Đại dịch không biến Trung Quốc thành nước lãnh đạo thế giới: ít quốc gia nào mua mô hình hay thông điệp của Bắc Kinh

22 Tháng Tư 202012:09 CH(Xem: 1167)
Đại dịch không biến Trung Quốc thành nước lãnh đạo thế giới: ít quốc gia nào mua mô hình hay thông điệp của Bắc Kinh
Vũ Văn An
Người ta đã nói nhiều và chính thức gọi Covid-19 là Covid-Vũ Hán hay Covid-Tầu Cộng. Ít nhất, Tổng thống Donald Trump của Hoa Kỳ đã không ngần ngại tố cáo mặt trái của Bắc Kinh trong điều ông gọi là cuộc chiến tranh chống Covid-19.

Hai ký giả Michael Green và Evan S. Medeiros của tạp chí Foreign Affairs, ngày 15 tháng 4 vừa qua, lớn tiếng dẹp bỏ giấc mộng của Trung Quốc toan tính dùng Covid-19 rao bán mô hình của mình nhằm tô bóng và cổ vũ vai trò lãnh đạo thế giới, ít nhất trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19 hoàn cầu. Bạn đọc có thể đọc nguyên văn bài viết tại https://www.foreignaffairs.com/articles/united-states/2020-04-15/pandemic-wont-make-china-worlds-leader?. Sau đây là bản dịch tiếng Việt, phần nói đến Trung Quốc:

blank


Đầu năm nay, khi tân coronavirus bắt đầu lan rộng ở Trung Quốc, những dự đoán đã có ngay lập tức và rõ ràng: sự bùng phát đại dịch này là “thời khắc Chernobyl” cho Trung Quốc, có lẽ còn là “lúc bắt đầu việc kết liễu” Đảng Cộng sản Trung Quốc, với những hậu quả địa chính trị mà, ở thời điểm căng thẳng Mỹ-Trung đang gia tăng, sẽ phát huy lợi thế đáng kể của Washington. Nhưng rồi, cũng nhanh chóng gần như thế, các dự đoán đã đi vào thế đảo ngược. Khi Trung Quốc dường như đã ngăn chặn được sự lây lan của coronavirus trong khi Hoa Kỳ và Tây Âu phải hứng chịu những đợt bùng phát lớn. Đại dịch và suy thoái kinh tế hoàn cầu tiếp sau đó được cho là đánh dấu sự sắp xếp lại địa chính trị, một sự sắp xếp lại sẽ khiến Trung Quốc trở thành kẻ chiến thắng. Bắc Kinh chắc chắn nhìn thấy cơ hội như vậy, khi khởi động một chiến dịch quốc tế nhằm nhấn mạnh các thất bại của nền cai trị dân chủ và tự phóng chiếu mình thành người lãnh đạo trong việc ứng phó với đại dịch hoàn cầu.

Nhưng người ta nghi ngờ việc thí quân mở đường cho tướng của Bắc Kinh này sẽ thành công trong việc biến một đại dịch có khả năng bắt đầu ở một thành phố Trung Quốc thành một bước tiến lớn trong việc đi lên của Trung Quốc. Có những giới hạn thực sự đối với khả năng của Trung Quốc trong việc tận dụng cuộc khủng hoảng hiện tại, cho dù qua một cuộc tuyên truyền gian xảo hoặc hành động hoàn cầu không hữu hiệu. Và tiềm năng Trung Quốc hưởng lợi từ coronavirus đã dễ dàng được quá thổi phồng thế nào, thì khả năng Hoa Kỳ biểu lộ vai trò lãnh đạo hoàn cầu ngay cả sau các lỡ lầm ban đầu cũng đã dễ dàng bị quá hạ giá như thế. Dù cho ứng phó của Washington đối với đại dịch cho đến nay có thiếu sót sâu xa ra sao, quyền lực của Hoa Kỳ, khác biệt với bất cứ vị tổng thống đặc thù nào, hệ ở sự kết hợp lâu dài giữa khả năng vật chất và tính hợp pháp chính trị, và có rất ít dấu hiệu cho thấy đại dịch đang làm cho quyền lực di chuyển nhanh chóng và vĩnh viễn có lợi cho phía Trung Quốc.

