Chúa dành cho nhân loại qua Mẹ. Rồi nơi tiệc cưới Cana, Mẹ nhận ra ‘tín hiệu’ rằng chủ nhà đã hết rượu và đang rất lo lắng. Những ví dụ này đã cho thấy Mẹ Maria có một sự nhạy bén, tinh tế và khả năng phân định tuyệt vời. Khả năng đó chỉ ra rằng Mẹ có một nền tảng về tâm và trí thật lớn lao.

Nhưng làm sao mẹ có được nền tảng đó? Thưa, bằng việc lắng nghe người khác ở mức độ thấu cảm, bằng đời sống cầu nguyện, ‘suy đi nghĩ lại trong lòng’, và bằng tâm hồn yêu mến, khiêm cung tìm kiếm và tuân hành ý muốn Thiên Chúa.

Đức Maria cũng đồng thời là một gương mẫu trong việc truyền thông tin. Như được diễn tả trong các sách Tin Mừng, Mẹ rất cẩn trọng trong việc trao-truyền thông tin. Ngay cả khi được lãnh nhận Tin Mừng trọng đại nhất – rằng Thiên Chúa sẽ nhập thể nơi lòng Mẹ – Đức Maria cũng không ‘tài lanh’ – rao truyền ‘vô tội vạ’. Ngược lại, mẹ phân định để biết cần trao truyền thông tin gì, và cho ai, để mưu ích cho họ (trong trường hợp này là cho bà Elizabeth). Hơn nữa, điều cần đặc biệt nhấn mạnh ở đây: thông tin mà Mẹ trao truyền không chỉ đơn thuần là thông tin được nhận từ người này rồi chuyển sang người nọ, mà là thông tin đã được ‘cưu mang’, đã được ấp ủ, được nuôi dưỡng để trở thành Tin Mừng. Và Mẹ cũng không trao truyền thông tin theo kiểu ‘đem con bỏ chợ’; mà ngược lại, Mẹ đến gặp gỡ, chia sẻ và đỡ nâng người được nhận thông tin. Nói cách khác, Mẹ đã rao truyền thông tin bằng chính cả con người mình. Như vậy, với Mẹ Maria, truyền thông không phải chỉ là trao điều gì bên ngoài mình, mà là hiện diện, hiệp thông và trao ban điều Mẹ đã cưu mang, đã sống, và cả chính bản thân mình.

Làm sao Mẹ có được tinh thần trao truyền thông tin như thế? Thưa, vì tình yêu! Tình yêu Thiên Chúa và niềm vui Tin Mừng đã trào tràn nơi Mẹ; và tự bản chất, Tình Yêu đó thúc đẩy mẹ trao ban, thông truyền cho người khác, nhưng trao ban theo mục đích và phương thích thích hợp nhất. Rõ ràng, Mẹ Maria đã có một tiêu chuẩn phân định để có thể nhận biết thông tin nào là chân thật, hữu ích, cũng như cần trao truyền thông tin gì, cho ai, theo phương thế nào. Đó là tiêu chuẩn: cho vinh danh Thiên Chúa hơn, và mưu ích lợi cho con người lớn hơn.

Ước gì mỗi người Kitô hữu chúng ta biết noi gương Mẹ Maria để có sự khôn ngoan theo Tin Mừng, biết đào luyện lương tâm ngay thẳng, có tình yêu Thiên Chúa và tha nhân thật lớn lao, hầu sống sung mãn ơn gọi truyền thông của cuộc đời mình!

Khắc Bá, S.J.

[1] ĐTC Phanxicô, Sứ điệp Ngày Truyền thông Xã hội thứ 50. Xem tại: http://hdgmvietnam.org.
[2] https://www.hcmcpv.org.vn
[3] http://www.doisongphapluat.com.

