Đại hội 13: COVID-19 và cơ hội cho Việt Nam thay đổi để phát triển?

24 Tháng Năm 202011:20 CH(Xem: 444)

Đại hội 13: COVID-19 và cơ hội cho Việt Nam thay đổi để phát triển?

TS. Phạm Quý Thọ
Hình minh hoạ. Người dân đi qua tấm biển kỷ niệm 130 năm ngày sinh Hồ Chí Minh trên đường phố Hà Nội hôm 19/5/2020
Hình minh hoạ. Người dân đi qua tấm biển kỷ niệm 130 năm ngày sinh Hồ Chí Minh trên đường phố Hà Nội hôm 19/5/2020
blank AFP

Ngày 22/5/2020 ‘Tổ công tác đặc biệt’ và đề án thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), được quyết định thành lập với mục đích vừa nêu. Chính phủ Hà Nội đã nhận thức tầm quan trọng của vấn đề. Tuy nhiên, nếu chỉ quan niệm đó là cơ hội để thu hút FDI, thì có lẽ chưa xứng tầm với cơ hội thay đổi để phát triển hiện nay.

Đại dịch COVID-19 đang gây ra cuộc khủng khoảng kép nghiêm trọng về y tế và kinh tế cho thế giới. Đây là ‘một biến cố lớn’ chưa từng có từ trăm năm nay, sẽ định hình lại ‘trật tự thế giới’, trong đó sự đối đầu của các chế độ khác biệt về hệ tư tưởng là một đặc trưng quan trọng. Hiệu ứng lan toả của nó đến mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam, cộng hưởng với các yếu tố trong nước trước thềm Đại hội 13 của Đảng Cộng sản mở ra cơ hội phát triển.

Trong giai đoạn gần đây nước ta cũng từng có những cơ hội lớn bị bỏ lỡ, bởi vì thiếu những chính sách cải cách cần thiết vượt qua ý thức hệ XHCN giáo điều.

Bối cảnh thay đổi

Đặc điểm bao trùm xu hướng phát triển thế giới từ đầu thế kỷ 20 đến nay là sự đối đầu liên tục giữa hai ý thức hệ: chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản. Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng 10 Nga năm 1917 là ‘biến cố’ đã sản sinh ra nhà nước xã hội chủ nghĩa, mô hình Xô – Viết,  mở đầu xu hướng này. Chiến tranh thế giới II (1939 -1945) đã kết thúc sự tồn vong của chủ nghĩa phát xít, nhưng cũng là lúc khởi đầu cuộc chiến tranh lạnh kéo dài gần 50 năm giữa hai hệ thống đối nghịch về hệ tư tưởng.

Sau khi mô hình Xô-Viết sụp đổ ở Đông Âu năm 1991, mặc dù còn có những biến thể kiểu như mô hình Trung Quốc, nhưng thế giới đã chứng kiến giai đoạn toàn cầu hoá mạnh mẽ, tưởng như, làm mờ dần và có thể xoá đi sự khác biệt ý thức hệ để cùng nhau phát triển. Tuy nhiên, thực tế đã chỉ ra xu hướng này vẫn tiếp diễn. Sự khác biệt chế độ chính trị không những không mất đi mà âm ỉ, và dần bùng lên thành đám cháy ngày càng dữ dội.

Điều kỳ diệu tăng trưởng nhanh của mô hình Trung Quốc dần tan biến. Chính quyền Bắc Kinh bị cáo buộc cạnh tranh kinh tế không công bằng, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã phát động cuộc thương chiến từ năm 2018, và nhanh chóng leo thang sang các lĩnh vực khác, từ sở hữu trí tuệ, công nghệ cao đến các vấn đề nhân quyền, tôn giáo và tham vọng địa chính trị… Sự đối đầu ý thức hệ dường như trong mọi vấn đề quan hệ song phương Mỹ - Trung.

Đại dịch COVID-19 bộc lộ bản chất chuyên quyền chế độ toàn trị ở Trung Quốc, như ‘giọt nước tràn ly, làm căng thẳng mâu thuẫn giữa hai cường quốc kinh tế, làm thay đổi bối cảnh phát triển cho các quốc gia trên thế giới.

Quá trình phát triển của Việt Nam, quốc gia có chế độ với ý thức hệ tương đồng với Trung Quốc, bị chi phối mạnh mẽ trong bối cảnh nêu trên, trong đó đã từng có các cơ hội bị bỏ lỡ.