TUYÊN TRUYỀN CỦA TRUNG QUỐC

Cuộc tấn công tuyên truyền ban đầu của Trung Quốc hết sức hung hăng, nhưng bây giờ nó có vẻ vụng về và khó có thể thành công. Trình thuật của Đảng Cộng sản Trung Quốc bị giới hạn bởi sự kiện đơn giản này là có quá nhiều người biết nguồn gốc đại dịch ở Vũ Hán và ứng phó vụng về lúc ban đầu của Bắc Kinh, đặc biệt là nỗ lực đàn áp thông tin và làm câm họng nhiều bác sĩ đầu tiên đã cảnh báo về sự xuất hiện của một virút mới đầy nguy hiểm. Trước những lời kêu gọi phải minh bạch hơn, Bắc Kinh đã trục xuất các nhà báo Mỹ làm việc cho tờ The New York Times, The Washington Post The Wall Street Journal. Trên Twitter, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Trung Quốc cáo buộc quân đội Hoa Kỳ đã mang coronavirus đến Vũ Hán. Mặc dù Bắc Kinh đã thôi không nhắc đến cáo buộc đáng trách này trong những tuần gần đây, nhưng cách tiếp cận của họ có một chút tuyệt vọng, điều này cho thấy sự bất an của chính Bắc Kinh khi xử lý sai lầm việc phát khởi dịch bệnh.

Sự hoài nghi của hoàn cầu lan rộng, có lý do chính đáng, đối với số liệu thống kê về coronavirus của Trung Quốc. Thật vậy, trong khi con số chính thức các trường hợp tân COVID-19 của Trung Quốc cho thấy có sự ngăn chặn hữu hiệu (đến ngày 19 tháng 3, số ca nhiễm mới tại địa phương đã giảm xuống gần bằng 0), một số người ở Trung Quốc sợ rằng chính phủ trung ương đã đơn giản ngưng báo cáo mọi kết quả xét nghiệm để giữ cho số lượng chính thức của nó ở mức thấp và để duy trì trình thuật rằng mình đã chiến thắng trong cuộc chiến chống lại virút; đây không hẳn là lần đầu tiên Bắc Kinh đã dẹp bỏ các dữ kiện bất lợi.

Một số nhà lãnh đạo, tất nhiên, đang ủng hộ trình thuật của Bắc Kinh và hoan nghênh các phương pháp của họ trong việc chống lại việc bùng phát của dịch bệnh, trong đó có các viên chức ở Campuchia, Iran, Pakistan và Serbia. Nhưng ít có chính phủ nào trong số này mới bị thuyết phục bởi các nhắn nhe gần đây của Trung Quốc; đã từ lâu, họ vốn có thành tích chấp nhận các trình thuật chính trị và hỗ trợ kinh tế của Trung Quốc rồi, thường là để phục vụ quyền lực riêng của chính họ ở trong nước. Thật vậy, một số nước ở châu Âu tiếp nhận sớm các bộ dụng cụ thử nghiệm và thiết bị bảo vệ do Trung Quốc sản xuất đã từ chối chúng vì coi chúng không đạt tiêu chuẩn. Mới trong tuần này, thủ tướng Phần Lan đã sa thải người đứng đầu cơ quan cung cấp các thiết bị cấp cứu của đất nước vì đã chi hàng triệu euro mua các khẩu trang khiếm khuyết của Trung Quốc.

Giữa những lời kêu gọi phải minh bạch hơn, Bắc Kinh làm câm họng nhiều bác sĩ và trục xuất các nhà báo Mỹ.