Giaophanvinh.net


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Phong trào mệnh danh là “Sứ điệp từ trời” đã xuất hiện từ tháng 11 năm 2010 tại Châu Âu, và cho đến nay đã được quảng bá hầu như rộng khắp trên toàn thế giới. Chắc hẳn nhiều người trong chúng ta đã nghe nói hoặc đã từng đọc qua các “Sứ điệp từ trời”. Điều đó ít nhất cũng cho thấy tầm ảnh hưởng và tính chất thu hút của phong trào mới này./20 Tháng Năm 2015(Xem: 1618) Lm Giuse Lâm Văn Sỹ OP./
RVA (11.1.2021) – Đức Thánh Cha Phanxicô đã ban hành Tự sắc “Spiritus Domini”, Thần Trí của Chúa, thay đổi khoản Giáo luật, số 230 triệt 1 để cho phụ nữ được lãnh nhận thừa tác vụ đọc sách và giúp lễ. Thánh lễ tại nhà nguyện thánh Marta | Ảnh: Vatican News Khoản này cho đến nay qui định rằng: “Các giáo dân thuộc nam giới có đủ tuổi và điều kiện do nghị định của Hội đồng Giám mục ấn định, có thể lãnh tác vụ đọc sách hoặc giúp lễ, qua một nghi lễ phụng vụ đã qui định. Tuy nhiên, việc trao tác vụ này không cho họ quyền được Giáo Hội trợ cấp hoặc trả lương”. Nay, trong tự sắc “Thần Trí của Chúa”, Đức Thánh Cha thay đổi khoản 230 triệt 1 như sau:
1. Ghi nhận lịch sử - Phụng Vụ Lễ trọng kính Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, được cử hành vào ngày 01 tháng 01, trùng với ngày bát nhật Giáng Sinh, nhớ đến việc cắt bì và đặt tên cho Chúa Giêsu, khởi đầu năm mới, và cũng là ngày cầu cho hòa bình thế giới. Trước khi canh tân Phụng Vụ, lễ trọng này được phổ biến trên khắp thế giới và được Đức Giáo Hoàng Piô XI xác định vào ngày 11.10.1931, nhân dịp kỷ niệm 1500 năm Công đồng Êphêsô. Trong niên lịch mới, lễ này gợi lại ngày thứ tám sau Giáng Sinh. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI viết: “Ngày lễ trọng ấy nay được đặt vào mồng một tháng giêng theo như tập tục xa xưa của Phụng Vụ Rôma. Lễ này được dành riêng ca tụng việc Đức Maria góp phần vào mầu nhiệm cứu độ và tán dương tước vị cao quí đặc biệt do phần đóng góp ấy đem lại cho Người Mẹ rất thánh, Đấng có công giúp chúng ta đón tiếp Tác Giả của sự sống” (Marialis Cultus 5).
Mỗi năm Giáng Sinh về, hình ảnh Ông Già Noel xuất hiện khắp mọi nơi. Ông Già Noel thân thương gần gũi vui vẻ trao quà cho trẻ em. Ông Già Noel thăm viếng và chia sẻ cho những người kém may mắn. Ông Già Noel làm MC trong các chương trình ca nhạc mừng Giáng Sinh… /22 Tháng Mười Hai 2014 (Xem: 2075)/
Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích đã ra một Thông Tư vào hôm thứ Bảy 19 tháng 12, khuyến khích các giáo xứ Công Giáo trên khắp thế giới cử hành Chúa Nhật Lời Chúa với sức sống mới. Thông Tư đã gợi ý những cách thức mà người Công Giáo nên chuẩn bị cho ngày dành cho Kinh Thánh. Đức Thánh Cha Phanxicô đã thiết lập Chúa Nhật Lời Chúa qua tông thư “Aperuit illis” (Người mở trí cho các ông) vào ngày 30 tháng 9 năm 2019, nhân kỷ niệm 1,600 năm ngày mất của Thánh Giêrônimô. Chúa Nhật Lời Chúa diễn ra vào Chúa Nhật thứ ba Mùa Quanh Năm, tức là sẽ rơi vào ngày 24 tháng Giêng năm 2021.