Hai cơ hội bỏ lỡ

Hai cơ hội quan trọng mà Việt Nam đã bỏ lỡ được các nhà nghiên cứu chỉ ra là thời cơ sau năm 1975 ngay sau khi đất nước không còn chia cắt về mặt địa lý và sau chính sách ‘đổi mới’ đất nước, lấy mốc từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 6 năm 1986.

Trước hết, sau năm 1975 đất nước không còn chia cắt về mặt địa lý và hoà bình là cơ hội to lớn để phát triển. Dân tộc Việt Nam có một khát vọng mạnh mẽ hướng tới tương lai thịnh vượng. Mặc dù, sau chiến tranh đất nước còn nghèo và lạc hậu, nhưng có niềm tin lớn về tiềm năng con người, ý chí vượt khó của người dân, năng lực lãnh đạo của những người cầm quyền, được thử thách trong chiến tranh …

Tuy nhiên, như hệ quả của xu hướng phát triển chung, ‘Bên thắng cuộc’ đã áp đặt luật chơi. Đồng thời với việc khắc phục hậu quả của chiến tranh, ‘thể chế XHCN’ đã thiết lập trên cả nước, từ hành chính đến nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Đối với miền Nam các chính sách đổi tiền, cải tạo công thương, quốc hữu hoá ruộng đất… đã xoá đi các nền tảng và các quan hệ thị trường, tuy giới hạn trong điều kiện thời chiến, nhưng đã kết nối rộng rãi với các nước tư bản tiên tiến. Hậu quả nặng nề để lại là tình trạng kiệt quệ về kinh tế trong suốt hơn hơn một thập kỷ sau.

Cơ hội quan trọng thứ hai xuất hiện vào thập niên 1990 trong bối cảnh hệ thống XHCN ở Đông Âu sụp đổ hoàn toàn và quá trình toàn cầu hoá. Các nước tiên tiến và các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB) nối lại viện trợ, bình thường hóa quan hệ với Mỹ, gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)… Nhiều yếu tố hội tụ tạo cơ hội cho Việt Nam hội nhập với kinh tế thị trường khu vực và thế giới.

Đây là ‘cơ hội thị trường’. Nó được khởi đầu bằng việc xoá bỏ cơ chế bao cấp, nới rộng quyền tự do kinh tế cho người dân và doanh nghiệp. Cơ hội này đã giúp Việt Nam đạt tốc độ tăng GDP cao trên 7% trong khoảng một thập kỷ, tạo nên hình ảnh ‘con hổ mới’ ở Đông Nam Á.

Tuy nhiên, ‘sự bứt phá’ bị cản lại bởi chính sách sai lầm, duy ý chí. Với mục tiêu tăng trưởng nhanh các nguồn lực đã tập trung cho các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, coi đó là trụ cột của nền kinh tế, kiểu cheabol của Hàn Quốc. Sự khác biệt về tính chất sở hữu, tư nhân và nhà nước, cộng với quản lý yếu kém khiến mô hình này sụp đổ.

Việc vận dụng giáo điều ý thức hệ XHCN trong chính sách kinh tế hướng thị trường là căn nguyên sai lầm. Hậu quả là tốc độ tăng trưởng giảm sút và bất ổn thể chế, khoảng cách tụt hậu kinh tế đã nới rộng so với các nước trong khu vực.

Cơ hội thay đổi

Cơ hội phát triển và cơ hội thay đổi trong bối cảnh COVID-19 là chủ đề nóng hiện nay. Do tính chất đối đầu ý thức hệ có thể gọi đây là ‘cơ hội thoát Trung’ đối với nhiều nước trên thế giới và Việt Nam.

Đại dịch này chính là lúc Việt Nam cần đánh giá lại việc áp dụng mô hình Trung Quốc trong thời gian qua. Trước hết, cần làm rõ sự phụ thuộc vào kinh tế Trung Quốc, tình trạng thâm hụt thương mại nghiệm trọng và kéo dài, các dự án đầu tư kém chất lượng, nhất là trong các lĩnh vực trọng yếu như năng lượng và giao thông… Truyền thông nhà nước dường như công khai hơn với loại tin tức này, thậm chí đưa tin trong kỳ họp đang diễn ra của Quốc Hội khoá XIV về việc doanh nghiệp Trung Quốc núp bóng dưới nhiều hình thức để kiểm soát các dự án bất động sản có vị trí ‘nhạy cảm’ đối với an ninh quốc gia…