Trong khi đó, các nhà lãnh đạo khác đã đẩy lui mưu toan của Trung Quốc muốn viết lại trình thuật hoàn cầu về ứng phó COVID-19 của họ. Đại diện Đối ngoại Cao cấp của Liên Hiệp Châu Âu Josep Borrell công khai chỉ trích các nỗ lực của Trung Quốc, coi chúng như “một cuộc đấu tranh giành ảnh hưởng qua việc quay quắt và nền 'chính trị hào phóng’”. Các nhà lãnh đạo ở Ba Tây và Ấn Độ, những người đang đương đầu với các thách thức trong nước, đã nhanh chóng chuyển sang chỉ trích Trung Quốc và tránh sự trợ giúp của nó. Ở Châu Phi, sự chú ý của công chúng đã tập chú vào các câu chuyện phân biệt chủng tộc phổ biến chống lại các kiều dân châu Phi ở miền nam Trung Quốc. Và ngay cả trước khi đại dịch bắt đầu, Bắc Kinh đã phải đối mặt với việc mất niềm tin lớn giữa các nước láng giềng châu Á. Một cuộc khảo sát về công luận tại sáu quốc gia châu Á, do Trung tâm nghiên cứu Pew thực hiện từ tháng 5 đến tháng 10 năm 2019 và được công bố vào cuối tháng 2 vừa qua, cho thấy tỷ lệ người dân có quan điểm thuận lợi đối với Hoa Kỳ hơn là đối với Trung Quốc.

Khi đẩy mạnh trình thuật chiến thắng chống coronavirus của mình, cách tiếp cận của Bắc Kinh sẽ được so sánh không chỉ với Hoa Kỳ mà còn với các hành động đầy ấn tượng của nhiều quốc gia châu Á, bao gồm cả một số quốc gia dân chủ. Bắc Kinh thất bại nặng nề trước tiên, do sự thiếu minh bạch một cách hiển nhiên và có thể dự đoán được, và nay Washington đang thiếu sót. Nhưng Nam Hàn và Đài Loan dân chủ đã hành động tốt hơn cả hai. Chế độ kiểm tra và theo dõi tiếp xúc đầy ấn tượng của Nam Hàn và các nỗ lực phát hiện và ngăn chặn sớm của Đài Loan phản ảnh cả các quyết định của giới cầm quyền lẫn khả năng học hỏi kinh nghiệm trong quá khứ với đại dịch. Các công dân và chính phủ đang tìm kiếm các mô hình có nhiều khả năng lựa chọn các thành công dân chủ đó hơn là các nỗ lực ngăn chặn độc đoán và hà khắc của Trung Quốc, mà các tổn phí thực sự ra sao vẫn chưa được biết đến.

Hơn nữa, nền kinh tế Trung Quốc không thể cỡi xe đến cứu hộ như đã làm trong cuộc khủng hoảng tài chính hoàn cầu. Mặc dù đã có một sự gia tăng một phần về phía cung khi các nhà máy Trung Quốc mở cửa trở lại, các yếu tố thúc đẩy về phía cầu phục vụ sự tăng trưởng của Trung Quốc đang gặp rắc rối thực sự. Nền kinh tế Trung Quốc quá phụ thuộc vào phía cầu bên ngoài từ Hoa Kỳ và châu Âu mới có thể trở thành vị cứu tinh duy nhất của nền kinh tế hoàn cầu. 12 quốc gia bị virút tấn công mạnh nhất hiện nay chiếm khoảng 40% xuất khẩu của Trung Quốc. Nhiều quốc gia trong số này cũng là nước cung cấp hàng hóa trung gian hàng đầu của Trung Quốc. Nền kinh tế Trung Quốc sẽ không thể quay trở lại quỹ đạo tăng trưởng trước đó khoảng năm đến sáu phần trăm hàng năm cho đến khi nền kinh tế của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu cũng phục hồi. Các nhà hoạch định chính sách của Trung Quốc sẽ phải kìm hãm một số nỗ lực kích thích trong nước cho đến khi điều đó xảy ra; họ biết rằng một kích thích như vậy sẽ có tác động hạn chế nếu mức cầu hoàn cầu đang xuống thấp. Tài trợ cho một kích thích do tín dụng thúc đẩy như Trung Quốc từng làm trong năm 2008-2009 không còn giá trị nữa do mức nợ tổng thể rất cao của Trung Quốc và nguy cơ thực sự phát khởi sự sụp đổ của hệ thống tài chính của chính họ. Trong cuộc khủng hoảng này, các nền kinh tế Mỹ và Trung Quốc buộc phải chìm hay nổi cùng nhau mà thôi.