Lễ Giáng Sinh ngày nay có thể nói chính xác là ngày lễ nghỉ của toàn thể nhân loại. Đây là mùa của đèn nến và kim tuyến, thánh ca và ca đoàn, hương vị của cây thông và hạt dẻ nướng. Giáng Sinh đến với chúng ta với những bữa ăn ngon, những tiếng cười vui vẻ, và những nụ hôn dưới cây tầm gửi./post20 Tháng Mười Hai 2015(Xem: 1063) Trầm Thiên Thu/
Cách đây không lâu, tôi nhận được điện thơ của một ca trưởng cho biết giáo xứ của anh có Ban thánh nhạc để tuyển chọn các bài hát cho phụng vụ, nhất là cho thánh lễ các ngày Chúa nhật và lễ trọng. Theo tôi, đây là sáng kiến hay vì quyết định những bài hát dùng trong phụng vụ nên có sự đóng góp ý kiến của nhiều người, không nên tùy thuộc vào quyết định cá nhân của một ca trưởng. Vì như chúng ta đều biết, mục đích của thánh nhạc là 'Tôn vinh Thiên Chúa và thánh hóa tín hữu' nên việc lựa chọn bài hát cho phụng vụ, nhất là cho thánh lễ, có một tầm mức quan trọng trong việc thực hiện mục đích của thánh nhạc.
WGPQN (11.12.2020) – Có sự lo sợ và run rẩy khi ta mạo hiểm thêm lời của mình vào vô số những bản văn nói về Đức Maria. Vì thế, đây không phải là những tìm kiếm về thân thế của người phụ nữ ngoại thường này, mà đơn thuần chỉ để ta được dẫn dắt bởi những bản văn nói về Mẹ. Suốt bài viết, chúng ta khám phá nhiều khuôn mặt của Đức Maria mà không tìm cách làm chúng ăn khớp với nhau. Ta cứ để cho mỗi người tìm thấy sự hài hòa của riêng mình. Một sự hiện diện ngấm ngầm Chúng ta hãy lướt nhanh qua những đề cập cổ xưa nhất về Mẹ của Đức Giêsu. Thật vậy Thánh Phaolô, chỉ nói ít oi bằng câu “người sinh bởi một người nữ” (Gl 4, 4) mà từ nay đưa Con Thiên Chúa đi vào trong nhân loại. Chúng ta cũng đi nhanh về Đức Maria của Tin Mừng Marcô. Trong Tin Mừng thinh lặng về thời thơ ấu của Đức Giêsu này, Mẹ của Ngài hoàn toàn ở về phía nhân loại.
Gọi Giáo hội như là gia đình của Chúa thì đó là chuyện nghe quen tai; gọi giáo xứ như là gia đình của Chúa thì có vẻ ít nghe hơn nhưng cũng có lý. Còn gọi Giáo xứ là gia đình của Chúa… thì có vẻ “khẳng quyết hơn”, nhưng vẫn có lý và rất có tình. Vì “giáo xứ chủ yếu không phải là một cơ cấu, một địa giới hay một toà nhà, nhưng đúng hơn đó là “gia đình của Chúa...”[1], bài viết Giáo xứ là gia đình của Chúa… muốn được trình bày ít nhiều về mối tương quan giữa giáo dân và giáo sĩ, với một số hướng dẫn của Giáo hội, trong khung cảnh của một xứ đạo thấm đượm sự sống nhiệm mầu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Một vài ý tưởng dẫn vào… Các tín hữu chuyên cần nghe các tông đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng.[2]
Thuật ngữ communio sanctorum đã được đưa vào “Tín biểu các thánh tông đồ”, và dịch sang tiếng Việt là “các thánh thông công”. Trong việc giải thích tín điều này, các tác giả cổ điển nói sự thông hiệp giữa ba “tình trạng của Giáo hội” (tres status Ecclesiae): Giáo hội chiến đấu, Giáo hội đau khổ, Giáo hội khải hoàn. Công đồng Vaticanô II (LG 48) đã đổi danh xưng thành “Giáo hội lữ hành – thanh luyện – hiển vinh”. Đây không phải là ba Giáo hội nhưng là ba chặng của một Giáo hội duy nhất, với Chúa Kitô là nguyên thủ. Cả ba đều chung một niềm mong đợi, đó là sự quang lâm của Chúa Kitô. Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo (số 954) viết như sau (trích lại LG 49):
Bảo Trợ