Việc đánh giá toàn diện hiệu quả và tác động của các chính sách cũng trở nên cần thiết. Chính sách với ‘sáng kiến’ Chính phủ kiến tạo, liệu có khác biệt với chính sách thực dụng do Đặng Tiểu Bình khởi xướng từ đầu những năm 1990. Nó đang thúc đẩy tăng trưởng, nhưng liệu đích đến có thể là chủ nghĩa tư bản thân hữu, như thực tế hiện nay ở Trung Quốc. Dự luật ‘Đặc khu hành chính – kinh tế’ như biện pháp đột phá, đã không được Quốc hội thông qua trước sự phản đối của dân chúng… Dư luận đang cho rằng, việc thành lập Khu kinh tế Vân Đồn, biến tướng của đặc khu, là lách luật...

Cơ hội thay đổi này đặt cơ sở cho một chính sách thu hút đầu tư nước ngoài từ sự di chuyển của chuỗi cung từ Trung Quốc. GS Trần Văn Thọ, thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, đã đề xuất một ‘Chiến lược phát triển Việt Nam sau đại dịch’, khái quát về tái cấu trúc nền kinh tế và chuẩn bị các điều kiện cơ sở hạ tầng, cải cách hành chính…

Cuối cùng, làn sóng thoát Trung hiện nay của các quốc gia khiến Việt Nam cân nhắc những đề xuất nâng cấp quan hệ với Mỹ trong chính sách đảm bảo tự do hàng hải ở Biển Đông và tham gia ‘Tứ giác kim cương mở rộng’ bao gồm bốn nước Mỹ, Nhật, Úc, Ấn Độ với Hàn Quốc, New Zeland và Việt Nam. Nên coi đây cơ hội để tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền quốc gia trước sự đe doạ của chính quyền Bắc Kinh.

Thách thức chủ yếu

Cải cách thể chế chính trị trên nền tảng ý thức hệ lạc hậu là thách thức chủ yếu đối với cơ hội phát triển. Liệu một lần nữa Việt Nam sẽ lại bỏ lỡ cơ hội thay đổi để phát triển?

Những kết quả ‘về cơ bản khống chế’ COVID-19 được nhấn mạnh là nhờ ưu thế của chế độ, vốn được thể hiện trong trạng thái ‘thời chiến’, nhưng đó cũng chính là lực cản phát triển cho kinh tế thị trường trong điều kiện bình thường.

Chế độ đảng cộng sản toàn trị luôn đặt sự tồn vong là ưu tiên trong mọi tình huống. Từ bản chất của nó phương châm cải cách ‘tiệm tiến’ được xác định như sự đề phòng rủi ro. Thực tế cho thấy những chính sách đột phá thường chỉ xảy ra khi chế độ ‘bị dồn vào chân tường’, và hy vọng ‘mong manh’ đặt ở những ‘vị vua anh minh’. Liệu Đại hội 13 có lựa chọn được những lãnh đạo đủ tầm để nắm bắt cơ hội thay đổi để phát triển?