CÁC NGUY HIỂM CỦA DỰ ĐOÁN

Giữa một cuộc khủng hoảng hoàn cầu, các áp lực phải dự báo những hệ quả chiến lược, lâu dài của tình trạng khẩn cấp thì rất nhiều. Vấn đề do việc vội rút ra các kết luận sớm sủa là chúng thường sai lầm: các nhà phân tích tập trung vào các hậu quả trước mắt của các biến cố gần đây và hạ giá các đặc điểm cơ cấu của trật tự hoàn cầu.

Chắc chắn, đã có một thất bại thảm hại của giới lãnh đạo chính trị và ngoại giao Hoa Kỳ trong cuộc khủng hoảng hiện nay, một sự thất bại có thể khiến Hoa Kỳ phải trả giá đắt về sinh mạng và ảnh hưởng quốc tế trong những tháng sắp tới. Nhưng lập luận rằng điều này có thể báo trước “thời khắc Suez” cho Hoa Kỳ, như Kurt M. Campbell và Rush Doshi gần đây đã chủ trương trên Foreign Affairs, là đi quá xa. Ta nên xem xét loại suy Suez một cách thận trọng hơn. Sự can thiệp của Anh vào Suez năm 1956 là hơi thở cuối cùng của một đế quốc từ lâu vốn đã mất hết quyền lực và tính hợp pháp để có thể áp đặt ý chí của mình lên các quốc gia thuộc địa cũ. Hoa Kỳ đã vượt xa Vương quốc Anh trên mọi thước đo ngoại giao, kinh tế và quân sự cả một thế hệ trước cuộc khủng hoảng Suez. Sức mạnh quân sự và công nghệ đang gia tăng của Trung Quốc ngày nay rất gây ấn tượng, nhưng đồng tiền của Trung Quốc không tới gần quyền bá chủ mà đồng đô la được hưởng vào năm 1956 hoặc đang được hưởng ngày nay. Thật vậy, tỷ lệ GDP hoàn cầu của Vương quốc Anh vào thời điểm đó chỉ là một phần nhỏ của Hoa Kỳ ngày nay. Như những người theo chủ nghĩa Lênin của Trung Quốc vốn nói, mối tương quan quốc tế qua lại của các lực lượng vào năm 1956 nhất định không có lợi cho Vương quốc Anh.