Phạm Quý Thọ, gửi từ Hà Nội - Theo RFA

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Trong khi một số các đảng viên đảng Dân chủ luôn chỉ trích, so sánh vị tổng thống của họ - Donald Trump - giống như một “kẻ khủng bố”, “nhà độc tài” thì chính họ lại có quan niệm khá “cởi mở” về một trong những nhà lãnh đạo tàn bạo nhất của ĐCSTQ. Không chỉ ca ngợi, họ còn treo ảnh chân dung của kẻ khát máu này trên tường nhà một cách trang trọng. Cựu dân biểu Đảng Dân chủ bang Tennessee Harold Ford Jr đã được người dẫn chương trình Brett Baier của Fox News phỏng vấn xoay quanh cuộc thảo luận về cuộc “nổi loạn” tại Tòa nhà Quốc hội ngày 6/1 với sự “liên đới” của Tổng thống Trump. Tuy nhiên, điều khiến độc giả gây chú ý không phải là nội dung cuộc thảo luận, vốn luôn mang tính “thiên vị” của các thành viên Đảng Dân chủ khi nhắc đến Tổng thống Trump, mà là góc quay vô tình đã hé lộ bức ảnh chân dung của Mao Trạch Đông treo trang trọng trên bục lò sưởi trong căn nhà của vị cựu dân biểu Harold Ford Jr.
Thông qua các chuyến du lịch “theo truyền thống hiếu khách” đến Trung Quốc và những bữa tiệc với giới tinh hoa, Bắc kinh cố gắng mua chuộc giới truyền thông Hoa Kỳ và lèo lái các bản tin của họ theo chiều hướng có lợi cho Trung Quốc. Kể từ năm 2009, như một phần của chiến dịch mở rộng ảnh hưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) tại Hoa Kỳ, một tổ chức liên đới của Bắc Kinh đã tổ chức các chuyến du lịch đến Trung Quốc cho hơn 120 nhà báo từ gần 50 hãng truyền thông của Hoa Kỳ.
Vị tổng thống gây tranh cãi lớn nhất lịch sử cận đại Mỹ ra đi trong vui mừng của nửa nước, cũng trong buồn hận của nửa nước. Vỏn vẹn trong bốn năm ngắn ngủi, ông đã để lại dấu ấn, một gia tài không xóa nhòa được ít nhất trong vài ba chục năm nữa. Lịch sử sẽ phán xét ông công bằng hơn, khi dư âm của những đánh phá tàn bạo nhất sẽ tàn lụi. Liên minh ủng hộ ông không lớn bằng cái đầm lầy chống ông, gồm chẳng những đảng đối lập Dân Chủ, mà còn có toàn thể khối TTDC, Nhà Nước ngầm, đám quan lại thối nát, nhóm CH Never Trump, các đại tập đoàn hi-tech Apple, Google, các trang mạng xã hội lớn Facebook, Twitter, tài phiệt Do Thái, đám dân ăn bám trợ cấp, trí thức thiên tả, phụ nữ ham vui nhưng vô trách nhiệm, thanh niên mê thuốc lắc, …
Ngày 6/1/2021, liên danh Joe Biden và Kamala Harris đã được Quốc Hội công nhận là bên thắng cuộc, qua các phương tiện truyền thông tôi được chứng kiến ngày lịch sử này học hỏi được khá nhiều điều về tự do và dân chủ tại Mỹ. Chuyện buồn đã xảy ra… Biểu tình là quyền tự do biểu đạt chính kiến được Tu chính án thứ nhất bảo vệ, nhưng bạo động và bạo loạn là vi phạm luật pháp quốc gia. Thật đáng buồn khi 1 người bị bắn chết, 5 người khác chết chưa rõ lý do (trong số có cả cảnh sát) và nhiều người cả hai phía bị thương khi đoàn biểu tình xông vào Quốc Hội. Hằng ngàn người biểu tình, tại một nơi được cho là an ninh nhất nước Mỹ, nhưng lại không thấy giới chức có thẩm quyền sửa soạn để đối phó với thành phần sách động bạo loạn thì thật là khó hiểu. Chưa kể tới nhiều đoạn phim cho thấy chính cảnh sát đã mở cửa Quốc Hội để những người biểu tình đi vào.
Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ đang đi đến đoạn đường cuối cùng.Thu hút biết bao nhiêu những đồn đoán, phân tích và các dự đoán trái ngược nhau. Người ta bỗng nhiên chú ý đến một bài dài đến 55 trang đăng trên một tạp chí từ cuối năm 2019 vì cho đến giờ phút này nó miêu tả cuộc bầu cử "chính xác đến từng milimet" Xin lược thuật. Đó là bài : “Chuẩn bị cho một cuộc bầu cử tổng thống có tranh chấp : Một bài tập về đánh giá và quản lý rủi ro bầu cử " được xuất bản vào bởi Tạp chí Luật của Đại học Loyola Chicago, tác giả là Edward B. Foley. Foley, là giáo sư đứng đầu chương trình luật bầu cử tại Đại học Ohio, là luật sư và là người cộng tác với Washington Post. Folye cũng là người khởi xướng "Lý thuyết dịch chuyển Xanh" đề ra chiến lược nhằm biến đổi các bang từ ủng hộ đảng Cộng hòa chuyển sang ủng hộ đảng Dân chủ.