Đó không phải là trường hợp ngày nay đối với Hoa Kỳ. Ngay cả khi Hoa Kỳ vấp váp trong cuộc khủng hoảng hiện nay, Bắc Kinh đang phải đối diện với những thách thức bên trong và bên ngoài xuất phát từ các quyết định của họ về việc quản trị kinh tế và chính trị ở trong nước và quản trị hoàn cầu ở bên ngoài. Ít có bằng chứng cho thấy mô hình độc đoán của Trung Quốc ngày nay có sức hấp dẫn hơn các quy tắc dân chủ được nhiều nước láng giềng của Trung Quốc áp dụng. Thế kỷ hai mươi mốt khó là “thế kỷ của Trung Quốc”, bất kể Hoa Kỳ làm gì. Thay vào đó, có nhiều khả năng nó là một nước châu Á với sự quản trị hữu hiệu và có hiệu năng được thể hiện trong những tuần gần đây, bên cạnh những đóng góp đáng kể và ngày càng gia tăng vào việc đổi mới, năng suất và tăng trưởng hoàn cầu.
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Tốc độ tàu cao tốc 200-350 km/h trên toàn mạng lưới đường sắt cao tốc của Trung Quốc đã mang lại ấn tượng về sự phát triển đáng kinh ngạc trong vài thập kỷ qua. Tuy nhiên, mạng lưới đường sắt này không thành công như quảng cáo, nó đã trở thành ác mộng của nền kinh tế. Đáng tiếc là Trung Quốc đã kịp xuất khẩu ác mộng này sang Việt Nam 10 năm trước. Global Times đưa tin, mạng lưới đường sắt cao tốc của Trung Quốc có phạm vi khoảng 38.000 km và Bắc Kinh có kế hoạch sẽ mở rộng mạng lưới này lên quy mô 7 triệu km đến năm 2035. Năm 2008, chuyến tàu cao tốc đầu tiên đã xuất phát từ ga đường sắt Nam Bắc Kinh, ngày nay sau 13 năm, Trung Quốc đã thiết lập mạng lưới đường sắt cao tốc lớn nhất thế giới.
Cuộc diệt chủng của ĐCSTQ đối với Tây Tạng là lời cảnh tỉnh cho tất cả chúng ta Trong bài phát biểu đánh dấu 70 năm ĐCSTQ tiến quân vào và kiểm soát Tây Tạng, dù ông Uông Dương đã hết lời ca ngợi những thành tựu huy hoàng của ĐCSTQ tại Tây Tạng, ông Anders Corr lại nhận thấy những bằng chứng hiển nhiên về tội ác diệt chủng và nỗi ám ảnh của ĐCSTQ đối với việc phải hủy diệt tín ngưỡng và tôn giáo. Ở bài bình luận này, tác giả Corr sẽ phân tích và chỉ rõ ra những dấu hiệu và bằng chứng về tội ác của ĐCSTQ, thông qua phát biểu của ông Uông Dương.
Thống đốc bang California (Mỹ) vừa ban hành đạo luật gây xôn xao dư luận: ‘Cho phép trẻ vị thành niên phẫu thuật chuyển đổi giới tính hoặc phá thai mà không cần thông báo cho phụ huynh’. Liệu đây là một đạo luật cấp tiến, tự do hay sẽ tiếp tay cho tội ác và sự suy đồi về đạo đức? Trẻ được phá thai hoặc chuyển giới mà không cần thông báo cho phụ huynh Ngày 22/9 vừa qua, Thống đốc bang California, ông Gavin Newsom đã ban hành hai đạo luật cho phép trẻ vị thành niên có thể thực hiện một số thủ tục y tế như phẫu thuật chuyển đổi giới tính và phá thai mà không cần thông báo với phụ huynh. Một trong hai điều luật là AB-1184, trong đó cấm các công ty bảo hiểm sức khỏe yêu cầu có sự ủy quyền của cha mẹ, trước khi những đứa trẻ bắt đầu làm thủ tục cho các dịch vụ y tế.
Trong bối cảnh chính phủ Afghanistan sụp đổ, người Mỹ và những người Afghanistan làm việc cho Hoa Kỳ buộc phải sơ tán, người ta không khỏi băn khoăn rằng: Liệu điều tương tự có thể xảy ra ở những quốc gia mà Mỹ đang bảo trợ? Và có tác động như thế nào đối với Đài Loan và các đồng minh khác của Mỹ ở khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương?
Gần đây, dư luận dậy sóng trước tuyên bố của một vị giáo sư rằng học phí cấp đại học nên được coi là rào cản kỹ thuật cho đầu vào. Tư tưởng học phí giống như một khoản đầu tư [ở một số ngành nghề] vốn là tư tưởng được chấp thuận ở các nước có nền giáo dục tiến bộ, nhưng áp dụng tại Việt Nam thì dường như chưa hợp lý lắm. Tăng, giảm hay miễn phí giáo dục? Phát biểu tại diễn đàn Quốc hội sáng 25/7 vừa qua, GS Lê Quân (đại biểu Cà Mau) nói: “Chúng ta cũng phải đảm bảo rằng học phí cũng là một rào cản kỹ thuật để tránh việc học sinh lao vào học đại học và trở thành "học đại"", phải coi học phí đối với người học là nguồn đầu tư, thông lệ quốc tế học phí bao giờ cũng bằng gần hai năm tiền lương sau khi tốt nghiệp.
Liệu các cuộc tấn công mạng do Bắc Kinh hậu thuẫn gần đây nhắm vào Mỹ có dẫn đến chiến tranh thật? Đây là câu hỏi mà nhà kinh tế học người Mỹ David P. Goldman đã đặt ra gần đây. Một câu hỏi quan trọng, hiện hữu và rất khó trả lời. Tuy nhiên, vào tháng trước, Tổng thống Joe Biden đã cảnh báo rằng các cuộc tấn công mạng gần đây, bao gồm việc tấn công mạng các cơ quan chính phủ và cơ sở hạ tầng của Hoa Kỳ, rất có thể dẫn đến một “cuộc chiến nổ súng”. Ông Biden tiếp tục: “Tôi nghĩ có nhiều khả năng chúng ta sẽ kết thúc — à, nếu chúng ta có kết cục là một cuộc chiến, một cuộc chiến tranh thực sự với một cường quốc, thì đó sẽ là hậu quả của một tấn công mạng với hậu quả rất lớn”, "cường quốc" đó, tất nhiên, là Trung Quốc. Như ông Goldman lưu ý: "Nận xét của ông Biden được đưa ra trong một văn bản do văn phòng báo chí Tòa Bạch Ốc lưu hành", chúng không phải là sản phẩm của “loạn ngôn tự phát”. Không, họ đã cố tình.
Bệnh dịch lây lan trên toàn quốc là một mối đe dọa tiềm tàng đối với ĐCSTQ. Hiện tại, Delta đang điều khiển nhiều xã hội trên khắp thế giới, nhưng Trung Quốc dường như là nước duy nhất mà biến thể này có thể kết thúc nhiệm kỳ của nhóm cầm quyền. COVID-19 đang tàn phá Trung Quốc Biến thể Delta đang lan nhanh trên khắp đại lục và Bắc Kinh không có giải pháp nào mới ngoài các biện pháp vũ lực tàn bạo, độc tài toàn trị — và đổ lỗi cho người nước ngoài. Hàng triệu người dân Trung Quốc hiện đang bị phong tỏa. Các ca nhiễm gần đây tạo thành đợt bùng phát coronavirus trên diện rộng, thậm chí còn rộng hơn so với đợt bùng phát vào năm ngoái. Đợt bùng phát mới này đã nhanh chóng vượt ra ngoài tầm kiểm soát của các nhà chức trách và phá vỡ kế hoạch tuyên truyền cốt lõi của Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ).
Và nay nước Mỹ đang dần tiến vào một xã hội tự do cực tả, nơi xấu đã trở thành tốt và tốt đã trở thành xấu. Những điều tưởng chừng vô lý thì nay là hiện thực, ví như người nhập cư bất hợp pháp được ra vào tự do trên đất Mỹ, và được hưởng quyền “ưu đãi” hơn cả một công dân Mỹ “chính cống”... Khi những bậc lão thành vừa nhâm nhi cà phê vừa hồi tưởng lại quãng thời gian yên bình cách đây hơn nửa kỷ bằng câu mở đầu “muôn thuở”: “Hồi ấy, bố/mẹ ….”, thì bạn đừng than vãn: “Biết rồi, khổ lắm nói mãi”. Bởi nếu có cỗ máy thời gian cho phép bạn quay trở lại thời điểm cách nay hơn nửa thế kỷ, bạn có gật đầu không? Hơn nửa thế kỷ trước, sẽ không có Internet, không có smartphone, điện thì chập chờn và tất nhiên nếu nhà nào sở hữu một cái tivi đen trắng thì trở thành trung tâm "chiếu phim" cho cả cộng đồng.
Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã dựa vào hàng loạt lời nói dối về kinh tế để làm lung lay nhận thức của nhiều người về tình hình hiện tại. Trong bài viết này, chúng tôi xem xét một số lời nói dối lớn nhất và đưa ra bức tranh thực sự đằng sau những lời nói dối đó.
Trong 4 năm nhiệm kỳ của Tổng thống Trump, Big Media đã chế tạo ra bao nhiêu lời dối trá để bủa vây ông? Đã có bao nhiêu thông tin bị lật tẩy giúp công chúng được giải khai sự thật? Mời quý độc giả cùng NTD Việt Nam điểm lại 8 lời dối trá nổi bật nhất về ông Trump của Big Media, trong lúc chờ đợi các thông tin cập nhật từ các cuộc thanh tra kết quả bầu cử tại các tiểu bang Arizona và Georgia. Trong suốt 4 năm dẫn dắt nước Mỹ, cựu Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đã đạt được rất nhiều thành tựu. Trong nước, ông Trump không chỉ lấp đầy nền sản xuất rỗng sau nhiều thập kỷ hoang phế, mang lại việc làm và sức tăng trưởng bền hơn cho nền kinh tế, ông còn khôi phục các giá trị truyền thống đang bị bào mòn, xâm lấn triệt để bởi tư tưởng cấp tiến như bảo vệ thai nhi.
Bảo Trợ