Nếu nói dối của ĐCSTQ là bản chất cố hữu và không thể thay đổi, thì việc nói dối phổ biến trong dân chúng là do nền văn hóa nói dối và chuyên chế của ĐCSTQ tạo thành, có liên quan mật thiết đến môi trường xã hội đặc biệt của Trung Quốc. Từ xưa tới nay, ở trong và ngoài nước, việc không nói dối được xem như giới hạn cơ bản và là ý thức chung trong tiêu chuẩn làm người. Trong quan niệm truyền thống, Đạo gia giảng làm chân nhân, Phật gia giảng người xuất gia không nói dối, Nho gia giảng về chữ Tín. Tất cả đều cho rằng nói dối là sai, là xấu. Khổng Tử coi "nhân - nghĩa - lễ - trí - tín” là ngũ thường. Trong đó, sự thành tín giữa người với người là một trong những mỹ đức quan trọng nhất của con người. Đạo lý đối với việc trị quốc cũng như vậy. Tử Cống, một học trò của Khổng Tử, đã từng thỉnh giáo thầy về cách trị quốc. Khổng Tử nói: "Thứ nhất là cho dân có cơm no, áo ấm; thứ hai là quốc gia có quân đội hùng mạnh; thứ ba là có được lòng tin của người dân".
Cuối năm 2013, nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình đã thông báo về Vành đai Kinh tế Con đường Tơ lụa và Con đường Tơ lụa trên biển thế kỷ 21, hai tuyến đường kết nối Trung Quốc với châu Phi và châu Âu. Kể từ đó, Sáng kiến Vành đai và Con đường (hay BRI) - tên gọi sau khi kết hợp cả hai dự án trên - đã được mở rộng đến mọi nơi trên hành tinh. Ví dụ, Trung Quốc đã rót hàng chục tỷ USD cho các khoản vay trong khuôn khổ BRI cho Venezuela. Trung Quốc đang xây dựng một cảng container trị giá 3 tỷ USD tại Freeport, cách Palm Beach của Florida chưa đến 150 km về phía Đông.
Chúng ta thường nghe nói: “Người dân được làm tất cả những gì luật pháp không cấm”, nó có thể đúng ở nhiều nước nhưng không đúng ở Mỹ. Tổng thống Mỹ có quyền ký sắc lệnh và Quốc Hội Mỹ có quyền ban hành đạo luật, nhưng người dân có quyền thách thức mọi sắc lệnh và đạo luật để luật pháp phải luôn trong vòng Hiến Pháp cho phép. Tu chính án thứ nhất của Hiến Pháp Mỹ nêu rõ: “Quốc hội không được quyền ra luật… ngăn cản tự do ngôn luận, tự do báo chí, hoặc ngăn cản hội họp ôn hòa, hoặc cấm đoán người dân khiếu nại về việc làm của chính phủ.” Khái niệm đã thế nên một bài viết ngắn không thể đi sâu vào chi tiết của từng vấn đề, tôi chỉ xin đưa ra một bức tranh tổng quát để có thể hình dung được quyền tự do báo chí tại Mỹ.
Vào ngày 6 tháng 1, một phiên họp chung của Quốc hội sẽ khai mạc - với Phó Tổng thống Mike Pence làm chủ tịch Thượng viện. Ông Pence sẽ có toàn quyền và quyền lực này là không thể đảo ngược. Nhiệm vụ của ông ấy sẽ là “hoàn thành lời tuyên thệ nhậm chức của mình” - để bảo Hiến pháp của Hoa Kỳ, và đảm bảo rằng các luật được thực thi một cách trung thực. Đúng như vậy. Với tư cách là chủ tịch Thượng viện, mọi quyết định đều do ông ấy phán quyết và ông ấy có thể phán quyết bất kỳ quyết định nào (trong trường hợp này là liên quan đến vấn đề đại cử tri) là "trái lệnh" hoặc "bị từ chối". Đây là một tiêu chuẩn cao trong thực thi nhiệm vụ và Ông Pence sẽ có hai lựa chọn. Ông Pence có thể ‘tán thành’ những cử tri ‘được chứng nhận’, hoặc ông ấy có thể bảo vệ luật pháp
lý của nhóm TT Trump về cơ bản là đã đi đến bước ngoặt cuối cùng và ít nhất 7 vụ kiện đã được gửi đến Tối cao Pháp viện. Nhưng kết quả cuối cùng như thế nào, rất khó để đưa ra kết luận. Rốt cuộc TT Trump sẽ dùng cách nào để cứu nước Mỹ? Tôi tin rằng có rất nhiều độc giả sẽ nghĩ đến các phương pháp như ban hành Thiết quân luật, viện dẫn luật chống phản loạn, bắt giữ, v.v. Nhưng trên thực tế, các thuật ngữ này mang các ý nghĩa pháp lý khác nhau, cơ sở thực hiện, phạm vi và quyền hạn cũng khác nhau. Vì vậy, hôm nay chúng ta sẽ dành chút thời gian để thảo luận về những khái niệm này, để chúng ta có thể nhìn thấy trên tổng thể thì TT Trump có những đặc quyền nào và ông ấy có thể làm những gì. Thiết quân luật: khái niệm mơ hồ khô
Bảo Trợ